Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di tích lịch sử văn hóa(Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh) - Pdf 27

55Số 6 - Tháng 12 - 2013
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
V
Ă N H Ó
A
C
ộng đồng là một thuật ngữ đã và
đang được sử dụng trên nhiều lĩnh
vực khác nhau như xã hội học, văn
hóa học, nhân học, sử học, kinh tế học, chính
trị học… Ở mỗi lĩnh vực, khái niệm cộng đồng
được hiểu theo những tiêu chí, nội hàm phù
hợp. Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu,
dù ít nhiều có sự hiểu khác nhau nhưng vẫn
có thể đưa ra được những điểm chung trong
khái niệm cộng đồng. Theo tác giả Phạm Hồng
Tung (trong bài viết Cộng đồng: Khái niệm,
cách tiếp cận và phân loại trong nghiên cứu), dù
tiếp cận từ những góc độ lý thuyết khoa học
khác nhau và hướng tới sự quan tâm học thuật
với những dạng thức cụ thể không giống nhau
của cộng đồng thì cách hiểu về cộng đồng vẫn
có một số điểm thống nhất như: cộng đồng
là tập hợp của một số đông người; có bản sắc
riêng; các thành viên phải có sự gắn kết với
nhau; có ý thức cộng đồng… Theo tác giả,
cộng đồng được phân thành ba loại là cộng
đồng địa lý, cộng đồng văn hóa và cộng đồng tổ
VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG BẢO VỆ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

xuyên có những tương tác nào đó và dễ nhận
biết lẫn nhau (1). Hai tác giả Tô Duy Hợp, Lương
Hồng Quang khi nghiên cứu về cộng đồng đã
nhấn mạnh đến các yếu tố địa vực, kinh tế hay
nghề nghiệp và các yếu tố có tính văn hóa. Các
tác giả này cũng chia cộng đồng thành ba loại:
loại hình cộng đồng thuần khiết và không thuần
khiết; cộng đồng theo tính trồi (cộng đồng lãnh
thổ, cộng đồng huyết thống, cộng đồng tộc
người…) và cộng đồng lịch sử (2, tr.32). Nhưng
một số ý kiến lại cho rằng trên thực tế không
có loại cộng đồng riêng biệt nào cả mà dường
như tất các cộng đồng đều ở dạng hỗn hợp
hay là phức hợp của một vài kiểu loại khác
nhau. Chẳng hạn, làng xóm là một cộng đồng
địa vực cư trú, nhưng trong đó lại tồn tại cả
những cộng đồng khác như cộng đồng nghề
nghiệp, cộng đồng tín ngưỡng…
Trong lĩnh vực bảo vệ di tích lịch sử văn hóa,
khi đề cập tới cộng đồng, chúng tôi cho rằng
đây là tập hợp những nhóm người có chung
đặc trưng về văn hóa, đó là cùng theo/thờ
phụng một tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào đó
như Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu,
thờ Thành hoàng, thờ tổ tiên… Cộng đồng này
có thể trùng khớp với cộng đồng cư trú (làng
xã, khu phố) nhưng cũng có thể không, thậm
chí còn rộng hơn trên phạm vi cả nước, thậm
chí là ngoài nước. Các thành viên thuộc cộng
đồng này có chung một niềm tin vào các vị

những địa điểm lưu niệm về nhân vật lịch sử,
anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa
học; những công trình kiến trúc nghệ thuật
có giá trị. Di tích lịch sử văn hóa là một phận
quan trọng cấu thành di sản văn hóa, mỗi di
tích hàm chứa giá trị văn hoá - lịch sử - khoa
học nhất định, phản ánh một chặng đường lịch
sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành
và phát triển xã hội qua mỗi thời đại.
So với các bộ phận khác của di sản văn
hóa vật thể thì các di sản này có những đặc
trưng riêng: các di tích tồn tại, gắn với từng địa
phương, địa bàn cư trú, gắn với các khu dân cư,
với cộng đồng cụ thể. Xét từ góc độ sáng tạo
thì các di tích phần lớn đều do cộng đồng, góp
công sức xây dựng nên. Trong lịch sử có những
trường hợp di tích được triều đình, vua chúa,
quan lại hoặc những người có tiềm lực kinh tế
đầu tư tiền bạc, vật liệu để xây dựng như các
lăng tẩm, đền đài tại kinh thành Huế hay đình
Đình Bảng (Bắc Ninh) nhưng trong quá trình
tạo dựng các di tích đó cộng đồng vẫn đóng vai
trò quan trọng bằng sức lao động của tập thể
và sự sáng tạo của những nghệ nhân. Những
mảng chạm khắc tinh sảo, những kiểu dáng
độc đáo trong kiến trúc do người dân tạo
nên là những di sản văn hóa tiêu biểu mà ngày
nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong qúa trình tồn
57Số 6 - Tháng 12 - 2013
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

