Tìm hiểu nguyên nhân hình thành lũ quét, những thiệt hại và biện pháp phòng tránh - Pdf 27

I. Đặt vấn đề
Lũ quét xảy ra ở hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt ở các lưu vực
sông nằm
trong vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa và bão.
Những nơi thường bị lũ quét nhiều nhất là: miền Nam nước Pháp, Bắc Ý,
sườn núi Andes, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan, Việt Nam, Nepan,
Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, lưu vực sông quanh vùng núi San – Gabriel
(bang Califonia – Mỹ), Chilê, Peru, Colombia…. Lũ lụt, thiên tai nói chung
và lũ quét nói riêng ở các nước có khí hậu gió mùa và xoáy thuận nhiệt đới
châu Á ngày càng gia tăng cả về tần suất và cường độ.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, hiện tượng lũ lớn, lũ bất ngờ,
cường độ lên nhanh, biên độ lũ cao có sức tàn phá lớn thường xảy ra ở các
lưu vực nhỏ và vừa ở miền núi được gọi là lũ quét. Có thể thấy hầu như năm
nào cũng xảy ra hàng chục trận lũ quét ở các vùng núi nước ta. Lũ quét xuất
hiện ngày càng nhiều, những trận lũ quét dồn dập và có sức tàn phá lớn.
I. Nội dung
Page 1 of 40
I.1.Khái niệm cơ bản về lũ quét
I.1.1. Định nghĩa lũ quét
Định nghĩa: Lũ quét thường là những trận lũ lớn, xảy ra bất ngờ, tồn tại
trong một thời gian ngắn (lên nhanh, xuống nhanh), dòng chảy xiết có hàm
lượng chất rắn cao và có sức tàn phá lớn.
Hình 1: Lũ quét tại các tỉnh phía Bắc năm 2008
Lũ quét là hiện tượng tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:
Mưa với cường suất lớn trên địa hình đặc biệt; Nơi có độ dốc lưu vực trên
Page 2 of 40
20% - 30%; Nhất là nơi có độ che phủ của thực vật thưa do lớp phủ thực vật
bị tàn phá mạnh, độ ổn định của lớp đất mặt lưu vực kém, tạo điều kiện tập
trung hình thành dòng chảy dồn vào các sông suối thuận lợi, làm cho lượng
nước tích tụ ngày càng nhanh và tạo ra thế năng rất lớn.
Sự xuất hiện của lũ quét thường chỉ trong vài ba giờ sau khi có mưa với

 Lũ quét thường xuất hiện vào đầu mùa mưa.
Page 4 of 40
I.1.4. Các dạng lũ quét
Lũ quét là loại hình thiên tai xảy ra từ lâu trên thế giới. Dựa vào hình
thức, quy mô phát triển và các vật chất mang theo trong dòng chảy lũ mà lũ
quét được phân ra các lọai chính sau:
• Lũ quét sườn dốc (Sweeping flood, flash flood) : mưa lớn đột ngột
xuất hiện trên lưu vực có sườn dốc cao, độ dốc lớn và hình dạng thích hợp
cho mạng sông suối tập trung nước nhanh. Lũ xảy ra trong thời gian ngắn
(thường vào đêm và sáng), có tốc độ lớn, quét đi mọi chướng ngại vật trên
đường nó đi qua.
• Lũ bùn đá (Mudflow) : lũ có mang nhiều bùn, đá trong dòng lũ. Hầu
hết những dòng bùn đá thường bắt nguồn từ sự trượt lở đất gây ra bởi nhiều
nhân tố như nước mưa, động đất, xói mòn, trượt ngầm, nước ngầm, những
mảnh vụn (đất, đá) do trượt đất cuốn đi hoà với nước sông, suối trở thành
dòng bùn.
• Lũ nghẽn dòng (Debris flood) : Lũ mang nhiều rác, cành cây, đất đá,
cuội sỏi.
• Sự cố hồ chứa nước nhân tạo : Khi đập của hồ chứa nước bị vỡ, sóng
lũ sẽ gây ra lũ quét tương tự như lũ quét nghẽn dòng.
Page 5 of 40
Các dạng lũ quét thường gây thiệt hại ở nước ta là lũ quét sườn dốc, lũ
bùn đá và lũ nghẽn dòng.
I.2.Nguyên nhân hình thành lũ quét
I.2.1. Những điều kiện thuận lợi cho việc xuất hiện lũ quét ở Việt Nam
- Lưu vực là điều kiện đủ để hình thành dòng chảy lũ nhưng lưu vực
thường chịu tác động của con người như việc khai thác gỗ củi, đốt, phá rừng
làm nương rẫy, khai thác khoáng sản vô tổ chức dẫn đến bề mặt lưu vực bị
rửa trôi mạnh mẽ, tập trung dòng chảy nhanh.
- Đặc điểm địa hình chia cắt, các dẫy núi cao thường có hướng Tây Bắc

Page 8 of 40
Lũ quét
Mưa
Biến đổi
khí hậu và
các hiện
tượng khí
hậu cực
đoan
Địa hình
Mạng lưới
sông suối
Rừng và
thảm phủ
thực vật
Tác động
của con
người
2.2.3.1. Mưa
Trong cùng một lưu vực hoặc một miền, vùng núi thường có lượng mưa
lớn hơn vùng đồng bằng, do đặc điểm địa hình có sườn núi chắn gió và các
thung lũng có tác dụng hút luồng không khí ẩm từ biển vào. Các tâm mưa
lớn của nước ta hầu hết đều tập trung ở các vùng núi có điều kiện địa hình
như vậy.

