ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SCAMPER PHÂN TÍCH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRỂN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG - Pdf 27

Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 1

MỤC LỤC
I. Giới thiệu 2
II. Phân tích tư duy sáng tạo 3
1. Thế nào là sự sáng tạo 3
2. Năm cấp độ của tư duy sáng tạo 4
3. Ba nguyên tắc hàng đầu với sự sáng tạo 5
III. Phương pháp SCAMPER 8
1. Sơ lược về phương pháp SCAMPER 8
2. Vài nét về phương pháp SCAMPER 10
2.1. Phép thay thế - Substitute 10
2.2. Phép kết hợp – Combine 11
2.3. Phép thích ứng – Adapt 11
2.4. Phép điều chỉnh – Modify 12
2.5. Phép thêm vào – Put 13
2.6. Phép loại bỏ - Eliminate 13
2.7. Phép đảo ngược – Reverse 14
IV. Phân tích sự phát triển của điện thoại di động dựa trên phương pháp
SCAMPER 15
2.2. Phép kết hợp – Combine 19
2.3. Phép thích ứng – Adapt 19
2.4. Phép điều chỉnh – Modify 19
2.5. Phép thêm vào – Put 20
2.6. Phép loại bỏ - Eliminate 21
2.7. Phép đảo ngược – Reverse 21
V. Tài liệu tham khảo 22

Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM


CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 3

thể nghĩ ra một ý tưởng đuợc coi là thực sự sáng tạo là một điều không đơn
giản và cũng không dễ dàng. Do đó, bạn càng hiểu biết về cách thức tư duy
sáng tạo bao nhiêu thì bạn sẽ suy nghĩ sáng tạo hơn bấy nhiêu.
Não của chúng ta là một kho chứa những ý tưởng. Những gì ta biết chính là
những gì ta đã được học và đã trải nghiệm. Ý tưởng đều nằm trong đó cả. Tất
cả những gì ta phải làm chỉ là lấy chúng ra mà thôi. Tuy nhiên, chúng ta sẽ
không thể bàn đến tất cả những ý tưởng trong đầu ta mà không đề cập đến
những quan điểm và phương pháp trí tuệ thích hợp. Không có cách nào giúp
ta có thể gợi nhớ được mọi thứ. Hơn nữa, chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ về
một ý tưởng nhất định nếu ta không phụ thuộc vào những nguồn kích thích sự
sáng tạo khác nhau. Bộ óc của chúng ta là những công cụ liên kết không giới
hạn, chúng có thể chứa được rất nhiều ý tưởng giống như chúng là những cơ
sở dữ liệu chứa những ý tưởng.

II. Phân tích tư duy sáng tạo
1. Thế nào là sự sáng tạo
Sáng tạo (Creativity) là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có tính mới và tính có
ích, lưu ý là phải “có ích”, còn việc tạo ra cái gì mới mà không có ích thì cũng
không được gọi là sáng tạo. Mới và có ích ở đây có nghĩa so với cái trước đó,
cái sau phải có lợi hơn, tiến bộ hơn cái trước.
Để đánh giá một hoạt động có phải là sáng tạo hay không, ta có thể áp dụng
chương trình 5 bước như sau:
 Bước 1: Chọn hoạt động tiền thân (sản phẩm/dịch vụ trước đó)
 Bước 2: So sánh hoạt động hiện tại với hoạt động tiền thân
 Bước 3: Tìm tính mới của hoạt động hiện tại
 Bước 4: Trả lời câu hỏi “tính mới có tác dụng gì? Trong phạm vi nào”
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 5