năm Quang Bảo thứ 4 (1557) có ghi: “…Thắng
tích Khám Sơn vốn có chùa, chùa hiển linh từ
xa xưa. Phàm có việc cầu, đảo đều cảm ứng…
Năm tháng qua đi, chùa cũ kỹ. Muốn sửa cũ
thành mới tất phải chờ vào bậc đại đàn, có lực
lượng lớn, phương sách lớn mới thành… trên
có Thánh Thiên tử đặc ban cấm tiền cung tiến,
Hoàng thái hậu lại lấy tiền quan cúng vào, dưới
có các thái lão, thiện nam tín nữ một vùng có
tấm lòng lành đó khởi xướng lên. Chúng dân
đổ về như nước cùng vui làm việc thiện, giúp
tài vật…”(4, tr.149). Hay văn bia “Ninh Phúc
thiền tự bi ký” tại chùa Bút Tháp dựng năm
Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) cũng nói về điều này:
“chùa Ninh Phúc được mở dựng bởi bậc thánh
đời trước nhưng qua nhiều năm đã hư hại” nên
được nhiều quan viên trong triều hưng công
cho tu sửa thêm khang trang hơn mà “chẳng
tiếc ngàn vàng sắm mua toàn gỗ tốt” đồng
thời “lại được dân làng góp sức mời thợ cất
dựng sửa sang, điện thờ nguy nga, chùa chiền
rộng rãi” (5, tr.37- 38). Ngày nay, tại các di tích
còn lưu giữ được hàng ngàn tấm bia hậu như
vậy, qua đó có thể thấy ngay từ xưa, ý thức bảo
vệ, giữ gìn các di tích đã thu hút được sự quan
tâm và tham gia một cách tự nguyện của cộng
đồng.
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ
của nhiều lĩnh vực như kinh tế, công nghệ,
khoa học, chất lượng cuộc sống của người

nước của nhân dân”. Trong những năm qua,
Nhà nước ta đã đầu tư nhiều kinh phí cho việc
bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa
nói chung, các di tích lịch sử văn hóa nói riêng.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành các
chính sách, chủ trương nhằm huy động các
Số 6 - Tháng 12 - 201358
NGHIÊN CỨU
V
Ă N H Ó
A
nguồn lực từ cộng đồng. Đây là chủ trương xã
hội hóa với tinh thần “nhà nước và nhân dân
cùng làm”, là chủ trương đúng đắn và phù hợp
với hoàn cảnh đất nước hiện nay, nhằm trả lại
cho cộng đồng những giá trị văn hóa mà họ đã
tạo nên và trao quyền làm chủ những giá trị đó
cho họ. Vì lẽ đó, cộng đồng sẽ quan tâm nhiều
hơn và luôn có ý thức bảo vệ các di tích. Như
vậy, vai trò của cộng đồng tham gia vào hoạt
động bảo vệ di tích có ý nghĩa quan trọng góp
phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Trên thực tế, sự tham gia của cộng đồng
vào việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích trong
những điều kiện cụ thể cũng đặt ra cho các nhà
quản lý một số vấn đề đáng lưu tâm. Trong bài
viết này, chúng tôi đưa ra trường hợp nghiên
cứu tỉnh Bắc Ninh.
Bắc Ninh ngày nay, một phần chủ yếu
thuộc xứ Kinh Bắc xưa, nằm gần kề kinh thành

