1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Biến đổi khí hậu được coi là có tác động mạnh mẽ nhất đối với hệ thống
công trình thủy lợi. Các nhà khoa học cho rằng các hiện tượng khí hậu cực đoan
với tần suất và cường độ ngày càng tăng đã xảy ra trên hầu hết các vùng miền
của Việt Nam đều do nguyên nhân của Biến đổi khí hậu. Hiện tượng tăng nhiệt
độ toàn cầu có tác động lớn đối với sự bốc hơi, điều đó ảnh hưởng đến lưu trữ
nước trong khí quyển và do đó cũng ảnh hưởng đến cường độ, tần suất và cường
độ mưa cũng như sự phân phối mưa theo mùa và vùng địa lý cũng như sự biến
thiên hàng năm của nó. Do đó trong quá trình ra quyết định, các nhà quản lý
thủy lợi đặc biệt phải đối mặt với thách thức trong việc kết hợp tính không chắc
chắn các tác động biến thiên của khí hậu và biến đổi khí hậu để thích ứng. Điểm
mấu chốt là các vấn đề thực tế họ sẽ phải đối mặt (hiện tại và tương lai) trong
lĩnh vực thủy lợi phục vụ cho nông nghiệp. Hiện tượng biến đổi khí hậu có thể
hiểu được bằng cách đánh giá hiện trạng khí hậu (quá khứ đến hiện tại) để xem
xét các tác động của nó đến sự phát triển trong tương lai, bao gồm cả những thay
đổi từ từ và đột ngột đến hệ thống thủy lợi.
Hệ thống thuỷ nông Hải Hậu tỉnh Nam Định đã được xây dựng từ lâu, trải
qua nhiều năm khai thác đến nay một số các công trình này đã bị xuống cấp, bị
hư hỏng nhưng chưa được sửa chữa, nâng cấp kịp thời, không đáp ứng được yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong hệ thống.
Cũng như nhiều hệ thống thuỷ lợi khác ở khu vực Bắc Bộ, trên hệ thống
thủy nông Hải Hậu đang có sự chuyển dịch rất mạnh về cơ cấu cây trồng, nhu
cầu sử dụng của các ngành tăng mạnh, phải phục vụ thêm các nhu cầu cấp nước
phục vụ các ngành kinh tế khác mà trước kia chưa tính toán đến Trong hệ
thống đang tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu tưới và khả năng đáp ứng của các
công trình thuỷ lợi đã có. Do có địa hình có diện tích tiếp xúc trực tiếp với biển
lớn, nên HTTN Hải Hậu là một trong những vùng chịu tác động rất mạnh của
2
biến đổi khí hậu toàn cầu. Liên tiếp trong các năm 2003, 2004 và 2008 hệ thống
- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu: Là cách tiếp cận dựa trên nhu cầu sử dụng
nước hoặc định mức sử dụng nước của các đối tượng dùng nước, qua đó xây
dựng các giải pháp cấp nước tối ưu cho các đối tượng dùng nước.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng, thu thập các số liệu, tài liệu;
- Phương pháp thống kê; phân tích tổng hợp
- Phương pháp kế thừa.
- Phương pháp mô hình thủy văn, thủy lực
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống thủy nông Hải Hậu bao gồm địa phận huyện Hải Hậu và một
phần thuộc huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập chung nghiên cứu, đánh giá hiện trạng của hệ thống thủy
nông Hải Hậu tỉnh Nam Định, nghiên cứu hưởng của biến đổi khí hậu ứng với
kịch bản trung bình B2 những năm 2030 và 2050 ảnh hưởng đến khả năng đáp
ứng yêu cầu tưới qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cấp
nước cho hệ thống.
4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về Biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Khái niệm về Biến đổi khí hậu
Khí hậu của trái đất luôn luôn thay đổi. Trước đây, sự thay đổi này mang
tính tự nhiên. Kể từ đầu thế kỷ 19 thuật ngữ biến đổi khí hậu bắt đầu được sử
dụng khi nói đến những sự thay đổi khí hậu được so sánh tại thời điểm nói đến
và những dự báo trong vòng khoảng 80 năm sau đó mà nguyên nhân thay đổi
chủ yếu là do những hoạt động của con người gây ra hơn là những thay đổi tự
nhiên trong bầu khí quyển.
Nam cực tăng hêm từ 1 ÷ 2
0
C so với vùng vĩ độ thấp. Ở vùng Bắc bán cầu từ vĩ
độ 30
0
B trở lên, về mùa Đông (tháng 10 đến tháng 4 năm sau) nhiệt độ tăng thêm
4 ÷ 12
0
C. Ngược lại vào mùa hè (tháng 6,7,8) chỉ tăng thêm khoảng 2
0
C ở vùng vĩ
độ từ 300B trở xuống, vào các tháng 11, 12 cũng có thể tăng đến 4
0
C.
