Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục liên hệ thực tiển - Pdf 10

Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
LỜI NÓI ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế chưa bao giờ rõ nét như trong thời gian 2008-2011. Trong thời gian
khủng hoảng kinh tế, có thể dễ thấy những tình trạng như là sản xuất trì trệ, hàng hóa tồn
đọng, doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp cao, kéo theo tình trạng lạm phát… Và do xu
hướng toàn cầu hóa, mọi nước đều theo luật chơi toàn cầu, khủng hoảng kinh tế vượt xa
khỏi phạm vi quốc gia, khu vực mà ảnh hưởng tới toàn thế giới.
Nguyên nhân do đâu? Từ khi nào? Ảnh hưởng tiêu cực to lớn của nó đến những mặt
nào? Phải làm gì để hạn chế hậu quả? Khi trả lời được những câu hỏi đó, mỗi quốc gia
phải tìm cho mình hướng đi đúng đắn, hợp với thời đại để vừa đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng kinh tế, vừa đưa đất nước đi lên.
Hiểu được tầm quan trọng của nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế, chúng em xin trình
bày chủ đề “Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp
khắc phục, liên hệ thực tiễn”. Sau một thời gian tìm tòi và thảo luận, chúng em đã hoàn
thành bài tiểu luận, song với kiến thức và thời gian có hạn, bài tiểu luận còn nhiều thiếu
sót. Rất mong sự nhận xét và đóng góp của thầy.
1
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN
các ngành có lợi nhuận cao. Kết quả, đến một lúc nào đó có sự mất cân đối giữa các
ngành sản xuất, cung – cầu hàng hóa bị rối loạn, điều này phát triển đến một mức nào đó
thì khủng hoảng kinh tế nổ ra.
- Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức
mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa. Để có được lợi nhuận siêu
ngạch, các nhà tư bản ra sức mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật, tăng sức cạnh tranh…
Kết quả là của cải sản xuất ngày càng nhiều, nhưng sức mua nói chung của người tiêu
dung không theo kịp dẫn đến hàng hóa “ thừa” trên thị trường.
3
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
- Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê. Giai cấp công
nhân là người trực tiếp làm ra của cải vật chất , nhưng do người tư bản là người nắm giữ
tư liệu sản xuất nên sản phẩm làm ra hầu hết thuộc về nhà tư bản. Sự tách rời tư liệu sản
xuất và sức lao động, sự thống trị một cách tuyệt đối của quy luật giá trị thặng dư làm cho
khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản trở thành hiện thực.
Xét về khía cạnh kinh tế toàn cầu, có năm nhóm nguyên nhân có thể gây bùng
phát khủng hoảng kinh tế như sau:
1 .Gia t ng lãi su tă ấ
2 .Gia tăng bất ổn
3 .Tác động thị trường cổ phiếu đối với tài sản
4 .Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng
5 .Mất cân bằng tài khóa của chính phủ
1) Gia tăng lãi suất
Những tổ chức và cá nhân có các dự án đầu tư rủi ro cao nhất chính là những người sẵn
sàng trả lãi suất cao nhất. Nếu lãi suất trên thị trường được nâng lên một cách đáng kể do nhu
cầu tín dụng gia tăng hoặc là do sụt giảm về cung tiền, thì những khách hàng có rủi ro tín dụng
thấp (good credit risk) khó có khả năng mong muốn được vay, trong khi những khách hàng khác
có độ rủi ro tín dụng cao (bad credit risk) lại vẫn sẵn sàng đi vay. Do có hệ quả là gia tăng khả
năng hiện tượng lựa chọn ngược, những đơn vị cho vay sẽ không còn muốn cho vay vốn nữa. Sự

4) Các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng
Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính bởi vì họ được đặt đúng
trong một vị trí để dính líu vào những hoạt động sản xuất thông tin mà nó tạo điều kiện thuận lợi
cho đầu tư hiệu quả trong nền kinh tế. Trạng thái bảng cân đối kế toán của ngân hàng có một tác
động quan trọng đối với hoạt động cho vay ngân hàng. Nếu các ngân hàng hứng chịu sự suy
thoái trong bảng cân đối kế toán và vì thế bị giảm sút mạnh về vốn của mình, họ sẽ có ít nguồn
lực hơn để cho vay, và hoạt động cho vay ngân hàng vì thế sẽ giảm. Việc giảm sút cho vay tiếp
theo dẫn tới suy giảm chi tiêu đầu tư, làm chậm lại hoạt động kinh tế.