Mưa là nhân tố quyết định gây ra lũ quét, thường tập trung trong vài giờ
với cường độ rất lớn trên diện tích hẹp từ vài chục đến vài trăm km2. Điều
đó giải thích lý do tại sao nhiều khi lũ quét xảy ra trên một số khu vực lại
không đồng bộ với lũ trên sông lớn.
Mưa gây ra lũ quét thường tập trung với cường độ lớn hiếm thấy trong

không khí lạnh mạnh kết hợp với hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới, tiếp sau
đó từ ngày 5 tháng 11 đến 6 tháng 11 năm 1999 lại bị ảnh hưởng trực tiếp
của áp thấp nhiệt đới đã gây ra mưa to đến rất to trên diện rộng. Đặc biệt ở
một số địa phương có cường suất rất lớn như:
+ Tỉnh Quảng Trị trong 5 ngày có lượng mưa trung bình 800 – 1.000
mm, riêng Thạch Hãn có lượng mưa gần 1.500 mm.
+ Tỉnh Thừa Thiên – Huế trong 7 ngày (từ 1/11 đến 6/11/1999) nhiều nơi
mưa trên 1.000 mm, một số nơi có lượng mưa trên 2.000 mm, đặc biệt tại A
Lưới mưa 2.271 mm, Huế mưa 2.288 mm. Lượng mưa trong 24h (từ 7h
ngày 2 đến 7h ngày 3/11/1999) đo được là 1.384 mm.
+ Thành phố Đà Nẵng trong 5 ngày mưa (từ 1/11 đến 5/11/1999) có
lượng mưa là trên dưới 1.000 mm.
Page 11 of 40
+ Tỉnh Quảng Nam trong 5 ngày mưa có lượng mưa đo được là 1.000
mm; riêng Hội An là 1.183 mm, Ái Nghĩa là 1.881 mm.
2.2.3.3. Địa hình
Địa hình vùng núi Việt nam nói chung rất dốc, do đó độ dốc lòng sông
lớn, đó là một trong những điều kiện thuận lợi để phát sinh lũ quét.
Ở những nơi có địa hình núi cao thường là nơi có lượng mưa lớn và phân
hoá rất mạnh. Các lưu vực đã xảy ra lũ quét thường ở nơi có dạng đường
cong lõm, địa hình bị chia cắt dữ dội, sườn núi rất dốc (>30%). Độ dốc lòng
sông ở phần đầu nguồn rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi hình thành lũ quét.
Mặt cắt dọc sông nhiều nơi có điểm gãy mà sau điểm này là vùng thường bị
lũ quét ác liệt. Sườn núi dốc chuyển đột ngột sang các mặt bằng bồn địa là
đặc trưng của địa hình miền Trung.
Các lưu vực sinh lũ quét thường nhỏ (diện tích <500 km2), sông suối bắt
nguồn từ các đỉnh núi cao (khoảng 1000 - 2000m). Lưu vực có hình rẻ quạt
hoặc tròn, xung quanh có núi cao bao bọc, có hướng thuận lợi đón gió ẩm
hình thành những tâm mưa. Sườn dốc được phủ bởi lớp đất đá có độ liên kết
Page 12 of 40

Page 15 of 40
chảy ngầm (chậm lũ), hạn chế sạt lở.v.v và làm giảm tác hại của lũ quét;
thậm chí có trường hợp không để xảy ra lũ quét. Ngược lại, nếu khai thác
rừng một cách bừa bãi, nguy hại hơn là để cháy rừng, dẫn đến thảm họa lũ
và lũ quét.
2.2.3.6. Tác động của con người
Hoạt động dân sinh kinh tế có ảnh hưởng rõ rệt đối với việc hình thành lũ
quét, có những trường hợp có ảnh hưởng quyết định đối với việc hình thành
lũ quét. Cùng một lượng và cường độ mưa, nếu lưu vực được bảo vệ rừng
tốt có thể không gây ra lũ quét; ngược lại, nếu rừng bị phá, sông suối tiêu
thoát kém, là điều kiện làm tăng lũ quét.
Hoạt động dân sinh kinh tế góp phần vào việc gây ra lũ quét chủ yếu
do các loại sau:
a. Phát triển dân số:
- Dân số càng tăng thì các hoạt động kinh tế, xã hội cũng tăng theo dẫn
đến việc làm biến đổi khí hậu, thời tiết và nhiệt độ trái đất tăng lên làm cho
các hiện tượng thời tiết nguy hiểm xảy ra với cường độ thường xuyên hơn.
Page 16 of 40
- Sự gia tăng dân số dẫn đến các vùng dân cư được mở rộng, dẫn đến
nhiều vùng đất bị nhựa hoá, bê tông hoá, làm cho lượng nước ngấm xuống
đất bị giảm đi, dòng chảy ngầm hạn chế, dòng chảy mặt tăng lên, nhiều hồ
ao bị lấp, nhiều đoạn sông bị co thắt đã gây ra hiện tượng chậm lũ và tiêu lũ
kém.
b. Phát triển nông – công nghiệp:
- Việc đầu tư phát triển công nghiệp đã chiếm các khu đất rộng lớn làm
các khu vực này bị nhựa hóa, bêtông hóa, có nơi làm tắc nghẽn dòng thoát
lũ.
- Đặc biệt là ở các khu khai thác mỏ, lượng đất san ủi lớn đã làm thay
đổi môi trường. Chẳng hạn như khu công nghiệp Tuyên Quang tại 2 xã
Xuân Giao và Tăng Long lưu vực Ngòi Thia, sông Thao, trong giai đoạn thi

