Thiên nhiên trong thơ bác qua các bài mộ, tảo giải, tăn xuất ngục học đăng sơn (nhật kí trong tù - Pdf 27

Thiên nhiên trong thơ Bác qua các bài Mộ, Tảo giải, Tăn xuất
ngục học đăng sơn (Nhật kí trong tù
Nhật kí trong tù là tập thơ bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh viết khi bị chính quyền Tưởng
Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây hơn một năm trời. Đọc Nhật ki trong tù chúng ta bắt
gập một tàm hồn vĩ dại của một nhà ái quốc, một tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại
nhân, đại dũng và đọc Nhật kí trong tù, chúng ta cũng cảm nhận được những bức tranh
thiên nhiên với những sắc thái khác nhau. Tiêu biểu có thiên nhiên trong bài Mộ, Tảo
giải, Tăn xuất ngục học đăng sơn Chiều tối (Mộ) là bài thơ số 31 trong tập Nhật kí trong
tù, được sáng tác trên đường đi bị áp giải, người tù đang trên đường đi, đường thì còn xa
mà trời thì sắp tối, không gian, thời gian, hoàn cảnh đặc biệt đã gợi cho tác giả nhiều cảm
xúc. Trong bài thơ, tác giả đặc biệt quan tâm miêu tả không gian, thời gian. Đây là một
vùng núi quạnh vắng, thời gian tối và người tù đã mệt: Quyện điểu quy lăm tẩm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không. (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm măy trôi nhẹ
giữa tầng không). Cảnh trời chiều được vẽ ra qua hình ảnh cánh chim trở lại rừng và một
áng mây lẻ loi, chầm chậm trôi ngang qua bầu trời rộng. Cảnh rất thực mà cũng rất nên
thơ, hiện đại mà thấm đượm phong vị cổ thi, gợi nhớ những buổi chiều buông với quyện
điều và cô vân. Từ trong ca dao đã có hình ảnh cánh chim bay về tổ là báo hiệu trời tối
(chim bay về núi tối rồi) đến Truyện Kiều của Nguyễn Du thì chim mang cả thời gian và
tâm trạng: Chim hôm thoi thót về rừng Rồi buổi chiều nghiêng xuống theo cánh chim nói
lên sự bơ vơ, lẻ loi theo Huy Cận: Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. (Tràng giang)
Hai câu thơ của Hồ Chí Minh cũng gợi nhớ đến hai câu thơ của Lí Bạch: Chúng điểu cao
phi tận Cô văn dộc khí nhàn. (Chim bay vút bay hết Mây lẻ bay một mình). Hình ảnh thơ
của Lí Bạch và Hồ Chí Minh có những nét tương đồng nhưng hai câu thơ của Lí Bạch thì
có sắc thái biểu hiện thời gian không rõ nét. Còn hai câu thơ của Hồ Chí Minh vừa có ý
nghĩa biểu hiện thời gian vừa có ý nghĩa biểu hiện tâm trạng. Cánh chim trong thơ Lí
Bạch sao mà xa xăm như tan biến vào cỡi 285 vô tận. Còn cánh chim trong Chiểu tối cua
Hồ Chí Minh đang trớ về rừng theo nhịp sống hàng ngày gần gũi. Nó hiện lên trong cảm
quan gắn bó với hiện thực, với đời sống trong tấm lòng trìu mến, yêu thương. Cánh chim
bay trong trạng thái không bình thường mà mệt mỏi, mải miết. Qua hình ảnh cánh chim
mỏi, người đi tìm thấy sự tương đồng, hoà hợp với tâm trạng và cảnh ngộ của mình:
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ đi so

gian khó trên đường thẳm. Thiên nhiên ở đây gợi sự khắc nghiệt, trận trận hàn là cảnh gió
thu lạnh giá liên tiếp thổi tới. Thế nhưng người tù vẫn kiên cường, rắn rỏi, vượt lên hoàn
cảnh, làm chủ hoàn cảnh. Đến bài thơ Tảo giải II, mạch thơ chuyển sang cảnh rạng đông,
cảnh đất trời bừng sáng: Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng u ám tàn dư tảo nhất
không. Bài thơ mở ra cảnh đẹp ở chân trời khi rạng đông. Điều đáng chú ý là thiên nhiên
chuyển biến mau lẹ, vũ trụ vận động thật nhanh chóng {dĩ thành hồng-, đã thành hồng,
tảo nhất không-, sớm hết sạch, quét sạch trơn). Trong chốc lát, màu hồng thay thế cho
bóng tối đêm tàn, cả vũ trụ bao la từ bầu trời đến mặt đất, bỗng rực rỡ, tươi sáng. Sau này
trong bài Đi thuyền trên sông Đáy, Bác viết: Thuyền về trời dã rạng đông Bao la nhuốm
một màu hồng đẹp tươi. (1949) Một bài là cảqh rạng đông trên đường lưu đày, một bài là
cảnh tự do nơi chiến khu Việt Bắc. Cảnh ngộ tuy khác nhau nhưng đều biểu hiện tâm hồn
yêu nước, một tâm thế lạc quan, yêu đời của người lính. Mặt trời lên toả sáng hơi ấm cho
vạn vật: Noãn khí bao la trùm vũ trụ Hành nhân thi hứng hốt gia nồng. Mới rạng đông,
khí ấm của trời, đất đã có nhưng chưa nhiều. Vậy mà tất cả đều ấm, một sức ấm tràn ngập
cả đất trời, chính là sức ấm từ con người toả ra. Trước cảnh bình minh, tâm hồn Bác sảng
khoái dào dạt thi hứng, hoà mình vào vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật. Đó là tâm hồn của
một thi sĩ chiến sĩ: hành nhăn thi hứng hốt gia nồng. Sau mười bốn tháng giam cầm và
chuyển lao, Bác được tự do: Sáng suốt nhờ ơn Hầu chủ nhiệm Tự do trở Lại với mình rồi.
(10.9.1943) Và Bác phải rèn luyện thân thể để tiếp tục những ngày hoạt động mới. Trong
khi tập leo núi, Bác viết bài Tân xuất ngục học đăng sơn. Mở đầu bài thơ là hình ảnh mảy
và núi quyến luyến, quyện vào nhau. Một bức tranh sơn thuỷ thật trữ tình: Văn ủng trùng
sơn, sơn ủng vân Giang tâm như kính tịnh vô trần. Nguyên tác bài thơ: mây – núi; núi –
mây, mây thấy trước thì nhà thơ phải đứng ở trên cao, đứng ở trong mây. Nhìn lên thấy
núi và những lớp mây nữa, quả là một phong cảnh vừa trữ tình, vừa mênh mông như thế.
Nhìn lên thấy điệp trùng mây núi. Tác giả không nói đến chữ cao mà vẫn thấy cao vời vợi
nhờ cách sáp xếp hình ảnh núi mây quanh hai chữ ủng. Nhờ biện pháp dùng điệp từ và
nhân hoá đã gợi được hình ảnh một thiên nhiên sống động, tươi vui, giao hoà, ấm áp.
Nhìn xuông thấy dòng sông lặng lẽ, lấp lánh dưới mặt trời. Giang tâm là lòng sông chứ
không phải là dòng sông hay mặt sông. Đó là cái nhìn từ tít trên cao xuống: Giang tâm
như kính tịnh vô trần. Lòng sông sáng như gương không chút bụi, sạch sẽ, trong sáng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status