5
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
Nếu suy thoái trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng là nghiêm trọng, các ngân hàng
sẽ bắt đầu thất bại, và sự sợ hãi có thể lan rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, làm cho
thậm chí các ngân hàng lớn cũng rơi tương tự
5) Mất cân bằng tài khóa của chính phủ
Tại các nước mới nổi (Argentina, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ), mất cân bằng tài khóa của chính
phủ có thể gây ra những lo ngại vỡ nợ chính phủ. Kết quả là, chính phủ có thể gặp rắc rối trong
viêc thuyết phục người dân mua trái phiếu của mình và vì thế họ có thể buộc các ngân hàng mua
chúng. Nếu khoản nợ khi đó sụt giảm về giá cả, là hiện tượng sẽ xảy ra khi khả năng vỡ nợ của
chính phủ là có thể-điều này có thể chủ yếu làm suy yếu bảng cân đối kế toán của ngân hàng và
dẫn tới sự co lại về cho vay vì những lý do nói trên. Lo lắng về vỡ nợ chính phủ cũng có thể làm
bùng phát một khủng hoảng ngoại hối trong đó giá trị của đồng nội tệ giảm đi nhanh chóng bởi
vì các nhà đầu tư rút tiền của mình ra khỏi đất nước. Sự suy giảm trong giá trị đồng nội tệ sau đó
sẽ dẫn tới sự hủy hoại bảng cân đối kế toán của các công ty có lượng tiền lớn được định giá
bằng ngoại tệ. Vấn đề bảng cân đối kế toán dẫn tới một sự tăng lên của hiện tượng lựa chọn
ngược và hiện tượng rủi ro đạo đức, sụt giảm cho vay, và suy thoái hoạt động kinh tế.
II. HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG THỜI KÌ CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN VÀ CÁC VÍ DỤ THỰC TẾ:
1) Phá hoại lực lượng sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông .
- Phá ho i l c l ng s n xu t: phá h y các t li u s n xu t, hàng hóa tiêu dùng.ạ ự ượ ả ấ ủ ư ệ ả ấ

n c thu c đ a ho c rút v n đ u t các thu c đ a.ướ ộ ị ặ ố ầ ư ở ộ ị
• i v i các n c có ít thu c đ a nh c, Nh t thì tìm cách phát xít hóa b máy chínhĐố ớ ướ ộ ị ư Đứ ậ ộ
quy n, t ng c ng ch y đua v trang gây l i Chi n tranh th gi i ( c n mề ă ườ ạ ũ ạ ế ế ớ ở Đứ ă
1933, Hít-le lên c m quy n thi t l p ch đ phát xít. Nh t n m 1936 chính quy nầ ề ế ậ ế ộ Ở ậ ă ề
phát xít c ng đ c thi t l p). S ra đ i c a tr c phát xít Ber-lin - Rôma-Tôkyô đã làmũ ượ ế ậ ự ờ ủ ụ
cho mâu thu n c a ch ngh a đ qu c ngày càng gay g t làm bùng n nguy c c aẫ ủ ủ ĩ ế ố ắ ổ ơ ủ
cu c đ i chi n th gi i th hai.ộ ạ ế ế ớ ứ
7
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
- Làm r i l an l nh v c l u thông: hàng hóa d th a, ph i phá h y trong khi nhu c u ố ọ ĩ ự ư ư ừ ả ủ ầ
không đ c đáp ng, l m phát .ượ ứ ạ
Cùng với viêc phá huỷ như vậy, cuộc sống của người lao động cũng ngày càng khó khăn . Sau
7 năm tính từ cuộc khủng hoảng 1929-1933 ,mà tỉ lệ thất nghiệp của Mĩ vẫn ở mức 14,6% , mấy
năm kế tiếp tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức rất cao.
