Những quan điểm hồ chí minh về con đường quá độ lên XHCN ở việt nam và sự vận dụng quan điểm đó trong công cuộc đổi mới hôm nay - Pdf 27

I.MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan diểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam.Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng,về thời kỳ quá
độ lên CNXH của chủ nghĩa Mác Lênin và xuất phát từ những đặc điểm thực tế của Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã khẳng dịnh con đường cách mạng của Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH. Như vây quan diểm của
Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là quan niệm về 1 hình thái gián tiếp cụ
thể -quá độ từ 1 xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi dành được độc lập
dân tộc đi lên CNXH. Theo hcm thực chất quá trình quá độ này là quá trình cải biến nề sản xuất
lạc hậu thành nền sản xuat tiên tiến hiện đại. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp
trong điều kiện mới, khi mà nhân dân đã hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ. Trước
thực trạng này, Người đã đưa ra những quan điểm về nhiệm vụ, bước đi,biện pháp tiến hành xây
dựng CNXH, biến nhận thức lý luận thành hành động thực tiễn. Người đã đề ra những nguyên
tắc có tính chất phuong pháp luận phù hợp với viêt nam có ý nghĩa vô cùng to lớn ở hiện tại và
tương lai. Để hiểu rõ thêm về con đường quá độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhóm em đã làm
bài thảo luận: ‘’Những quan điểm hồ chí minh về con đường quá độ lên XHCN ở Việt Nam và
sự vận dụng quan điểm đó trong công cuộc đổi mới hôm nay”
II.NỘI DUNG:
I, Quan điểm của HCM về thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam
1. Tính khách quan về thời kì quá độ lên XHCN ở Việt Nam
Theo Mác Lê-nin thì sự phát triển tất yếu của xã hội loài người là quá trình biến đổi hình thái
kinh tế xã hội từ thấp đên cao kế tiếp và thay thế nhau ,cụ thể là: công xã nguyên thủy -> chiếm
hữu nô lệ -> chế độ phong kiến -> tư bản chủ nghĩa -> cộng sản chủ nghĩa.
Trong tác phẩm “ phê phán cương lĩnh của Gôta” C.Mác đã khẳng định giữa xã hội tư bản chủ
nghĩa xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hôi kia,
thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước.Như vậy,chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa cộng sản bao gồm ba giai đoạn : thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã
hội (một giai đoạn cấp thấp của chủ nghĩa cộng sản),chủ nghĩa cộng sản.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có vai trò tất yếu,là một bước quan trọng để cải biến cách
mạng sâu sắc và toàn diện từ xã hội cũ lên xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là chủ
nghĩa xã hội,tạo ra cơ sở về vật chật và tinh thần cho chủ nghĩa xã hội thực hiện được trên những

nước nông nghiệp lạc hậu nghèo nàn dần đi lên chủ nghĩa xã hội,bỏ qua chủ nghĩa tư bản.Nội
dung này đã làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin.Tuy nhiên nước ta quá độ từ
một nước nông nghiệp lạc hậu nghèo nàn tiến lên chủ nghĩa tư bản mà không trải qua chủ nghĩa
tư bản đặc điểm này chi phối đăc điểm khác đồng thời sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn do cụ thể chủ
nghĩa xã hội phải xây dựng trên tiền đề khoa học kỹ thuật và kinh tế phát triển.Nhận thấy trước
điều đó,Bác đã đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ đó là nhu cầu xã hội phát
triển cao trong khi thực trạng kinh tế-xã hội vẫn còn non kém.
2. Nhiệm vụ lịch sử của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Tiền đề để xây dụng chủ nghĩa xã hội là trên cơ sở trình độ khoa học kỹ thuật phát triển,kinh
tế xã hội đạt tới trình độ cao.Trong khi đó đất nước ta mới giành được độc lập,hậu quả chiến
tranh còn nặng nề,cụ thể là một nước nghèo nàn lạc hậu.Vậy nên theo Hồ Chí Minh, thực chất
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình cải biến nền sản xuất tiên tiến hiện
đại. Đồng thời để xây dựng được nước ta trở thành nước phát triển có trình độ cao phù hợp với
những yêu cầu và cơ sở xây dựng chủ nghĩa xã hội cần một quá trình lâu dài không thể gấp
gáp,nóng vội dẫn đến những sai lầm.Bởi vậy Hồ Chí Minh đã khẳng định: do những đặc điểm và
tinh chất quy định,quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình dần dần, khó khan, phức tạp và
lâu dài.
Dựa trên tính tất yếu và ý nghĩa của thời ký quá độ là một thời kỳ chuyển biến tạo tiền đề đi lên
chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ lịch sử của chủ nghĩa xã hội bao gồm 2 nội
dung lớn:
+ Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề về
kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.
+ Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội kiểu mới, kết hợp cải tạo và xây dựng trong đó lấy
xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất chủ chốt, lâu dài.
Hai nội dung này đều là những nội dung quan trọng chủ chốt của thời kỳ quá độ với điều kiện
nước ta còn lạc hậu kém phát triển phải thực hiện dần dần nên Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh
đến tính chất tuần tự,dần dần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Đồng thời hai nhiệm vụ
này cũng đi kèm với những khó khan phức tạp được người thể hiện qua các điểm:
+Thư nhất,đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội,cả lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.Nó đòi hỏi phải giải