2.4. Cấp 2: Cao hơn nữa, họ tiến đến cấp độ 2 là “Tạo ra khái niệm mới” khi
có được khả năng:
 Tổng hợp các khái niệm cần thiết để định hình một giải pháp mới.
 Tạo ra các mô hình và phương pháp mới cho doanh nghiệp.
 Nhận diện được các giải pháp linh hoạt và thích hợp cũng như xác định
được các tiêu chuẩn về chuyên môn và về tổ chức tương ứng với giải
pháp mới.
2.5. Cấp 1: “Nuôi dưỡng sự sáng tạo”, nhưng năng lực này chỉ có ở rất ít
chuyên gia quản trị, bao gồm:
 Có khả năng phát triển một môi trường nuôi dưỡng tư duy sáng tạo,
luôn kích thích mọi người thi đua tìm tòi các giải pháp sáng tạo.
 Khuyến khích mọi người thử nghiệm ý tưởng mới khác hẳn cách làm
truyền thống.
 Hỗ trợ cho việc thử nghiệm ý tưởng mới nhằm biến ý tưởng thành hiện
thực.
 Như vậy, cùng hướng đến tư duy sáng tạo, nhưng mỗi cá nhân trong
doanh nghiệp có thể thuộc về cấp độ này hay cấp độ khác. Việc quan
sát để biết cấp độ tư duy sáng tạo của đội ngũ nhân viên và tạo điều
kiện để những người thuộc cấp độ từ 4 đến 2 phát huy năng lực của họ
là nhiệm vụ và cũng là thách thức không nhỏ đối với các nhà quản trị
doanh nghiệp. Khi vượt qua được thách thức đó, chính nhà quản trị đã
tự bồi dưỡng để dần đạt được cấp độ 1.

3. Ba nguyên tắc hàng đầu với sự sáng tạo
1. Hoạt động sáng tạo làm tăng khả năng sáng tạo. Khi bạn trở nên tích cực
trong việc sáng tạo, bạn có được khả năng sáng tạo hơn. Nhiều người rất thích
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM


CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 7

Peter Drucker đã từng nói rằng cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó.
Chúng tôi, giống như Shackleton và người đàn ông của mình, có thể tạo ra
tương lai chúng tôi mong muốn nếu chúng ta cho phép mình bắt đầu suy nghĩ
theo những cách mà chúng tôi đã không nghĩ trước đây, nếu chúng ta tự cho
phép mình mơ ước của cách thức mới để làm những việc.
Trong thị trường cạnh tranh có nhịp độ nhanh của chúng tôi, rất ít tài nguyên
có giá trị hơn cho các tổ chức hơn so với sáng tạo, và điều này đặc biệt đúng
trong cuộc khủng hoảng. Đó là khi thực sự lãnh đạo hoặc là tăng hoặc giảm,
và thật không may, sáng tạo thường thấy mình nuốt phải bằng cách cấp bách.
Ai có thời gian để suy nghĩ bên ngoài hộp khi hộp được sụp đổ xung quanh
bạn? Shackleton, tuy nhiên, đã thấy vượt ra ngoài vấn đề hình ảnh lớn. Ông
nhận ra tầm quan trọng của sự sáng tạo trong việc giữ anh ta và phi hành đoàn
của ông còn sống và hoạt động như một nhóm khi họ có ít lợi nhuận cho các
lỗi trong cái lạnh buốt và cô lập của Nam Cực.
Chỉ cần không phải là một kỹ năng, sáng tạo cũng là một thái độ trong cuộc
sống của mình cho phép anh ta để tìm giải pháp cho những trở ngại mà họ gặp
phải. Khi những người khác đã có thể đông lạnh - theo nghĩa đen cũng như
nghĩa bóng - Shackleton tập trung sáng tạo trên còn sống sót sau cuộc khủng
hoảng.
Vì vậy, sử dụng sáng tạo của bạn, để cho nó trở nên mạnh mẽ hơn. Vứt bỏ
'cuốn sách quy tắc, và để cho sự sáng tạo giúp bạn tìm thấy một cách, cũng
giống như nó đã làm cho Sir Ernest Shackleton.

Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 8

III. Phương pháp SCAMPER

liệu các thành phẩm này có thể được thay thế bằng nguyên vật liệu nào khác?
Trong một quá trình làm việc, liệu vấn đề nhân lực thay thế sẽ là ai? Có nên
thay địa điểm? Đối tượng?
Các câu hỏi có thể đặt ra:
 Có thể thay thế hay hoán đổi bộ phận nào trong hệ thống?
 Có thể thay thế nhân sự nào?
 Qui tắc nào có thể được thay đổi?
 Có thể dùng nguyên liệu, vật liệu nào khác?
 Có thể dùng qui trình / thủ tục nào khác?
 Có thể dùng ý tưởng này tại địa điểm khác?
 …
Ví dụ:

Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 11 2.2. Phép kết hợp – Combine
Nội dung: Kết hợp thành tố của các hệ thống khác nhau để tạo ra hệ thống
mới. Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp thêm được gì để
tạo ra 1 sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính năng.
Các câu hỏi có thể đặt ra:
 Nguyên vật liệu cần là gì?
 Các tính năng? Quy trình? Nhân lực?
 Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở đâu?
Ví dụ: 2.3. Phép thích ứng – Adapt