Mặt khác khủng hoảng kinh tế đã gây ra nạn lạm phát. Khủng hoảng 1974-1975 và khủng
hoảng 1980- 1982 làm cho khu vực Tây Âu phải đối đầu với tỉ lệ lạm phát ở mức 2 con số . Tỉ lệ
lạm phát ở Tây Đức tuy tháp nhất nhưng cũng là từ 2,6 ( năm 1960) lên 6,5% 9 (từ năm 1974-
1975 ) Pháp từ 4,1 lên 12,7 , Anh từ 4 lên 20,1 ,Italia 3,9 lên 18 . ( Tài liệu sách tham khảo “
kinh tế các nước công nghiệp chủ yếu sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 ).
2) y nhanh quá trình tích t và t p trung TB là i u ki n d n t i c quy nĐẩ ụ ậ đ ề ệ để ẫ ớ độ ề .
Trong thời kỳ khủng hỏang, cùng với sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự lớn mạnh
của các công ty khổng lồ . Việc phá sản và việc sát nhập của các liên doanh, tập đoàn , công ty
đã làm cho qúa trình tập trung tư bản ngày càng cao .
Truớc khủng hoảng 29-33 , Mĩ chỉ có 49 xí nghiệp có quy mô từ một vạn người trở lên thì sau
khủng hoảng con số này lên tới 343. Cũng ở Mĩ , đầu thế kỉ 20 chỉ có một công ty có số vốn 1 tỷ
USD thì đến đầu 1950 là 2 côngty ; năm 1974 có 24 trong số 49 công ty quốc tế có số vốn 5tỷ .
Lợi nhuận của 500 tổ chức siêu độc quyền của Mĩ năm 1972 là 27,8 tỷ USD , năm 1973 là 38,7
tỷ USD còn năm 1974 là năm khủng hoảng thì đã lên tới 43,6 tỷ USD . Tỷ suất lợi nhuận của 12
công ty “toàn cầu” của Mĩ tăng từ 11% năm 1970 sau khủng hoảng là 41% ( năm 1975) ( Sách

Sự thay đổi về mứ độ, thành phần thuế cũng như điều chỉnh những hoạt động chi tiêu của
Chính phủ sẽ phần nào ảnh hưởng đến các biến số của nền kinh tế: tổng cầu và mức độ hoạt
động kinh tế, sự phân bổ nguồn lực sản xuất kinh doanh, phân phối thu nhập
Tiếp tục các chính sách về chặt chẽ chi tiêu Chính phủ và đầu tư khu vực công nhằm tránh
xảy ra nguy cơ thâm hụt ngân sách. Việc thắt chặt chi tiêu Chính phủ và chuyển các khoản đầu
tư công sang cho khu vực tư nhân sẽ góp phần vào việc giảm thuế cho khu vực doanh nghiệp và
9
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
thuế thu nhập cá nhân. Các doanh nghiệp sẽ có thêm được nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh và thị trường. Đẩy mạnh đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng, hạ tầng kỹ thuật lớn, quan
trọng mà trong các thời điểm trước đây chưa có điều kiện đầu tư thì nay đầu tư để kích thích
kinh tế phát triển.
Có chính sách điều chỉnh miễn giảm các thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, thực hiện chính sách thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt một cách phù
hợp trong bối cảnh lạm phát cao và suy thoái kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện
thúc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong những tháng cuối năm.
Thực hiện “ gói kích cầu” để có thể đạt mục tiêu: giải quyết được vấn đề trước mắt là chống
suy giảm, ngăn ngừa khả năng lạm phát – tác động trái chiều của giải pháp chống suy giảm, và
lâu dài là lấy lại đà tăng trưởng cao. Việc thực hiện gói kích thích kinh tế là những giải pháp
cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội
với những biện pháp chủ yếu như: giảm thuế, giãn thuế và hoàn thuế; hỗ trợ lãi suất cho các
doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng; hạ lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt
buộc; tăng đầu tư công cho kết cấu hạ tầng từ nguồn trái phiếu chính phủ và hỗ trợ trực tiếp cho
người dân thông qua các chính sách an sinh xã hội.