phần tạo nên bản sắc văn hóa của vùng Kinh
Bắc. Việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị các
di tích ở Bắc Ninh trong những năm qua đã đạt
được những thành công đáng ghi nhận, trong
đó vai trò của cộng đồng được thể hiện khá rõ
nét. Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý di
tích Bắc Ninh, trên toàn tỉnh hiện có khoảng
1259 di tích gồm ba loại hình là di tích khảo cổ,
di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật.
Tính đến năm 2013 đã có 498 di tích được xếp
hạng với 194 di tích cấp quốc gia và 304 di tích
cấp tỉnh… Hai di tích là chùa Dâu và chùa Phật
Tích được xếp hạng di tích đặc biệt quan trọng
của quốc gia.
Các di tích ở nước ta có chung đặc điểm
là được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu
truyền thống như gạch, gỗ, đá… nên thường
bị tác động của môi trường, thiên nhiên làm
nhanh bị xuống cấp, hư hỏng. Do vậy các di
tích cần được theo dõi, quản lý và tiến hành
các hoạt động trùng tu, tu bổ. Hiện nay việc
tu bổ, tôn tạo di tích được thực hiện chủ yếu
bằng hai nguồn: thứ nhất thông qua sự hỗ
trợ của nhà nước, kinh phí theo chương trình
mục tiêu quốc gia, chống xuống cấp di tích;
thứ hai, huy động các nguồn lực từ cộng đồng.
Những năm qua, tỉnh Bắc Ninh đã có những
chính sách nhằm khuyến khích, thu hút và tạo
điều kiện cho các tổ chức, đoàn thể, cá nhân
tham gia vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá

liệu thống kê, năm 2010 tỉnh Bắc Ninh đã tiến
hành trùng tu, tu bổ được 21 di tích với tổng
số kinh phí huy động được từ cộng đồng lên
tới gần 5 tỷ đồng; năm 2011 huy động được
gần 15 tỷ đồng để tu bổ cho 16 di tích. Trường
hợp cụ thể như: xây dựng Tam bảo chùa Đọ
Xá (phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh),
nhà nước hỗ trợ 200 triệu đồng, huy động của
cộng đồng số tiền đạt gần 4 tỷ đồng; tu bổ tòa
tiền tế đình Đông Yên (xã Đông phong, huyện
Yên Phong), nhà nước hỗ trợ 50 triệu, người
dân đóng góp kinh phí là 1,3 tỷ đồng… Ngoài
ra còn phải kể tới một số trường hợp khác như
chùa Diên Phúc, chùa Phong xá, đình Trần Xá
(huyện Yên Phong), chùa Yên Lã (Từ Sơn), đình
Xuân Ổ (thành phố Bắc Ninh)… là các di tích
được trùng tu với số lượng kinh phí khá lớn
huy động được từ người dân địa phương cũng
như của khách thập phương*.
Vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn,
phát huy giá trị di tích có lẽ được thể hiện
điển hình nhất là trường hợp khôi phục, tôn
tạo khu di tích các vua nhà Lý ở Đình Bảng,
Từ Sơn gồm đền Đô, chùa Ứng Tâm, chùa Kim
Đài, chùa Quang Đổ Những di tích này bị thời
gian, chiến tranh làm xuống cấp, thậm chí bị
phá hủy hoàn toàn. Đền Đô - nơi thờ tám vị vua
Lý, trước khi được nhà nước ra quyết định xếp
hạng chỉ còn là bãi đất trống và một tấm bia
“Cổ Pháp điện tạo bi”, niên đại 1604, do Hoàng

số lượng lớn người dân tới để thi hành các
sinh hoạt văn hóa tâm linh đồng thời sẵn lòng
đầu tư kinh phí tiền bạc vào các hoạt động tu
bổ, tôn tạo cho di tích. Nhìn chung người đi lễ
luôn có tâm lý là cầu mong thánh thần phù hộ,
đem lại cho họ những điều tốt lành, mỗi người
đến với di tích đều mang những nguyện vọng
riêng và mong muốn gửi gắm nguyện vọng đó
đến thánh thần. Do vậy việc đóng góp kinh phí
để trùng tu di tích như là một cách thể hiện sự
tâm thành của người dân.
Các di tích thuộc loại hình khác như di tích
khảo cổ, di tích lịch sử, di tích lưu niệm danh
nhân dường như ít thu hút được sự quan tâm
của cộng đồng. Người dân đến những di tích
này ít hơn, nắm bắt được nội dung, giá trị của
di tích cũng sơ sài. Các di tích này chủ yếu được
trùng tu, tu bổ bằng nguồn ngân sách của nhà
nước, cộng đồng có tham gia nhưng với số
Số 6 - Tháng 12 - 201360
NGHIÊN CỨU
V
Ă N H Ó
A
lượng đóng góp rất nhỏ. Có thể thấy đây là
một vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý trong
việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của
cộng đồng về vai trò, giá trị của các loại hình
di tích trong đời sống xã hội hiện nay. Nhiều
di tích vừa mang giá trị về lịch sử, vừa mang