Mưa trở nên thất thường hơn. Cường độ mưa thay đổi. Những vùng mưa
nhiều, lượng mưa trở nên nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn. Các vùng hạn trở
nên hạn hơn. Khi tăng gấp đôi lượng phát thải khí CO
2
, lượng mưa tăng ở các
vùng vĩ tuyến cao và các vùng nhiệt đới trong tất các các mùa trong năm, còn ở
vĩ tuyến trung bình về mùa đông, lượng mưa tăng 10 ÷ 20%, ở các vùng từ vĩ độ
35 ÷ 55
0
N lượng mưa tăng không đáng kể. Theo các kết quả nghiên cứu cho
thấy bốc hơi thay đổi theo 4 mùa, nếu lượng mưa tăng 10÷30% thì lượng bốc
hơi tăng 10÷15%.
Theo bản Báo cáo về kịch bản phát thải của IPCC, 2000 (SRES,2000) thì
lượng phát thải khí CO2 từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ tăng lên
khoảng 40-110% trong khoảng thời kỳ 2000-2030. Thêm vào đó tương ứng với
kịch bản phát thải của SRES thì trong vòng 2 thập kỷ tới nhiệt độ trái đất sẽ ấm
1,7-4,4
2,0-5,4
2,4-6,4
Nhiệt độ bề mặt địa cầu ngày càng tăng đối với từng lục địa và cho từng
kịch bản giai đoạn 1900-2100 (Hình 1.1). Có thể thấy rằng sự ấm của bề mặt
6
trái đất trải dải hầu khắp các lục địa, trải dài từ vĩ độ Bắc xuống gần Nam Cực
và Bắc Đại Tây Dương. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng kéo
dài, mưa lớn xuất hiện với tần suất và cường độ ngày càng tăng cho thời kỳ
2020-2029 và 2090-2099.
(Nguồn IPCC-AR4, 2007)
Hình 1.1: Hình trái: Nhiệt độ thay đổi theo từng kịch bản của SRES. Hình phải: Dự
báo nhiệt độ thay đổi vào đầu và cuối thế kỷ 21.
1.1.2.1 Tác động của Biến đổi khí hậu tới Tài nguyên nước
Biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới
tác động của biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng nhất định tới việc cấp
nước cho các ngành dùng nước. Mưa lớn và tuyết rơi xảy ra thường xuyên hơn
tại các vùng vĩ độ cao và trung bình tại bắc Bán cầu trong khi lượng mưa giảm
xuống tại vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Tại nhiều vùng của Châu Âu, miền
Trung Canada, bang California đỉnh lũ chuyển từ mùa xuân sang mùa hè do
giáng thủy chuyển chủ yếu từ tuyết rơi sang mưa. Tại Châu Phi, các lưu vực
sông lớn như sông Nile, hồ Chad và Senegal, lượng nước có thể khai thác giảm
khoảng 40-60%.
Thay đổi về phân bố mưa trong năm sẽ ảnh hưởng đến lượng nước có thể
khai thác được. Kết quả của các mô hình dự báo biến đổi khí hậu cho thấy tại
nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô.
Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm
xuống các tầng chứa nước dưới đất. Điều này làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa
và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm sẽ suy giảm. Ngoài ra, khả
trầm trọng. Ước tính hiện nay 1,7 tỷ người sống trong các khu vực căng thẳng
về nước, dự báo đến năm 2025 con số này sẽ tăng vọt lên tới gần 5 tỷ người.
Các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là các vùng khô hạn và bán khô hạn, các
vùng đất thấp, các đồng bằng và các đảo nhỏ. Xung đột về nước giữa các quốc
gia, giữa các vùng, các ngành dùng nước sẽ ngày càng trở lên căng thẳng, đôi
khi dẫn tới xung đột về chính trị hoặc quân sự.