này vỡ, gây ra sóng lũ quét làm trôi 22 nhà, thiệt hại tài sản của 38 nhà khác,
chết 22 người.
d. Chặt phá rừng và cháy rừng

Ở Việt Nam cháy rừng là hiện tượng thường xuyên xảy ra, nhưng về
mức độ nhiều năm không thể thống kê được đầy đủ. Trong 36 năm qua, từ
năm 1963 đến năm 1998 cả nước đã xảy ra 5.492 vụ cháy rừng, thiêu huỷ
630.059 ha rừng kinh tế bao gồm rừng trồng và rừng tự nhiên, chưa kể hàng
chục vạn ha đồng cỏ, cây bụi lúp xúp.
Cháy rừng đã gây ra nhiều tác động suy thoái môi trường, trong đó tác
động phá vỡ cấu tượng đất, do mất lớp thảm mục nên đã làm tăng độ chặt
của lớp đất mặt và dẫn đến làm giảm khả năng thấm nước của đất, gây xói
mòn, rửa trôi, làm bạc màu đất, làm mất khả năng giữ nước, điều tiết nước,
Page 19 of 40
gây ra lũ lụt. Mặt khác, làm tăng nhiệt độ mặt đất dẫn đến hiện tượng sa mạc
hoá, gây nên lũ quét, lũ bùn đá.
e. Khai thác lưu vực
Quá trình khai thác lưu vực làm thay đổi đặc tính, cấu trúc đất, lớp phủ
thực vật trên đó bao gồm cả việc làm thay đổi địa hình, địa mạo đều có ảnh
hưởng tới sự hình thành lũ quét. Khai thác lưu vực là cách nhìn tổng quát
mọi hình thức hoạt động của con người trên lưu vực, có thể khái quát thành
2 nhóm:
- Nhóm khai thác phổ biến tức là khai thác trên diện rộng, làm biến đổi
lớp phủ thực vật và lớp đất bề mặt thường diễn ra ở cả khu vực sinh lũ và
chịu lũ như việc khai thác gỗ, củi, phá rừng, đốt nương làm rẫy v v.
- Nhóm khai thác cục bộ bao gồm các hoạt động khai thác trong từng
khu vực của lưu vực, địa phương gây biến đổi sâu sắc điều kiện mặt đệm,
địa hình, tầng đất mặt, lòng dẫn, làm thay đổi đặc tính thuỷ lực dòng nước,
gồm các hoạt động như khai mỏ, khai thác tài nguyên, khoáng sản, đào
vàng, xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường xá, đập ngăn nước, các công trình

- Thượng nguồn sông Sre – Poc thuộc tỉnh Đaklak.
• Miền Đông Nam Bộ: thượng nguồn sông La Ngà, sông Bé thuộc tỉnh
Đồng Nai.
I.3.Tai biến đi cùng lũ quét
Thực tế điều tra cho thấy, ở khu vực đồi núi lũ quét- lũ bùn đá thường là
dạng tai biến đồng hành với nứt - sụt đất, trượt lở đất, xói mòn đất nên
những thiệt hại gia tăng gấp bội và phát triển trên diện rộng ở nhiều tỉnh.
Page 22 of 40
Hình 4: Lũ quét tạo nên nhg vết nứt ở xã Mường Vi (Bát Xát - Lào Cai
8/2010)
Page 23 of 40
Hình 5: Đường sạt lở sau lũ quét ở Lào Cai (9/2010)
2.4. Thiệt hại do lũ quét gây ra
Page 24 of 40
Hình 6: Hậu quả sau cơn lũ quét tại xã Cat Thịng - huyện Văn Chấn –
tỉnh Yên Bái (9/2005)
2.4.1. Thiệt hại trực tiếp
Theo “Báo cáo tình hình lũ quét, sạt lở đất và công tác chỉ đạo phòng
tránh các năm vừa qua, lũ quét, lũ ống, lũ bùn đá, sạt lở đất,… xảy ra liên
tiếp, bất ngờ, sức tàn phá lớn, gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản,
Page 25 of 40

Trích đoạn Các biện pháp công trình Các biện pháp phi công trình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status