di sản văn hóa còn hạn chế dẫn đến việc lấn
chiếm đất đai, xây dựng nhà cửa, công trình
dân sinh, vi phạm vào vùng bảo vệ, làm mất
cảnh quan, không gian của di tích (như tại
chùa Phi Tướng, thành cổ Luy Lâu ) hay việc
khai thác, kinh doanh trái phép cát trên sông
Cầu đã ảnh hưởng trực tiếp đến các di tích
thuộc phòng tuyến. Ngành văn hóa, chính
quyền địa phương trong nhiều năm vẫn chưa
thể giải quyết dứt điểm vấn đề này. Ở một số di
tích đã xảy ra tình trạng mất cắp cổ vật, di vật,
một phần nguyên nhân là do người dân chưa
nêu cao tinh thần cảnh giác, chưa phối hợp
đồng bộ trong việc bảo vệ di tích. Các di tích
bị mất cắp cổ vật, di vật là đình Bái Uyên (xã
Liên Bão, huyện Tiên Du), đình Cả (xã Nội Duệ,
huyện Tiên Du), đình Yên Việt (xã Đông Cứu,
huyện Gia Bình)…Thậm chí có di tích bị trộm
cắp vài lần như di tích thờ danh nhân Nguyễn
Phúc Xuyên (phường Đại Phúc, thành phố Bắc
Ninh) năm 2004 bị mất câu đối, năm 2006 lại
mất bình hương…
Để nâng cao vai trò và huy động được sự
tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo
vệ di tích lịch sử - văn hóa, theo chúng tôi cần
chú ý tới một số vấn đề sau:
- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền
Luật Di sản văn hóa, các văn bản về bảo vệ, phát
huy giá trị di tích lịch sử văn hóa dưới nhiều
hình thức khác nhau nhằm đưa các văn bản

chính người dân địa phương bầu chọn cũng
làm cho người dân cảm thấy được quyền làm
chủ của mình, từ đó tạo niềm tự hào, có ý thức
trách nhiệm đối với các di tích. Ban quản lý
di tích đền Đô là mô hình quản lý hoạt động
có hiệu quả trong nhiều năm qua. Do vậy cần
phổ biến, nhân rộng mô hình quản lý này đến
nhiều di tích khác. Nhằm giúp cho công tác
quản lý di tích có chất lượng, hiệu quả, các cơ
quan quản lý nhà nước cần đóng vai trò định
hướng, giám sát hoạt động của các ban quản
lý tại các di tích này, đồng thời thường xuyên
tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về
di tích, về di sản văn hóa cũng như nghiệp vụ
quản lý cho các thành viên của các ban quản
lý này để họ nâng cao được nhận thức về quản
lý và bảo vệ di tích. Bên cạnh đó, sự phối hợp
đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước
với cộng đồng, nơi có di tích là điều cần thiết.
Cộng đồng là sợi dây liên hệ giữa di tích với
cơ quan quản lý, những hiện tượng vi phạm di
tích sẽ nhanh chóng bị cộng đồng phát hiện
và thông tin được truyền tải đến những cơ
quan có thẩm quyền xử lý.
- Cần thiết phải xây dựng cơ chế nhằm
khuyến khích, động viên các tổ chức doanh
nghiệp, đoàn thể cá nhân tích cực đầu tư, ủng
hộ các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di
tích. Đối với các doanh nghiệp, cần có những
chính sách ưu đãi khi tham gia đầu tư kinh phí

2. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000),
Phát triển cộng đồng, Lý thuyết và Vận dụng, Nxb.
Văn hóa - Thông tin.
3. Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa dổi,
bổ sung năm 2009, Nxb. Chính trị quốc gia, 2009,
tr.33
4. Đinh Khắc Thuân (2010), Văn bia thời Mạc,
Nxb. Hải Phòng.
5. Phạm Tuấn (2005), Lịch sử chùa Bút Tháp qua
tư liệu Hán nôm, Tạp chí Xưa và Nay, Số 235.
6. Công ước quốc tế về du lịch văn hóa: Việc
quản lý du lịch ở những nơi có di sản quan trọng.
Được ICOMOS thông qua tại Đại hội đồng lần thứ
12 ở Mehico, tháng 10/1999.
Ngày nhận bài: 3 - 5 - 2013
Ngày phản biện, đánh giá: 6 - 9 - 2013
Ngày chấp nhận đăng: 10 - 12 - 2013


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status