1
LỜI MỞ ĐẦU
Mở rộng giao thương quốc tế là xu thế chủ đạo và tất yếu trong thời đại ngày
nay. Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nền sản
xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài. Do có sự khác nhau
về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu...mà mỗi quốc gia có thế mạnh trong
việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Điều đó cho thấy, trong nền kinh tế của
các quốc gia, XNK luôn đóng một vai trò quan trọng. Hoạt động này không chỉ tác
động đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại của quốc gia đó
cũng như quyết định tầm ảnh hưởng của quốc gia đó đối với phần còn lại của thế
giới.
Đối với một nền kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ như Việt Nam, việc đặt
XNK vào trọng tâm nền kinh tế lại càng được quan tâm. Xuất khẩu để tận dụng
những lợi thế quốc gia nhằm thu về những khoản ngoại tệ góp phần vào việc phát
triển đất nước; nhập khẩu các máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, các mặt
hàng phù hợp với nhu cầu thị trường. Chủ thể của các hoạt động XNK đó không
phải ai khác mà chính là các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Với đặc điểm là một
nền kinh tế thị trường còn non trẻ, cơ cấu doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở loại
hình vừa và nhỏ, kinh nghiệm ngoại thương hạn chế thì những khó khăn vướng mắc
là điều không thể tránh khỏi. Các vướng mắc này thường nằm ở vốn để thực hiện
đơn hàng, thời gian giao dịch, loại tiền thanh toán, các hình thức thanh toán, biến
động tỷ giá hối đoái, tập quán kinh doanh, sự điều tiết của chính phủ nước đối tác.
Do vậy, cần có sự trợ giúp của ngân hàng thương mại để việc buôn bán suôn sẻ và
hạn chế các rủi ro có thể xảy ra. Tài trợ XNK chính là loại hình dịch vụ ngân hàng
nhằm mục đích đó.
Nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ này, cùng với việc may mắn được
nhận vào thực tập tại phòng kinh doanh dịch vụ, chi nhánh Bến Thành – Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam, là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm về hoạt động
tài trợ XNK cho các doanh nghiệp. Từ đó, kết hợp với những kiến thức đã được đào
tạo tại trường và một số tài liệu chuyên ngành, tôi quyết định chọn đề tài cho báo
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƢƠNG
VIỆT NAM VÀ CHI NHÁNH BẾN THÀNH
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1. Ngân hàng ngoại thƣơng Việt Nam
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Vietcombank chính thức được thành lập theo
Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm
1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương
(nay là Ngân hàng nhà nước). Theo Quyết định nói trên, Vietcombank đóng vai trò
là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các
dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm...), thanh toán quốc tế, kinh doanh
ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho
Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ
nghĩa (cũ)... Ngoài ra, Vietcombank còn tham mưu cho Ban lãnh đạo Ngân hàng
nhà nước về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của
Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ,
Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành
lập lại Vietcombank theo mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết
định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 2 tháng 6 năm 2008 Ngân hàng được chính thức chuyển sang mô hình
Ngân hàng Thương mại cổ phần với tên gọi đầy đủ là “Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank)” (theo giấy phép thành lập và hoạt động ngân
hàng TMCP ngày 23/5/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu
ngày 2/6/2008) sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hoá thông qua việc
phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007.
5
2. Chi nhánh Bến Thành – Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam
2.1 Khái quát chung về Vietcombank Bến Thành
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bến Thành tiền thân là
phòng giao dịch số 1, trực thuộc Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh Thành phố Hồ
Chí Minh từ năm 1994.
Năm 2001, ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đã kiến
nghị lên hội sở chính (VCB TW) về việc thành lập chi nhánh cấp 2 nhằm tạo thuận
lợi trong công tác huy động vốn và cho vay trên địa bàn hoạt động của mình, đồng
thời tăng tính cạng tranh với các ngân hàng khác trong cả nước. Trên cơ sở đó, theo
quyết định số 453/QĐ/TCCB-BT ngày 19/09/2001 của Chủ tịch hội đồng quản trị
ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương CN Bến Thành chính
thức được nâng cấp thành chi nhánh cấp 2 trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam. Qua đó, Vietcombank Bến Thành trở thành một trong những chi nhánh
cấp 2 đầu tiên trong số 10 chi nhánh cấp 2 trực thuộc Vietcombank Hồ Chí Minh.
