i
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi học hỏi tôi đã hoàn thành luận văn tốt
nghiệp với đề tài: ” Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả phân phối nước ở
hệ thống thủy lợi nội đồng”.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân
thành tới PGS. TS Trần Chí Trung – Giám đốc trung tâm PIM-Viện khoa học thủy
lợi Việt Nam, PGS.TS Trần Viết Ổn – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi,
các thầy cô giáo trong trường đã đã tận tâm giảng dạy, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo,
truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Thủy Lợi, Khoa Kỹ
thuật tài nguyên nước, Phòng Khoa học công nghệ, phòng Đào tạo Đại học và sau
Đại học và các thầy cô giáo trong nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
khóa học này.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng vì
điều kiện thời gian không cho phép, nên chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu xót,
tác giả rất mong muốn được sự đóng góp ý kiến chân tình của các thầy cô giáo và
các cán bộ khoa học đồng nghiệp để luận văn đạt được chất lượng cao.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Đỗ Xuân Hoan Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I
LỜI CAM ĐOAN II
MỤC LỤC III
DANH MỤC BANG BIỂU V
MỞ ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. 1
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 3
3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN PHỐI
NƯỚC Ở HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG 4
1.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu về các giải pháp phân phối nước trên thế giới 4
1.1.1 Các kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả phân phối nước 4
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu về các giải pháp phân phối nước 9
1.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về các giải pháp phân phối nước ở nước ta 10
CHƯƠNG II ĐỀ XUÁT PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÂN
PHỐI NƯỚC Ở HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG 16
2.1 Đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả phân phối nước cho hệ thống thủy lợi
nội đồng 16
2.1.1 Cơ sở khoa học xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước
của hệ thống thủy nông 16
2.2 Phương pháp xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả phân phối nước ở hệ
Bảng 1.1. Áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới 6
Bảng 1.2 Kết quả các chỉ tiêu so sánh ở hệ thống Alto Rio Lernma và 2 tiểu khu
tưới Cortaza và Salvatierra 8
Bảng 1.3 Kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước của 3 hệ thống
thuỷ nông N22A, Ngòi Là và N4B 12
Bảng 1.4. Kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý ở hệ thống Ngòi Là,
Nam Thạch Hãn và Nam Đuống 13
Bảng 1.5 Kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vận hành, phân phối nước của hệ
thống thuỷ nông Nam Thạch Hãn 14
Bảng 3.1 Diện tích và năng suất cây trồng 26
Bảng 3.2.Thống kê cống lấy nước vào kênh cấp 3 khu mẫu N6 29
Bảng 3.3. Thống kê cống lấy nước đầu kênh cấp 3 trên kênh N20 32
Bảng 3.4 Hệ thống mạng lưới trạm khí tượng 38
Bảng 3.5. Đặc trưng khí hậu trạm Đô Lương 39
Bảng 3.6 .Đặc trưng khí hậu trạm Quỳnh Lưu 40
Bảng 3.7. Thông số cây trồng của lúa Đông xuân 41
Bảng 3.8. Thông số cây trồng của Lúa Hè thu 41
Bảng 3.9. Nhu cầu tưới cho vụ Đông xuân ở kênh N6 42
Bảng 3.10 .Nhu cầu tưới vụ Hè thu ở kênh N6 43
Bảng 3.11.Nhu cầu tưới vụ Đông xuân ở kênh N20 43
Bảng 3.11 Nhu cầu tưới vụ Hè thu ở kênh N20 44
Bảng 3.12. Thống kê các dạng cống lấy nước trên kênh N6 và N20 46
Bảng 3.13. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước 51
Bảng 4.1. Phân nhóm khu tưới N6 54
Bảng 4.2 Thời gian tưới tính toán cho kênh N6 54
Bảng 4.3 Phân nhóm khu tưới N20 55
Bảng 4.4 Thời gian tưới tính toán cho N20 56
Bảng 4.5 Lịch tưới sau khi đã điều chỉnh của khu tưới N6 57
Bảng 4.6. Lịch tưới sau khi đã điều chỉnh của khu tưới N20 59
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
Hình 3.3. Bình quân chỉ số lượng cấp nước tương đối của các đợt tưới trong vụ
Hè thu năm 2012 50
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Phát triển nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế ở
nước ta, trong khi đó hệ thống thuỷ lợi có nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc
phát triển nông nghiệp. Tổng diện tích tưới của các hệ thống thuỷ lợi ở nước ta
khoảng 3,4 triệu ha đất canh tác, tương ứng với khoảng gần 6,85 triệu ha lúa hàng
năm. Các hệ thống thuỷ lợi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho
sản xuất nông nghiệp.