Tác động tới quản lý nguồn nước
BĐKH sẽ làm nguồn nước mặt và nước ngầm tại những vùng khác nhau
thay đổi cả về chất và lượng theo những hướng hướng khác nhau. Băng và tuyết
tan sẽ làm dòng chảy lũ tại những lưu vực vùng ôn đới xảy ra sớm hơn và với
cường độ lớn hơn, gây ảnh hưởng tới khoảng 1/6 dân số thế giới. Cho đến 2050,
sẽ có thêm 260 đến 980 triệu dân chịu tác động của khan hiếm nước làm cho
tổng số dân chịu tác động này lên tới từ 4,3 đến 6,9 tỷ người. Ngược lại, khoảng
8
20 % dân số thế giới sẽ chịu tác động của úng ngập do lũ thượng lưu và nước
biển dâng mà đặc biệt là tại đồng bằng các sông Nile, sông Hằng và sông Mê
Kông. Ngoài ra, những thiệt hại do nguồn nước gây ra còn thể hiện ở những thay
đổi về chất lượng nước như xâm nhập mặn, ô nhiễm lý hoá tính, ô nhiễm nhiệt.
Những thay đổi trên sẽ là những thách thức lớn cho lĩnh vực quản lý
nước, lĩnh vực được coi là chìa khoá trong ứng phó với BĐKH (UNFCCC,
2007; Op. cit., 2007). Những giải pháp thích ứng trong quản lý nước tập chung
vào nâng cao hiệu quả sử dụng nước (sản lượng nông sản do một đơn vị nước
tưới mang lại) đối với những vùng khan hiếm nước; bảo vệ tài sản và tiêu thoát
nước đối với vùng có nguy cơ bị úng ngập nặng. Các giải pháp này đề cập đến
tất cả các qui mô (từ mặt ruộng tới liên lưu vực - Transboundary) cũng như các
hoạt động liên quan tới quản lý nước (phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ nguồn
nước và phân phối nước). Tuy nhiên, vấn đề cạnh tranh về nguồn nước giữa
nông nghiệp và những đối tượng sử nhu cầu nước phi nông nghiệp cần được
quan tâm trên diện rộng. Các giải pháp ứng phó như Quản lý tổng hợp nguồn
nước (Intergrated Water Management), quản lý lưu vực sông (River Basin
chiếm tới 1,5 triệu cái chết mỗi năm do bệnh tiêu chảy. Tại châu Mỹ La tinh và
Caribe (LAC) xấp xỉ 77600 trẻ em dưới 5 tuổi, trên 200 trẻ em mỗi ngày, chết
do các bệnh về tiêu chảy và những biến chứng của chúng.
- Một số nhà nghiên cứu đã thiết lập một sự liên kết giữa mưa lớn và lũ lụt
và những hiện tượng khí tượng bất thường khác tới sự bùng phát của các dịch
bệnh truyền nhiễm. Các sự kiện khí hậu cực đoan có thể dễ dàng phá vỡ sự lọc
nước mưa và nước thải, cũng như gây nhiễm bẩn tới nguồn nước mặt và các hệ
thống giếng không có tầng bảo vệ bề mặt, dẫn tới gia tăng những rủi ro về dịch
bệnh.
- Hậu quả tác động của biến đổi khí hậu đã được Ủy ban Liên chính phủ
về Biến đổi khí hậu (IPPC) khẳng định thông qua các dạng thiên tai như: sóng,
nhiệt, nóng, lũ lụt, hạn hán gây ra chết chóc và bệnh tật. Đặc biệt là các căn
bệnh gia tăng dưới tác động của nhiệt như: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não
(truyền qua muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các bệnh suy
dinh dưỡng, bệnh phổi Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng
kinh tế kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
1.1.2.2. Một số tác động tích cực của BĐKH
Trong nghiên cứu của IPCC năm 2001, dựa trên cơ sở các mô hình mô
phỏng dự báo và các nghiên cứu khác đã chỉ ra một số ảnh hưởng tích cực của
BĐKH như sau:
- Tăng lượng nước cho cộng đồng ở một số vùng khan hiếm nước, ví dụ
một số vùng Đông Nam Á;
- Giảm nhu cầu năng lượng để sưởi do nhiệt độ cao hơn vào mùa đông;
- Tăng sản lượng cây trồng ở một số vùng ôn đới do sự gia tăng nhiệt độ
khoảng vài độ C;
- Giảm tỷ lệ tử vong ở các vùng vĩ độ cao;
- Tăng cung cấp gỗ toàn cầu do các khu rừng được quản lý hợp lý.
Những mô tả trên cho thấy mức độ tổn thương hay tác động của BĐKH
rất đa dạng và ảnh hưởng tới tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
10
C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5
0
C
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 - 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và
trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu
phía Nam. Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua
(1958 - 2007) đã giảm khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các nơi: ở Hà Nội và tp.Hồ
Chí Minh, lượng mưa trung bình năm của các thập kỷ sau 1950 có xu thế giảm
so với trước đó. Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, lượng mưa có xu thế giảm. Riêng ở
Đà Nẵng lượng mưa có xu thế tăng, nhất là thập kỷ 1991 – 2000 (Nguyễn Đức
Ngữ,2010).