Tùy vào thực trạng kinh tế của mỗi nước mà Chính phủ sẽ thực hiện các gói kích thích kinh
tế khác nhau. Đối với một số nước như Mỹ và EU thì gói kích cầu được hiểu là gói kích thích
kinh tế sử dụng các biện pháp tài khóa bao gồm tăng chi tiêu của Chính phủ và cắt giảm thuế .
Thông thường khi nền kinh tế gặp khó khăn, thì các nước này thường sử dụng công cụ kinh tế là
các chính sách tiền tệ như điều chỉnh lãi suất cho vay, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở và chỉ

rằng, việc các chính phủ cất giữ lượng dự trữ ngoại tệ lớn không có lợi cho sự vận hành của hệ
thống tài chính và nền kinh tế toàn cầu. Việc này chỉ giúp hạn chế, chứ không bảo đảm để một
quốc gia có thể đứng vững trong khủng hoảng, khi thương mại quốc tế suy giảm, giá cả hàng
nhập khẩu tăng mạnh và nguồn vốn đầu tư bị rút về. Thay vào đó, các nước cần tự bảo hiểm đề
phòng khủng hoảng bằng cách xây dựng khuôn khổ chính sách tài chính - kinh tế lành mạnh.
Nhưng nếu chỉ có chính sách tiền tệ, lạm phát khó có thể được kiểm soát về dài hạn. Vì thế,
cần có các chính sách hoạch định kết hợp hài hòa nhịp nhàng hai chính sách tiền tệ và tài khóa
nhằm giải quyết các mục tiêu trước mắt, vừa kiểm soát được lạm phát về lâu dài, tránh mầm
mống khủng hoảng kinh tế.
11
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
3) Các bi n pháp khác:ệ
Cải cách và tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng, phê
duyệt dự án và về giải ngân để tạo điều kiện các dự án, chương trình được triển khai nhanh, đặc
biệt là đối với các công ty xây dựng. Đối kinh doanh bất động sản thì bên cạnh đẩy mạnh và
khuyến khích đầu tư và xây dựng nhà giá rẻ cho người nghèo, các đối tượng chính sách, nhà ở
cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho sinh viên, học sinh,
cần hạn chế và đánh thuế cao vào các trường hợp đầu cơ bất động sản.
Theo dõi chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy
mạnh công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài
Tăng cường công tác thông tin, quan hệ công chúng. Bám sát thường xuyên, cập nhật thông
tin trong và ngoài nước để có đánh giá đúng diễn biến tình hình; qua đó có được phản ứng chính
sách thích hợp và kịp thời nhất
Thực hiện một số giải pháp hỗ trợ và kích thích sản xuất hoặc đưa tiền ra để đầu tư vào
những dự án hạ tầng lớn
Nhìn nhận lại sự kết hợp hài hoà giữa thị trường tự do và quản lý của nhà nước.
Một biện pháp khác rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của toàn thế giới là sự phối
hợp giữa các quốc gia nhằm tránh nỗi lo ngại tiến trình ngăn chặn bất lợi cạnh tranh, nâng cao
vai trò của các liên kết kinh tế, các tổ chức kinh tế thế giới nhằm khác phục hậu quả nghiêm

thoái kinh tế năm 2001, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân
hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo đó, lãi suất cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giảm
xuống thấp. Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sách đồng đô la rẻ) đã kích thích người dân vay
tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm.
Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng để trả vốn lẫn lãi trong
thời gian dài với lãi suất thả nổi. Do đó, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tình trạng của
thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay thì người dân đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà
lên cao. Khi lãi suất cao thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp.
13
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
Hơn nữa, vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, những thiết chế mới dựng lên
từ học thuyết tự do mới đã cho phép các ngân hàng cho vay tín dụng dưới chuẩn, một loại tín
dụng thế chấp rủi ro cao để các hộ gia đình mua bất động sản. Trong khi năng lực trả nợ của
khách hàng rất thấp và giá trị món tiền vay lại tùy thuộc vào thời giá của ngôi nhà định mua.