Các hệ thống thủy lợi được nhà nước quan tâm đầu tư qua hàng chục năm đến
nay đã tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là tình trạng xuống cấp, năng
lực phục vụ của các hệ thống thủy lợi còn thấp, mới chỉ đạt trung bình trên 70%.
Một trong các nguyên nhân quan trọng đó là việc thất thoát nước trong quá trình
vận hành khai thác; thiếu phương tiện kiểm soát lượng nước; giải pháp phân phối
nước chưa phù hợp; mô hình tổ chức quản lý còn nhiều bất cập. Và đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, việc bố trí kinh phí duy tu bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên
cho các hệ thống thủy lợi nói chung, công trình thủy lợi nội đồng nói riêng có xu
hướng giảm xuống.
Về công tác đo đếm và kiểm soát lượng nước phân phối trên hệ thống kênh tưới
chưa được quan tâm, đặc biệt là ở các hệ thống thủy lợi nội đồng. Hầu hết các hệ
thống công trình thuỷ lợi ở nước ta đều được xây dựng từ lâu, thiếu các công trình
trên kênh. Các công trình trên kênh chủ yếu là các cửa lấy nước, gần như không có
công trình đo nước, chỉ có một số công trình điều tiết nước ở trên hệ thống kênh
chính và kênh cấp 2, đặc biệt là không có các công trình điều tiết nước ở các cấp
hiện đại hoá thì việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp điều tiết, phân phối nước sử
dụng công trình đo nước, điều tiết nước và qui trình vận hành hệ thống thuỷ lợi nội
đồng là cần thiết. Phân phối nước hiệu quả trên hệ thống thuỷ lợi nội đồng là cơ sở
thực tiễn quan trọng cho việc thực hiện hợp đồng cung cấp nước giữa Công ty khai
thác công trình thuỷ lợi và các tổ chức dùng nước khi thực hiện Nghị định 115 của
Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí. Kiểm soát tốt lượng nước phân phối là yếu tố
quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý các hệ thống thuỷ lợi, đặc biệt là hiệu quả về
tiết kiệm nước và phân phối nước công bằng giữa các hộ dùng nước.
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
3
Chính vì vậy, đề tài : “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả phân phối
nước ở hệ thống thủy lợi nội đồng” tập trung giải quyết được một phần các vấn đề
nêu trên. Việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả phân phối nước ở
hệ thống thủy lợi nội đồng có ý ngía khoa học và thực tiễn cao trong việc áp dụng
các biện pháp quản lý, vận hành khai thác hiệu quả tài nguyên nước.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đề xuất phương pháp đánh giá hiệu quả phân phối nước và quy trình
phân phối nước nâng cao hiệu quả phân phối nước ở hệ thống thủy lợi nội đồng
3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Cách tiếp cận:
- Theo quan điểm phân tích nguyên nhân và kết quả để đánh giá hiệu quả phân
phối nước
- Theo quan điểm phân tích hệ thống trong việc phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả phân phối nước
- Theo quan điểm bền vững trong việc đề xuất các giải pháp quản lý, khai thác
hiệu quả tài nguyên nước
* Phương pháp nghiên cứu:
- Áp dụng phần mềm CROPWAT để tính toán nhu cầu nước của cây trồng
- Đo đạc thực nghiệm xác định lượng nước cấp ở hệ thống thủy lợi nội đồng
lợi.