+ Số ngày mưa phùn giảm rõ rệt, nhất là trong thập kỷ 1991 – 2000.
+ Số ngày mưa lớn và mưa lớn trái mùa tăng lên.
+ Dự tính đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm ở các vùng đều tăng, 7-10%
ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ,2-5% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ so
với trung bình thời kỳ 1980-1999.Đáng chú ý là lượng mưa tăng chủ yếu do
lượng mưa mùa mưa tăng. Trái lại, lượng mưa mùa khô giảm, trong đó giảm
nhiều nhất ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (15 - 20%) (Nguyễn Đức Ngữ,
2010).
- Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi
rõ rệt trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất
hiện mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày
trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia
ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
- Bão: Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn.
Quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc
Bắc và Từ 106
0
11’ đến 106
0
22’ kinh độ Đông, được giới hạn bởi:
Phía Bắc và giáp sông Ninh Cơ và huyện Xuân Trường
Phía Đông Bắc giáp sông Sò
Phía Đông, Đông Nam giáp vịnh Bắc bộ
Phía Tây, Tây Bắc giáp sông Ninh Cơ
Hình 1.5: Bản đồ hệ thống thủy nông Hải Hậu
Hệ thống thủy lợi sông Hải Hậu bao gồm toàn bộ diện tích huyện Hải Hậu
và diện tích 6 xã huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Diện tích tự nhiên của hệ thống
14
là 27.126,77ha, trong đó diện tích trong đê: 26.820 ha, diện tích ngoài đê 306,77ha.
Diện tích đất nông nghiệp 19.917ha, diện tích không canh tác là 7.994ha.
1.2.1.2 Đặc điểm địa hình
Bề mặt địa hình ở hệ thống thủy nông Hải Hậu tương đối bằng phẳng, với độ
dốc địa hình rất nhỏ (trung bình 9 mm/km), có xu thế thấp dần từ Tây bắc xuống
Đông nam, độ cao ruộng đất khu vực trong đê chỉ vào khoảng 0,25 đến 1,5m.
Nếu lấy mực nước triều cao trung bình nhiều năm 2,5 m tại Vịnh Bắc Bộ
(vị trí trạm thuỷ văn Ba Lạt, cách cửa sông Hồng 8 km) để so sánh thì phần lớn
diện tích hệ thống thủy nông Hải Hậu sẽ ngập chìm trong nước biển. Do vậy
ngay từ thời Lý, cha ông ta đã phải đắp đê sông, đê biển, bảo vệ cho hầu hết các
khu vực thuộc đồng bằng để chống lũ trong mùa lũ và chống xâm nhập triều,
mặn vào trong đồng trong mùa cạn.
Bảng 1.2: Phân bố diện tích theo cao độ trong hệ thống.
Cao độ mặt
ruộng
Từ 1,00 đến
+ Đất có độ mặn (Từ 0,15 đến 0,25)% Cl chiếm 1,55% diện tích
+ Đất có độ mặn (Từ 0,03 đến 0,15)% Cl chiếm 98,45% diện tích
- Lượng đạm:
+ Đất khá đạm (6% NH4) chiếm 1,25% diện tích
+ Đất trung bình (4% NH4) chiếm 21,70% diện tích
+ Đất nghèo đạm (Từ 2 ÷ 4% NH4) chiếm 77,05% diện tích
- Lượng lân:
+ Đất khá lân (từ 30 ÷ 40)% P
2
O
5
chiếm 27,20% diện tích
+ Đất trung bình (từ 25 ÷ 30)% P
2
O
5
chiếm 68,67% diện tích
+ Đất nghèo lân (từ 10 ÷ 25)% P
2
O
5
chiếm 4,13% diện tích
1.2.2 Đặc điểm khí hậu
1.2.2.1 Đặc điểm khí hậu
1.2.2.2. Lưới trạm quan trắc khí tượng
Trong và lân cận khu vực có lưới trạm đo mưa khá dày đặc gồm các trạm
như sau:
Bảng 1.3: Danh sách các trạm KTTV khu vực nghiên cứu
STT Tên trạm Tọa độ địa lý Thời gian đo Yếu tố đo
1 Nam Định 20
theo dõi đo mưa tại khu vực để chỉ đạo sản xuất như Hải Hậu, Giao Thủy, Liễu
Đề…
16
1.2.2.3. Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 23
o
- 24
o
C. Mùa đông nhiệt độ
trung bình là 18.9
0
C, tháng lạnh nhất là vào tháng 1 và tháng 2. Mùa hạ, có nhiệt
độ trung bình là 27
0
C, tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là
29.3
0
C (nhiệt độ nóng nhất có thể lên tới hơn 40
0
C).