Tháng 11/2006 Ngân hàng được nâng cấp từ chi nhánh cấp 2 trực thuộc
Vietcombank Hồ Chí Minh lên chi nhánh cấp 1, nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của
ban lãnh đạo của chi nhánh đầu mối Vietcombank Hồ Chí Minh và Vietcombank
Trung ương.
Trụ sở Vietcombank Bến Thành
- Địa chỉ : 69 Bùi Thị Xuân, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP HCM
- Telephone: 08 33835923
- Fax: 08 38325041
Về cơ cấu tổ chức, Vietcombank Bến Thành bao gồm:
Ban lãnh đạo gồm 03 người: 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc.
07 Phòng ban trực thuộc: Phòng Hành chính nhân sự, Phòng Nghiên cứu
tổng hợp, Phòng Kiểm tra nội bộ, Phòng Kế toán thanh toán – quản lý nợ, Phòng
Kinh doanh – dịch vụ, Phòng Ngân quỹ, Phòng quan hệ khách hàng.
Phòng Hành
chính nhân sự
Phòng Nghiên
cứu tổng hợp
Phòng Kiểm tra
nội bộ
Chú thích:
Mối quan hệ chỉ huy
7
Thanh toán quốc tế
Bộ phận quản lý hồ sơ thông tin khách hàng cá nhân
Bộ phận thẻ
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÀI TRỢ XNK
1. Tầm quan trọng của tài trợ XNK đối với nền kinh tế
Nhờ có hoạt động tài trợ XNK, hàng hóa XNK được lưu thông trôi chảy.
Hàng hóa XNK thực hiện thường xuyên theo nhu cầu của thị trường, từ đó tăng tính
năng động cho nền kinh tế quốc gia, đồng thời cũng đảm bảo được tính ổn định của
nền kinh tế.
Việc nhận được tài trợ XNK sẽ làm doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh
doanh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Từ đó tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế
quốc gia phát triển theo.
Bên cạnh đó, khi các ngân hàng thực hiện việc tài trợ XNK, họ đã gián tiếp
phục vụ các chương trình mục tiêu phát triển đất nước, thông qua việc đẩy mạnh
việc tài trợ XNK ở các lĩnh vực được nhà nước khuyến khích và hạn chế nghiệp vụ
này ở những lĩnh vực đang cần thu hẹp về quy mô. Đồng thời, thực hiện tài trợ
XNK sẽ làm cho quan hệ với nước ngoài nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói
riêng mở rộng, từ đó thắt chặt quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
từ tài trợ nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc thanh toán, tạo uy tín đối
với đối tác xuất khẩu. Từ đó, lợi nhuận tăng trưởng, doanh nghiệp sẽ mở rộng kinh
doanh, tạo việc làm, tăng nộp ngân sách nhà nước.
Việc xác định được ngân hàng tài trợ thương mại sẽ tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng. Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ xác
định được năng lực thực hiện hợp đồng và có thể đưa ra các quyết định chính xác.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ được đảm bảo dòng ngân lưu, thực hiện tốt
thương vụ với điều kiện thanh toán ưu đãi cho người mua, tăng sức cạnh tranh trên
thị trường.
9
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẾN THÀNH
GIAI ĐOẠN 2007-2009
I. MỘT SỐ HÌNH THỨC TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẾN THÀNH
1. Tài trợ xuất khẩu
1.1 Chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa
1.1.1 Dịch vụ chiết khấu truy đòi
Vietcombank tạm ứng tới một tỷ lệ nhất định trị giá bộ chứng từ thanh toán
theo L/C (trả ngay hoặc trả chậm không quá 360 ngày) hoặc nhờ thu. Nếu sau đó
Ngân hàng nước ngoài từ chối thanh toán cho bộ chứng từ đã được chiết khấu,
khách hàng phải hoàn trả lại số tiền đã được tạm ứng cho Vietcombank.
Khách hàng
Các doanh nghiệp xuất khẩu theo phương thức thanh toán trả chậm nhưng có
nhu cầu nhận được nguồn vốn sớm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lợi ích khi sử dụng sản phẩm