Hoạt động của hệ thống thuỷ lợi liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã
hội của người dùng nước. Có nhiều ý kiến đưa ra định nghĩa về quản lý tưới, trong
đó định nghĩa của Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) được nhiều người biết đến là:
"Quản lý tưới là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu cho một hệ
thống tưới, từ đó thiết lập nên các điều kiện thích hợp, huy động các nguồn lực khác
nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác động xấu nào ". Tiến sĩ
Mark Svedsen cho rằng không có bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức
năng làm việc quá một vài năm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cấp
nó". Sự thành công của hệ thống thuỷ lợi cần cả hai yếu tố "Phần cứng" và "Phần
mềm". Phần cứng ở đây gồm công trình đầu mối, hệ thống kênh mương, công trình
điều tiết và các trang thiết bị, còn phần mềm là công tác quản lý hệ thống thuỷ
nông. Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) định nghĩa: “Hiệu quả tưới của hệ thống
là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống đó”. Theo
Murray Rust và Snellen (1993) thì hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý là: (1)
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
5
mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm,
dịch vụ nhất định nào đó và (2) hiệu quả có được do hoạt động của các tổ chức toàn
quyền sử dụng những nguồn lực của mình. Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) định
nghĩa: “Hiệu quả tưới của hệ thống là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu
đề ra đối với hệ thống đó”. Theo Murray Rust và Snellen (1993) thì hiệu quả hoạt
động của tổ chức quản lý là: (1) mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc
người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đó và (2) hiệu quả có
được do hoạt động của các tổ chức toàn quyền sử dụng những nguồn lực của mình.
Vào những năm gần đây, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình
quản lý thuỷ nông để tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả cuả các công trình
thuỷ lợi rất được quan tâm. Đối với hệ thống thuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ
thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượng sản phẩm nông nghiệp thu được khi có
Mặt
ruộng
Chỉ tiêu so sánh
Hệ số cấp nước tương đối
V
v
v
Hệ số cấp nước tưới tương đối
V
v
x
Khả năng cấp nước
V
v
x
Chỉ tiêu quá trình
Hiệu quả tưới (chuyển nước, phân phối
nước, sử dụng nước mặt ruộng, hiệu quả hệ
thống)
V
v
v
Độ tin cậy cuả việc phân phối nước
V
-Các tiêu chí đánh giá theo hiệu quả phân phối nước: Tỷ số hiệu quả phân phối nước càng gần 1 thì độ công bằng phân phối nước
của hệ thống càng tốt. Trường hợp chỉ tiêu hiệu quả phân phối nước được tính toán
cho nhiều khu tưới khác nhau, các giá trị hiệu quả phân phối nước đều giống nhau
chứng tỏ sự phân phối nước công bằng trong hệ thống thuỷ lợi. Chỉ tiêu so sánh
hiệu quả phân phối nước đầu-cuối kênh được đánh giá mức độ công bằng của
việc phân phối nước trong một hệ thống thuỷ lợi. Hiệu quả phân phối nước được
tính bằng tỷ số giữa lượng nước thực tưới so với lượng nước thiết kế tại đầu các
kênh nhánh cung cấp nước tưới cho nhiều khu tưới khác nhau trong hệ thống
thuỷ lợi.
Phân phối nước công bằng =
Bình quân HQPPN của 25% tốt nhất hệ thống
Bình quân HQPPN của 25% kém nhất hệ thống
Công bằng đầu cuối =
Bình quân HQPPN của 25% đầu kênh
định đảo nghịch với hiệu quả tưới. Cả 2 hệ số cấp nước tương đối và cấp nước tưới
tương đối biểu thị mối liên quan giữa lượng nước cấp và lượng nước yêu cầu cho
thấy nguồn nước tưới là dồi dào hay khan hiếm và mức độ đáp ứng đáp ứng nhu cầu
tưới của đồng ruộng
Bảng 1.2 Kết quả các chỉ tiêu so sánh ở hệ thống Alto Rio Lernma và 2 tiểu khu
tưới Cortaza và Salvatierra
Loại công trình Vụ
Alto Rio
Lernma
Alto Rio
Lernma
Salvatierra
Khai thác nước mặt Hệ số cấp nước tương
đối
Đông 1995-96
2.4
2.1
4.4
Mùa 1996
1.9
1.9
2.0
Hệ số cấp nước tưới
tương đối
Đông 1995-96
2.2
2.2
2.2
Mùa 1996
0.0
26.4
16.7
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
9
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu về các giải pháp phân phối nước
Năm 2004, Viện quản lý nước quốc tế (IWMI) đã đưa ra 2 phương pháp lập kế
hoạch tưới luân phiên ở hệ thống thủy lợi nội đồng là: Phương pháp lập kế hoạch
tưới luân phiên theo diện tích và theo nhu cầu nước của cây trồng ở kênh nội đồng
(kênh cấp 3).