lập nhưng nền kinh tế nghèo nàn, dân không đủ cơm ăn áo mặc thì độc lập đó cũng trở nên
không có ý nghĩa. Do đó Người đã xác định những hiệm vụ quan trọng về kinh tế mà nước ta cần
thực hiện:
- Tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đối với cơ cấu
kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng,
lãnh thổ.
- Đối với cơ cấu kinh tế nông- công nghiệp, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ
thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết
yếu của nhân dân.
- Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ, Người lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thị và kinh
tế nông thôn. Phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và
nâng cao đời sống của đồng bào, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng cho đất nước.
- Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội,
thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân
dân lao động, Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển.
- Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hoạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy
trong phát triển sản xuất. Gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động, Hồ Chí Minh bước
đầu đề cập vấn đề khoán trong sản xuất, "Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã
hội, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích
chung và lại lợi riêng ; làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay".
* Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: bên cạnh chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội cũng là một lĩnh
vực không kém phần quan trọng. nguwoif đã nêu lên những nội dung quan trọng như:
- Xây dựng con người mới, đề cao vai trò của văn hóa giáo dục và KHKT trong xã hội XHCN.
- Nâng cao dân trí, đào tạo và sử dụng nhân tài, khẳng định vai trò to lớn của văn hóa trong đời
sống xã hội.
II quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương châm, bước đi, biện pháp thực hiện
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.Nguyêntắc:
2 nguyêntắccótínhchấtphươngphápluậnnhưsau:
Thứnhất,

- Xâydựngchủnghĩaxãhộiphảicóbiệnphápquyếttâmđểthựchiệnthắnglợikếhoạch.
Phảitậphợpđượctoànthểnhândân, đồng long
yêunướcchungtaygópsứcbảovệvàđấutranhvìTổQuốcthìyêucầuđốivớiĐảnglàphảicóđườnglốichính
sáchlãnhđạorõràng, sángsuốt.
- Trongđiềukiệnnước ta, biệnphápcơbản, quyếtđịnh,
lâudàitrongxâydựngchủnghĩaxãhộilàđemcủadân, tàidânsứcdânlàmlợichodân,
dướisựlãnhđạocủaĐảngCộngSảnViệt Nam.
III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CNXH VÀ CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY.
1,Kiên định mục tiêu đọc lập dân tộc và CNXH
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011) đã rút ra năm bài học lớn của cách mạng nước ta, trong đó có bài học số một là “Nắm
vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Có thể nói, đây là sự tổng kết sâu sắc về lịch
sử và lý luận của quá trình cách mạng nước ta, thể hiện trong đường lối cách mạng của Đảng,
trong tất cả các cương lĩnh chính trị của Đảng từ khi Đảng ta ra đời cho đến nay.Nắm vững mối
quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng phù hợp trong từng thời
kỳ lịch sử là một trong những nguyên nhân của thành tựu cách mạng nước ta. Đại hội XI của
Đảng đã yêu cầu phải “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH”, coi đây là một nội dung
của công tác xây dựng Đảng về chính trị, của việc nâng cao bản lĩnh chính trị của toàn Đảng và
của mỗi cán bộ, đảng viên.
-Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là
mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của
cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử dân tộc hơn 80 năm qua đã chứng tỏ con đường xã hội
chủ nghĩa là sự lựa chọn của Đảng và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân.
Đi lên chủ nghĩa xã hội là “sợi chỉ đỏ”, xuyên suốt trong đường lối cách mạng Việt Nam. Không
phải chỉ khi giành được chính quyền, đất nước hòa bình, nhiệm vụ kiến quốc đặt lên hàng đầu,
mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mới được đặt ra mà ngay cả trong thời kỳ đấu tranh giành
chính quyền, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu thì đi lên chủ nghĩa xã hội
đã là mục tiêu, là sự lựa chọn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Thực tế cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở

cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là “nơi trực tiếp thực hiện
mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước”, là “nơi cần thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”, như Chỉ thị số 30/CT-TƯ của Bộ Chính trị đã đề
ra rất cụ thể, rõ ràng. Thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở chính là tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của chính quyền, phát huy vai trò
MTTQ và các đoàn thể nhân dân để khắc phục tình trạng quan liêu, mất dân chủ, sách nhiễu,
tham nhũng Vì vậy, dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến sự sống còn của
Đảng, của Nhà nước, của cả đất nước
 Chỉ đạo của Đảng: Một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng đã diễn ra vào tháng 9/2010: Dự
thảo 3 văn kiện trình Đại hội Đảng XI đã được Bộ Chính trị đăng tải công khai trên các phương
tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân.
 Chủ trương của Đảng: Lấy ý kiến cán bộ, đảng viên, nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình đại
hội XI.
 Ý nghĩa: Việc công bố và lấy ý kiến cán bộ, đảng viên, nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình
Đại hội XI của Đảng tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc, sẽ được tổ chức vào đầu năm 2011 là đợt
sinh hoạt chính trị hết sức ý nghĩa, thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, nhằm phát
huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước, góp phần làm cho các văn kiện trở thành sản phẩm kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, sức
sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc quyết định đường lối phát triển đất
nước trong thời kỳ mới; trên cơ sở kiên định vấn đề có tính nguyên tắc cơ bản là độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nêu cao tinh thần xây dựng và ý thức trách nhiệm, đề xuất được
nhiều ý kiến có giá trị, góp phần hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng văn kiện đại hội.
Theo đó, bất cứ một công dân Việt Nam nào cũng được nêu chính kiến của mình về những nội
dung đồng tình, tập trung vào những vấn đề bức xúc để đưa ra chủ trương, giải pháp khả thi,
hướng đến “Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền
vững; phát huy sức mạnh của dân tộc, xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”.
Chủ trương trên đây của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng là phù hợp với tư
tưởng Hồ Chí Minh về đường lối tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói về Đại hội Đảng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng

VD: Cải cách thủ tục hành chính_một nhu cầu bức xúc của người dân ở cơ sở.
Mot số nơi không thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân hoặc có làm thì cũng rất hình
thức chiếu lệ, nhất là ở nông thôn vùng sâu, vùng xa nơi nông dân chiếm số đông trong dân số,
ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết dân tộc và sự đồng thuận xã hội, ổn định xã hội.
Chính vì vậy mà song song với thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các tổ chức và
các đại biểu dân cử, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước chủ trương và ban hành cơ chế, quy chế,
pháp luật tạo hành lang pháp lý để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình, theo
đúng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Phải làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng
quyền dân chủ của mình, dám nói dám làm”. Bác Hồ còn chỉ dẫn: “Lúc dân biết và dám phê bình
người lãnh đạo, lúc đó dân đã biết nắm quyền của dân tức là mức dân chủ hóa khá cao”.
Chỉ thị số 30/CT-TƯ của Bộ Chính trị ban hành ngày 18-2-1998 “Về xây dựng và thực hiện
quyền dân chủ ở cơ sở”. Tiếp đó, Chính phủ ra Nghị định số 29/1998/NĐCF ngày 11-5-1998 về
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.Ngày 7-7-2003, Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số
79/2003/NĐCF thay thế Nghị định 29/1998/NĐCF để bảo đảm tính pháp lý cao trong thực hiện
dân chủ ở cơ sở.Ngày 20-4-2007 Quốc hội - cơ quan dân cử cao nhất - đã ban hành Pháp lệnh
“Thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn” có hiệu lực từ 1-7-2007 để thay thế Nghị định
79/2003/NĐCF của Chính phủ.
.
Tháng 9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã mở Hội nghị sơ kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số
30/CT-TƯ của Bộ Chính trị và đã có Kết luận, trong đó có đoạn: “Xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần tác động tích cực tới việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất
lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng chỉnh đốn Đảng, củng cố, xây dựng chính quyền
trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, cải tiến sự chỉ đạo, quản lý, điều
hành của chính quyền, làm chuyển biến tác phong công tác của cán bộ, đảng viên, công chức, đổi
mới tư duy, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu
dân, học dân” và có trách nhiệm với dân, là biện pháp quan trọng để khắc phục quan liêu, tham
nhũng, lãng phí. Tuy nhiên, so với yêu cầu của Chỉ thị, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
chưa đồng đều và vững chắc. Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn nhiều, có
nơi là nghiêm trọng. Những biểu hiện quan liêu, tham nhũng không được phát hiện và đấu tranh
ngăn chặn, khắc phục kịp thời, làm giảm lòng tin, gây bất bình trong nhân dân, dẫn đến khiếu