Đồng thời, nợ được chuyển giao từ người này sang người khác thông qua quá trình trái phiếu
hóa các khoản nợ này cho các nhà đầu tư. Khi các ngân hàng chạy theo lợi nhuận một cách quá
tham lam, cộng với thể chế tài chính cho phép, hàng loạt các khoản nợ đã chồng lên nợ và đã
được biến thành cổ phiếu thông qua quá trình trái phiếu hóa. Thêm vào đó là các hoạt động tín
dụng tiêu dùng rất phát triển tại Mỹ cho phép người dân có thể tiêu dùng vượt lên trước những
nguồn thu nhập đang hứa hẹn trong tương lai.
c. Sự quản lý, giám sát và điều hành của Chính phủ lỏng lẻo trong suốt thời
gian dài, đặc biệt là do chủ thuyết tự do hoá tài chính và thị trường tự do tự
điều tiết;
Chính phủ Mỹ đã “trao” quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do mà lại thiếu sự
giám sát. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã thả lỏng tín dụng cho sự bùng nổ tăng trưởng “ảo” trong
một thời gian quá dài.
Kinh tế thị trường Mỹ dựa chủ yếu trên sở hữu tư nhân, lợi nhuận là động cơ mạnh mẽ thúc
đẩy các doanh nghiệp năng động, nhưng cũng là nguyên nhân thúc đẩy các doanh nghiệp đầu
cơ, thậm chí sẵn sàng vi phạm pháp luật, vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội, phá vỡ những

Ngành sản xuất ô tô, một trong những ngành sản xuất quan trọng nhất của kinh tế Mỹ,
doanh thu giảm nghiêm trọng. Ba hãng sản xuất ô tô hàng đầu nước Mỹ là General Motor, Ford,
Chrysler đều thua lỗ nặng nề. Tháng 1/2008, Nortel Networks Corp, một trong những tập đoàn
thiết bị viễn thông lớn nhất của Mỹ, tháng 2/2008, Lyondell Chemical, một trong những nhà sản
xuất hoá chất lớn nhất nước Mỹ, đã phải nộp đơn xin bảo lãnh phá sản… Kinh tế suy thoái, tiêu
dùng suy giảm nghiêm trọng làm hàng loạt các công ty bán lẻ lớn của Mỹ như Circuit City Store
15
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
Inc, Sharper Image Corp, Steve & Barry’s LLC, Macy Inc, Ann Taylor Stores Inc,… buộc phải
phá sản hoặc xin bảo hộ phá sản. Sản xuất đình đốn, sa thải lao động làm thất nghiệp của Mỹ
tăng lên từng tháng và đạt mức cao nhất trong 25 năm qua, từ 2,59 triệu người năm 2007 lên
3,84 triệu năm 2008 và 4,61 triệu người vào tháng 2/2009.
Từ Mỹ, cuộc khủng hoảng làm chao đảo thị trường tài chính, thị trường chứng khoán,
làm phá sản nhiều ngân hàng, công ty tài chính, nhiều tập đoàn kinh tế lớn ở nhiều nước trên thế
giới, gây suy giảm nghiêm trọng các quan hệ thương mại, tài chính, đầu tư quốc tế và kinh tế thế
giới nói chung. Các Ngân hàng Royal Bank (Scotland), Kaupthing, Landsbanki, Glitnir
(Iceland), Ngân hàng Northern Bank, công ty cho vay thế chấp Brandford & Binglay (Anh), các
Ngân hàng IKB, DZ Bank, Deutsche Bank, Sachsen LB (Đức), Tập đoàn Bảo hiểm Yamato Life
Insurance Co (Nhật Bản) ….và nhiều ngân hàng khác là những nạn nhân của cuộc khủng tài
chính Mỹ, buộc phải xin trợ giúp của chính phủ hoặc bị chính phủ quốc hữu hoá.
Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho thấy, trong năm 2008, cuộc
khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã làm tổn thất 50 nghìn tỷ USD trong tổng tài sản tài chính của
thế giới, trong đó, các nước đang phát triển châu Á là chịu thiệt hại nặng nề hơn cả với tổng giá
trị bị thiệt hại là 9,6 nghìn tỷ USD, cao hơn tổng giá trị GDP trong một năm của những nước
này. Mặc dù chỉ có hơn 20 nước chính thức tuyên bố rơi vào suy thoái kinh tế, nhưng trên thực
tế hầu hết các nước trên thế giới đều bị ảnh hưởng, gặp khó khăn và suy giảm tốc độ tăng trưởng
ở các mức độ khác nhau. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2009, kinh tế thế giới
tăng trưởng chỉ còn 0,9%, tốc độ tăng trưởng của các nước OECD là -0,3% (trong đó, của Mỹ là
-0,9%, khu vực đồng EURO là – 0,6%), tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang

qua h th ng ngân hàng; gi m lãi su t, gi m t l d tr b t bu c, t ng kh n ng thanhệ ố ả ấ ả ỷ ệ ự ữ ắ ộ ă ả ă
kho n. ả
Tháng 10/2008, khi chính phủ Mỹ lần đầu thông báo sẽ bơm tiền vào các ngân hàng tại Mỹ để
cứu hệ thống tài chính, nhiều người cho rằng chính phủ có thể sẽ mất hàng trăm tỷ USD. Đối
với 309 tỷ USD mà chính phủ Mỹ bơm vào các ngân hàng và công ty bảo hiểm, chính phủ Mỹ
kiếm được 25,2 tỷ USD tương đương mức lợi suất 8,2% tính đến tháng 10/2010.
17
Nhóm 22 – LT17NT001
Đề tài: Phân tích nguyên nhân, hậu quả của khủng hoảng kinh tế và biện pháp khắc phục.Liên hệ thực tiển
23/11/2008 Bộ Tài chính Mỹ đã bỏ ra 20 tỷ từ gói 700 tỷ USD để hỗ trợ thanh khoản cho ngân
hàng Citigroup có mạng lưới dịch vụ rộng nhất thế giới này. Trước đó, Citi đã nhận 25 tỷ USD
và là một trong những nhà băng đầu tiên nhận được hỗ trợ của Chính phủ Mỹ.
Ngày 1/1/2009, hãng xe lớn nhất thế giới nhận được khoản vay khẩn cấp 4 tỷ USD đầu tiên
trong số 13,4 tỷ USD để chống đỡ với khủng hoảng.
-
Qu c h u hoá, nhà n c mua l i các kho n n x u, mua l i c ph n chi ph i và n mố ữ ướ ạ ả ợ ấ ạ ổ ầ ố ắ
quy n đi u hành; khuy n khích các ngân hàng, các t ch c tài chính, doanh nghi p mua l iề ề ế ổ ứ ệ ạ
các t ch c đ v và phá s n. Ti p theo là c c u l i các ngân hàng và h th ng tài chính trongổ ứ ổ ỡ ả ế ơ ấ ạ ệ ố
n c; T p đoàn B o hi m ti n g i liên bang M (FDIC) và C c D tr liên bang Mướ ậ ả ể ề ử ỹ ụ ự ữ ỹ
(FED) c a Hoa K đã cho ra đ i ngân qu (d i d ng các gói ti n 200 t USD, 500 tủ ỳ ờ ỹ ướ ạ ề ỷ ỷ
USD hay th m chí là 700 t USD) nh m b o lãnh cho vi c ch ng khoán hóa các kho n nậ ỷ ằ ả ệ ứ ả ợ
x u.ấ
-
C c u l i qu n tr các ngân hàng, t ng c ng h th ng giám sát b o đ m an toàn, c c uơ ấ ạ ả ị ă ườ ệ ố ả ả ơ ấ
l i các kho n vay, c t gi m nhân viên, ti t ki m chi phí, ch n ch nh l i các quy đ nh n iạ ả ắ ả ế ệ ấ ỉ ạ ị ộ
b …; ộ
- Thực hiện một số giải pháp hỗ trợ và kích thích sản xuất hoặc đưa tiền ra để đầu tư vào
những dự án hạ tầng lớn…
Và giờ đây, kinh tế Mỹ đang dần được hồi phục.
Tuy nhiên qua khủng khoảng kinh tế vừa qua đã khẳng định: kinh tế TBCN dù phát triển đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status