Phương pháp lập kế hoạch tưới luân phiên theo diện tích:
T
i
= 240 x K
i
Ki = A
i
/A
Trong đó: T
i
= Thời gian tưới cho kênh thứ i (h)
với hệ thống thủy lợi nội đồng nhưng chưa tính đến các tổn thất trên kênh (tổn
thất dọc đường trên kênh, thời gian làm đầy nước trên kênh cấp 3, thời gian tiêu
thoát nước khỏi kênh). Để khắc phục nhược điểm này, Latif và Sawar (1994) đã
đưa ra phương pháp lập kế hoạch tưới luân phiên xét đến tổn thất nước trên kênh.
Phương pháp này đã tính đến các loại tổn thất, tính chính xác cao nhưng cách
tính phức tạp, số liệu đầu vào yêu cầu nhiều đo đạc thực nghiệm với khối lượng
lớn và chỉ thực hiện được với hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, đầy đủ các công
trình điều tiết. Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
10
Trong đó: T
i
= Thời gian tưới cho kênh thứ i (h)
A
i
= Diện tích phục vụ của kênh thứ i (m
3
)
Q
li
= Lưu lượng tổn thất dọc đường kênh thứ i (m
3
/m.s)
L
i
= Chiều dài của kênh thứ i (m
3
thống lượng nước cấp tới 230% so với yêu cầu.
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
11
Hình 1.1 Kết quả đo đạc xác định độ công bằng phân phối nước ở
hệ thống thủy lợi La Khê
Trần chí Trung (2005) phân tích hiệu quả phân phối nước của 3 mô hình khác
nhau để quản lý hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã. Mô hình thứ nhất là mô hình
Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL), mô hình thứ hai là mô hình Ban
quản lý công trình thuỷ lợi và mô hình thứ ba là mô hình hợp tác xã dùng nước. Mô
hình thứ nhất là rất phổ biến hiện nay, trong khi hai mô hình sau mới được áp dụng
ở một số dự án điểm nhờ có chính sách cải cách thể chế quản lý thuỷ nông ở một số
tỉnh. Sự hoạt động của 3 mô hình thể chế trên được phân tích dựa trên 3 điểm
nghiên cứu tương ứng là N22A, Ngòi Là và N4B ở 2 hệ thống thuỷ lợi khác nhau.
Kênh N22A và N4B là các kênh cấp 2 liên xã của hệ thống tưới Bắc Nghệ An, một
hệ thống tự chảy lớn có diện tích tưới gần 21.000 ha ở tỉnh Nghệ An thuộc khu vực
miền Trung. Ngòi Là là một hệ thống hồ chứa, có dung tích 3,2 triệu m
3
ở tỉnh
Tuyên Quang thuộc khu vực phía Bắc. Tất cả các điểm nghiên cúư này đều có diện
tích tưới khoảng vài trăm hecta, phục vụ tưới cho các xã khác nhau. Kết quả xác
định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước được thu thập, đo đạc vụ xuân
năm 2003 được trình bầy ở Bảng 1.3
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
12
Bảng 1.3 Kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước của 3 hệ thống
dụng” (2001-2005) do Viện khoa học Thuỷ lợi thực hiện đã đưa ra hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá nhanh (RAP) dùng để đánh giá hiệu quả các công trình thuỷ lợi.