2.5. Phép thêm vào – Put
Nội dung: Thêm thành tố mới vào hệ thống. Có thể áp dụng cho cách dùng
khác? Mục đích khác? Lĩnh vực khác?
Các câu hỏi đặt ra:
 Tôi có thể lấn sân sang thị trường nào?
 Thị trường nào có thể tiêu thụ hàng của tôi?
Ví dụ: 2.6. Phép loại bỏ - Eliminate
Nội dung: Loại bỏ thành tố khỏi hệ thống. Loại bỏ và đơn giản hoá các thành
phần, nghĩ xem chuyện gì xảy ra nếu bạn loại đi hàng loạt các quy trình, sản
phẩm, vấn đề và cơ hội, nghĩ xem bạn sẽ làm gì với tình huống này?
Câu hỏi có thể đặt ra: :
 Bộ phận nào có thể loại bỏ mà không làm thay đổi tính năng hệ thống?
 Qui tắc nào có thể hạn chế hoặc loại bỏ?
 Bộ phận nào không mang tính cốt lõi hay không cần thiết?
 …
Ví dụ:
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 14
2.7. Phép đảo ngược – Reverse
Nội dung: Đảo ngược trật tự các thành tố của hệ thống. Bạn có thể lật ngựợc
vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽ giúp bạn nhìn rõ mọi góc cạnh của vấn đề cũng
như như cơ hội thấy điểm mới cho vấn đề.

mạng 2G mới bắt đầu xuất hiện tại Phần Lan. 2G ra đời cũng tạo điều kiện
cho những dịch vụ như SMS phát triển. 3G được giới thiệu vào năm 2001 và
hiện tại, chúng ta đang đứng ở thời kỳ chuyển giao sang mạng 4G.
1.2. Tin nhắn SMS (1993)
SMS ra đời là thành quả làm việc liên tục của rất nhiều kỹ sư. Matti
Makkonen đề xuất ý tưởng nhưng Friedhelm Hillebrand mới là người tạo ra
định dạng tin nhắn 160 ký tự như ngày nay. Tin nhắn SMS đầu tiên có nội
dung "giáng sinh an lành", được gửi từ một chiếc PC đến một điện thoại chạy
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 16

mạng Vodafone của Anh vào năm 1992. Một năm sau đó, Nokia giới thiệu
mẫu điện thoại đầu tiên có khả năng gửi và nhận tin nhắn SMS. Khi mới ra
mắt, người dùng chỉ có thể gửi SMS đến những người dùng chung mạng. Tin
nhắn SMS cũng chỉ thực sự phát triển từ năm 2005.
1.3. Điện thoại màn hình cảm ứng (1993)
IBM Simon được xem là điện thoại đầu tiên có màn hình cảm ứng. Nó kết
hợp giữa điện thoại di động và PDA. Công nghệ cảm ứng trên điện thoại thời
đó còn khá tệ, đó là lý do vì sao tất cả các thiết bị cảm ứng đều dùng một
chiếc bút stylus. Sau vài năm, công nghệ màn hình cảm ứng mới thu hút được
các hãng sản xuất như Sony (Ericsson), HTC, LG, nhưng chỉ đến khi iPhone
của Apple ra mắt, công nghệ màn hình cảm ứng mới đạt đến một chuẩn mới
và phổ biến như ngày nay.
1.4. Điện thoại kết nối Internet (1996)
Nokia 9000 Communicator là chiếc điện thoại đầu tiên có khả năng kết nối
Internet. Tại thời điểm đó, giá bán của nó rất đắt và nhà mạng cũng chưa sẵn
sàng cho việc cung cấp dịch vụ Internet. Cho đến thời điểm hiện tại, 29%
lượng truy cập web toàn cầu đến từ các thiết bị di động (theo số liệu của
Walker Sands quý II/2013).