Việt Nam, vào cuộc đấu tranh chính nghĩa.Vậy thì, cái cội của sức mạnh dân tộc chính là chủ
nghĩa dân tộc.
Sức mạnh thời đại chính là dòng thác sức mạnh của nhân dân các nước chính quốc, sức mạnh
đoàn kết quốc tế và sự hình thành và phát triển và sức mạnh đoàn kết trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới; là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.
Trước những bối cảnh thế giới có những biến đổ sâu sắc, trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần
chú ý vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
của thời đại như sau:
Một là: Đảng ta luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách
mạng vô sản toàn thế giới, Việt Nam tiếp tục đoàn kết và ủng hộ các phong trào cách mạng, các
xu hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì các mục tiêu hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội ==> Việt Nam tiến hành đổi mới là góp phần thiết thực vào đổi mới CNXH, vào
sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân thế giới.
Hai là: Giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ trương tận lực phát huy sức
mạnh dân tộc trên cơ sở đó để tranh thủ và tận dụng được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của
lực lượng bên ngoài, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng mỗi thời kỳ.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH hiện nay, chúng ta phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,
tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ và ra nhập thị trường quốc tế, nhưng phải trên cơ
sở độc lập tự chủ, phát huy đầy đủ các tếu tố nội lực, dựa vào các nguồn lực trong nước là
chính Nếu không độc lập tự chủ, không phát huy đầy đủ nội lực thì không thể đứng vững và đi
lên một cách vững chắc, lâu bền và cũng không thể hội nhập kinh tế quốc tế một cách bình đẳng.
Chỉ có phát huy cao nhất các nguồn nội lực, trước hết là nguồn lực con người, chúng ta mới có
thể thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài, mới bảo vệ được độc lập, chủ quyền khi
hội nhập với thế giới.
Ba là: Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho đường lối ngoại giao rộng mở, đa phương hoá,
đa dạng hoá, hợp tác nhiều mặt với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh chấp tồn tại bằng hoà bình thương lượng.
Trong tình hình hiện nay việt nam phải tích cực hội nhập với thế giới nhưng vẫn phải giữ vững
bản sắc dân tộc, giữ được cốt cách dân tộc sâu sắc mạnh mẽ. Chỉ có giữ vững bản sắc dân tộc thì

lập pháp, hành pháp và tư pháp.Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam
kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
• Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước
-Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu
Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội. Nâng cao chất
lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc
hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri
-Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây
dựng luật, pháp lệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính khả thi để đưa nhanh vào
cuộc sống thực hiện ngân sách; giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp, công tác phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
-Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ
chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực
lượng vũ trang;
-Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính
thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn và hợp lý;
tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của Chính phủ; nâng cao năng lực dự báo, ứng
phó và giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh
-Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục
hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân.
-Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp
trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người
-Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt
động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách
nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp
• Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong
tình hình mới

xuất và tiêu dùng.
III. TÓM TẮT NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI:
1 thành tựu
Thực hiện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, gần 30 năm
qua, tiềm lực kinh tế được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nếu
như ở giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân năm chỉ đạt
4,4%; giai đoạn 1991 - 2000, GDP tăng 7,6%/năm; giai đoạn 2001 - 2005 GDP bình quân
7,34. GDP bình quân đầu người ngày càng tăng, đưa Việt Nam ra khỏi nước kém phát
triển, trở thành nước có thu nhập trung bình.
Không chỉ có vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và kiên định còn đường xã hội chủ
nghĩa, gần 30 năm qua, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình
thành và ngày càng hoàn thiện. Đường lối đổi mới của Đảng được thể chế hóa thành pháp
luật, tạo hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Việc ban hành hiến pháp năm 2013 có điểm mới tiến bộ so với
Hiến pháp năm 1992 là quy định quyền tự do kinh doanh trong từng ngành nghề mà pháp
luật không cấm; thể hiện rõ hơn bản chất nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng đã đưa đất nước và nhân dân
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
nâng lên, có một số mặt đạt trình độ của các nước phát triển trung bình. Việt Nam đã
hoàn thành phần lớn mục tiêu thiên niên kỷ cam kết trước cộng đồng quốc tế
Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thành tựu
cơ bản, bao trùm là chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia, ổn định chính trị xã hội và trật tự, an toàn xã
hội được giữ vững. Tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân tiếp
tục được tăng cường. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân
từng bước được điều chỉnh phù hợp với quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế, tạo sức mạnh
tổng hợp góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để bảo vệ và xây dựng đất
nước. Lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status