Nhóm nghiên cứu đã đễ xuất các nhóm chỉ tiêu phù hợp với điều kiện Việt Nam là
nhóm chỉ tiêu kỹ thuật, nhóm chỉ tiêu về quản lý vận hành và dịch vụ và nhóm chỉ
tiêu về kinh tế xã hội, với 92 chỉ tiêu đánh giá. Để minh chứng về tính xác thực và
sự phù hợp của các chỉ tiêu đánh giá với điều kiện của nước ta, các chỉ tiêu này đã
được áp dụng, kiểm nghiệm ở 3 hệ thống đang được xem xét để đầu tư hiện đại hoá
là hệ thống thuỷ nông Ngòi Là, Nam Thạch Hãn và Nam Đuống ở các tỉnh Tuyên
Quang, Quảng Trị và Bắc Ninh. Kết quả tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
quản lý, vận hành của các hệ thống thuỷ nông trên với thang điểm tối đa là 4 điểm
được trình bầy ở Bảng 1.4.
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
13
Bảng 1.4. Kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý ở hệ thống Ngòi Là,
Nam Thạch Hãn và Nam Đuống TT
Chỉ tiêu đánh giá
Hệ thống thuỷ lợi
Ngòi Là
Nam
Thạch
Hãn
Nam
Đuống
1
Dịch vụ phân phối nước thực tế tới từng
đơn vị dùng nước (ví dụ: ruộng hoặc trang
Đánh giá về các cống lấy nước từ kênh
chính
1,7
2,0
2,0
7
Chỉ tiêu đánh giá vận hành kênh chính
3,5
2,1
2,4
8
Chỉ tiêu đánh giá vận hành kênh cấp II
2,4
2,1
2,1
Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu đánh giá về dịch vụ và mô hình vận
hành của hệ thống đối với hệ thống Ngòi Là có chỉ số cao hơn so với Nam Thạch
Hãn và Nam Đuống. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân như
phương thức vận hành, hiện trạng hệ thống, dịch vụ phân phối nước hiện tại chưa
tốt, việc cấp nước vẫn chưa bám sát thực tế, sự phối hợp giữa các cấp vận hành trên
hệ thống chưa chặt chẽ. Các chỉ tiêu đánh giá kênh chính của cả 3 hệ thống không
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
14
chênh lệch quá nhiều, nhìn chung ở cả 3 hệ thống công trình điều tiết cũng như các
cống lấy nước trên kênh chính là chưa thực sự tốt, các chỉ số thấp nhất là 1,3 và cao
nhất là 2,6 so với thang điểm tối đa là 4. Các chỉ tiêu đánh giá kênh cấp II bao gồm
các chỉ tiêu về các cống điều tiết của Nam Thạch Hãn (2,4) và Nam Đuống (1,6),
Ngòi Là (0). Các công trình lấy và dẫn nước trên kênh thì ở Ngòi Là lại được đánh
Hệ số sử dụng nước tương đối
2
5
Khả năng cung cấp nước
2.3
6
Công bằng trong phân phối nước
1
7
Hiệu ích hệ thống
2
Kết quả nghiên cứu này cho thấy hiệu quả phân phối nước tưới của diện tích tưới
đầu kênh và cuối kênh là như nhau, tức là chỉ tiêu công bằng phân phối nước của hệ
thống đạt giá trị 1, là giá trị tốt nhất mà nhiều hệ thống thuỷ nông khác mong muốn
đạt được. Với giá trị này thì công bằng trong phân phối nước của hệ thống là rất tốt,
chứng tỏ hệ thống không xảy ra tình trạng đầu kênh thừa nước, cuối kênh thiếu
nước như ở một số hệ thống khác.