công nghệ camera trên điện thoại đã phát triển chóng mặt, đến mức nó hoàn
toàn có thể thay thế các dòng máy ảnh compact hiện nay, như trường hợp của
Nokia Lumia 1020 hay Sony Xperia Z1. Trong năm 2012, 83% các mẫu điện
thoại đang chạy đều có camera.
1.9. Nhận diện giọng nói (2000)
Tính năng quay số bằng giọng nói đã xuất hiện từ cách đây khá lâu nhưng nó
không được sử dụng rộng rãi. Nhờ những cải tiến vượt bậc về phần mềm cũng
như công nghệ nhận diện giọng nói, khả năng quản lý chiếc điện thoại của
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 18

bạn thông qua khẩu lệnh đã được cải tiến rõ rệt. Các ứng dụng nhận diện
giọng nói bắt đầu được đưa lên Google Play từ năm 2009. Apple giới thiệu
Siri vào năm 2011, nhưng Google mới là người dẫn đầu trong công nghệ này
với tính năng Google Now. Hiện tại, Moto X đang được xem là thiết bị thông
minh nhất trong việc nhận diện giọng nói.

2. Áp dụng nguyên lý sáng tạo SCAMPER trong quá trình phát triển
điện thoại di động
2.1. Phép thay thế - Substitute
Từ khi ra đời, đến sự phát triển vượt bậc như ngày nay, điện thoại di động đã
trải qua một chuỗi những sự thay thế, từ phức tạp đến đơn giản và thân thiện
với người dùng hơn.
Đầu tiên ta có thể thấy rỏ ràng nhất trong quá trình phát triển của điện thoại di
động là sự thay thế mạng thông tin di động từ 1G, 2G, 2,5G, 3G, 4G… nhằm
phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin, giao tiếp, giải trí đa phương tiện ngày
càng lớn và nhanh chóng từ người dùng.
Bên cạnh đó việc thay thế các chip xử lý, màn hình, pin và một số bộ phận
khác của điện thoại di động từ kích thước to đến kích thước nhỏ gọn có thể bỏ

từ độ phân giải thấp đến camera có độ phân giải cao hơn, màn hình hiển thị ít
màu đến màn hình có thể hiển thị lên đên hàng trăm hàng nghìn màu khác
nhau, pin điện thoại di động cũng được điều chỉnh cải thiện từ sạc chậm và
nhanh hết năng lượng đến pin có thời gian sạc nhanh và có thời gian sử dụng
Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH HOÀNG KIẾM

CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 20

kéo dài, màn hình cảm ứng điện trở đến màn hình cảm ứng điện dung làm
tăng khả năng tương tác với người dùng… Tất cả các sự điều chỉnh mang lại
sự tinh tế và tác động theo chiều sâu đến việc cảm nhận của người dùng về sự
sáng tạo trong quá trình phát triển của điện thoại di động.

2.5. Phép thêm vào – Put
Từ một chiếc điện thoại di động chỉ phục vụ cho việc giao tiếp của con người
khi còn sơ khai cho đến một chiếc điện thoại di động phục vụ rất nhiều cho
công việc và giải trí của con người. Trong quá trình phát triển đó thì việc tạo
ra và tích hợp một số bộ phận, chức năng, công nghệ… vào trong điện thoại
di động là một sự sáng tạo cần được đề cập như:
- Việc tích hợp thêm camera giúp cho việc giao tiếp và chia sẽ thông tin của
người dùng ngày càng đa dạng, phong phú hơn.
- Bên cạnh việc tích hợp chức năng radio trong điện thoại di động cũng làm
tăng thêm tính đa dạng trong phục vụ yêu cầu của người dùng.
- Do bộ nhớ của điện thoại di động có phần hạn chế nên việc gắn thêm các ổ
cứng di động, thẻ nhớ SSD… làm tăng tính khả dụng và sức mạnh cho điện
thoại di động.
- Hệ điều hành cho điện thoại di động làm cho điện thoại di động thông minh
hơn, phục vụ tốt hơn cho con người.
Cùng với rất nhiều bộ phận trong điện thoại di động và các tính năng mềm
bên trong điện thoại di động được tích hợp đã góp phần vào việc sáng tạo và


CH1301013 – LÂM LONG HẬU Page 22 V. Tài liệu tham khảo

[1] Slides bài giảng môn ‘‘Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học’’,
GS.TSKH. Hoàng Kiếm
[2] Phan Dũng, Các thủ thuật (nguyên lý) sáng tạo cơ bản phần một, Trung
tâm sáng tạo khoa học – kỹ thuật (TSK) TpHCM,2007
[3] PGS.TS Lưu Xuân Mới. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.
[4]
[5]
[6]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status