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
15
Ở Việt nam trong những năm gần đây giải pháp điều tiết, phân phối nước
trong hệ thống thủy lợi nói chung và hệ thống thủy lợi nội đồng nói riêng đã được
chú trọng nghiên cứu theo hướng hiện đại hoá. Đầu tư của Nhà nước cho các hệ
thống thủy lợi tưới nước mặt đã được phát triển rất nhanh chóng. Vấn đề đặt ra là
làm cách nào để cải tiến, từng bước hiện đại hoá công tác quản lý và phân phối
ĐỀ XUÁT PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÂN PHỐI NƯỚC Ở
HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG
2.1 Đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả phân phối nước cho hệ thống thủy
lợi nội đồng
2.1.1 Cơ sở khoa học xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân phối nước
của hệ thống thủy nông
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy nông, các nhà nghiên cứu rất
quan tâm tới việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của một hệ
thống thuỷ nông. Theo Sakthivadivel và cộng sự (1998), hiệu quả tưới cần được đánh
giá cho những mục tiêu khác nhau, như là cho mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống thuỷ lợi, đánh giá mức độ hiệu quả đạt được so với yêu cầu đặt ra, đánh
giá sự bền vững của hệ thống, đánh giá sự tác động tới hiệu quả tưới của những giải
pháp khác nhau, của những mô hình tổ chức quản lý, để chẩn đoán những tồn tại, hạn
chế của hệ thống, để so sánh hiệu quả hoạt động giữa các hệ thống và so sánh hiệu
quả hoạt động của một hệ thống theo thời gian hoặc ở các cấp kênh khác nhau. Theo
đó, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các hệ thống thuỷ nông được sử
dụng cho nhiều mục đích khác nhau bởi các đối tượng khác nhau, như người dùng
nước, người quản lý, nhà lập chính sách và người nghiên cứu:
+ Phục vụ cho việc quản lý: Cung cấp cho các nhà quản lý về thực trạng hoạt
động và chỉ ra những giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động công trình
+ Phục vụ cho việc nghiên cứu chẩn đoán: Giúp cho các nhà quản lý, người
lập chính sách, nhà nghiên cứu, người dân hiểu rõ hơn về thực trạng công trình và
chỉ ra các giải pháp đê nâng cấp hệ thống
+ Phục vụ so sánh hiệu quả hoạt động trong hệ thống và giữa các hệ thống
thuỷ lợi
+ Phục vụ cho đánh giá tác động của các giải pháp tới hiệu quả hoạt động
của công trình.
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
7. Tiếp thu các quan điểm về quản lý trong phạm vi các tổ chức quản lý tưới
quốc gia
Học viên: Đỗ Xuân Hoan Lớp cao học: 20Q21
18
8. Lựa chọn hướng phát triển quản lý ở các hệ thống tưới
Đặc điểm chung của các chỉ tiêu đánh giá là cần phản ánh cả giá trị thực tế và
giá trị cần đạt được để thấy được sự khác nhau giữa thực tế và mục tiêu đặt ra. Các
chỉ số này cũng cho thấy sự sai khác nay là có thể chấp nhận được hay không. Do
vậy mà các chỉ tiêu thường được xác định dưới dạng tỷ số giữa giá trị thực tế và giá
trị mục tiêu cần đạt. Bos và cộng sự (1994) đưa ra những đặc điểm của các chỉ tiêu
(chỉ số) đánh giá như sau:
1. Có cơ sở khoa học: Chỉ tiêu đánh giá cần dựa trên quá trình thực tế đã được
đo đạc, kiểm nghiệm về hoạt động của hệ thống tưới mà chỉ tiêu cần phản ánh. Sự
sai khác giữa kết quả thực tế và mục tiêu là rõ ràng, có nghĩa là không gây nên sự
mập mờ do công thức tính toán chỉ tiêu.
2. Phải định lượng được: Các số liệu cần thiết để xác định các chỉ tiêu là có
sẵn hoặc đo đạc được môt cách đơn giản với các công nghệ hiện có. Sự đo đạc phải
lặp lại được.
3. So sánh được với mục tiêu đề ra: Điều này được phản ánh rõ ràng qua việc
định nghĩa chỉ tiêu đánh giá, nghĩa là các chỉ tiêu cần phản ánh giá trị thực tế, giá trị
mong muốn đạt được và sự sai khác giữa thực tế và mục tiêu đặt ra. Các giá trị thực
tế và sự sai khác với mục tiêu đặt ra liên quan đến kỹ thuật, công nghệ đo đạc các số
liệu và tình hình quản lý.
4. Cung cấp thông tin chân thực: Các chỉ tiêu không nên thiết lập dựa trên các
kỹ thuật quá chuyên sâu. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc xác định chính xác các
sô liệu.
5. Cung cấp thông tin về qúa trình có thể lặp lại và đo đạc được: Yêu cầu này
rất nhạy cảm đối với quan điểm của người quản lý. Một vài quá trình không thể lặp
lại hoặc không đo đạc được cũng có thể là các chỉ tiêu tốt, mặc dù chỉ phản ánh một