Bảng 1.4. Nhiệt độ trung bình tháng tại các trạm trong khu vực và vùng lân cận
Đơn vị:
o
C
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Văn
Lý
16,7 17,5 20,1 24,1 27,5 29,0 29,3 28,6 27,6 25,2 21,6 18,2 23,8
Nam
Định
65,9 54,2 57,6 65,2 93,0 98,2 97,6 83,3 91,3 98,3 89,7 84,2 978,5
Nam
Định
61,5 52,4 53,7 54,0 73,6 94,4 100,8 70,1 66,1 79,2 78,3 75,7 859,7
1.2.2.4. Độ ẩm
Độ ẩm trung bình trên các tháng đều khoảng 80%. Độ ẩm không khí
trung bình tháng nhiều năm tại khu vực vào khoảng 80- 85%. Độ ẩm giữa các
tháng biến đổi rất ít. Những tháng hanh khô, độ ẩm vào khoảng 78%, thấp nhất
khoảng 65%. Trong những ngày mưa phùn độ ẩm không khí có thể tăng lên đến
trên 90%.
Bảng 1.7: Độ ẩm không khí trung bình tháng
Đơn vị: %
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Văn
Lý 82,1 84,7 85,0 85,8 83,2 79,8 84,3 82,6 83,9 80,0 78,8 78,2 82,4
Nam
Định 83,4 85,5 87,8 89,4 82,8 83,7 84,3 88,4 87,5 83,0 81,7 80,6 84,9
Mưa
Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm ở hệ thống thủy nông Hải Hậu vào
khoảng 1.757mm. Trong đó mùa hè lượng mưa tương đối dồi dào và tập trung
chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70% lượng mưa cả năm.
+ Mùa khô
Mùa khô bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Tông lượng mưa
trong các tháng mùa khô khoảng 250 ÷ 350mm và chỉ chiếm từ 15 ÷ 20% tổng
lượng mưa năm. Trung bình số ngày mưa trong các tháng mùa khô là 6 ÷ 11
ngày mưa. Trong toàn lưu vực tháng I là tháng có số ngày mưa ít nhất trong năm
trung bình chỉ có 6 ngày/ tháng. Sang đến tháng II và III số ngày mưa có tăng
18
lên 10 ngày/tháng đây cũng là thời kỳ mưa phùn. Tuy nhiên lượng mưa cũng chỉ
sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các sông chảy
qua địa phận hệ thống thủy nông Hải Hậu phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng
sông thường rộng, độ dốc nhỏ và không sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở
cửa sông. Chịu ảnh hưởng của đặc điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước
sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Vào mùa lũ, lưu lượng nước
19
sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn
nước thì đồng bằng sẽ bị ngập lụt. Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các
sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm mặn.
Trên địa bàn hệ thống thủy nông Hải Hậu có 1 sông lớn là sông Ninh Cơ
và nhiều sông địa phương, kênh đào, sông tiêu… Tổng chiều dài kênh toàn hệ
thống là 2.592km, trong đó: chiều dài kênh cấp I là 221 km, kênh cấp II là 848
km, kênh cấp III là 1.523 km góp phần vào việc tưới tiêu và cung cấp nước sinh
hoạt cho người dân địa phương.
Sông Hồng: Đây là con sông có hàm lượng phù sa lớn, là nguồn nước
tưới chính cho tỉnh, đồng thời cũng là con sông nhận nước tiêu. Đoạn sông
Hồng chảy qua Nam Định có chiều rộng trung bình của sông khoảng 500-
600m, chiều dài 74,5km từ cống Hữu Bị cửa Ba Lạt. Mùa lũ, trên sông Hồng bắt
đầu từ tháng VI đến hết tháng X. Về mùa lũ nước sông thường dâng lên rất cao,
chênh lệch mực nước và cao độ đất trong đồng từ 1 – 1.5 m ảnh hưởng lớn đến
việc tiêu úng.
Về mùa kiệt chịu tác động điều tiết của hồ Hoà Bình nên mực nước mùa
kiệt được nâng cao hơn, tuy nhiên vào các tháng mùa kiệt mực nước vẫn thấp
hơn cao độ trong đồng nên lấy nước tưới tự chảy rất khó khăn và phải lợi dụng
chế độ triều, kết hợp với việc lấy nước dộng lực mới đủ nước tưới.
Bảng 1.8: Mực nước bình quân tháng, năm trên sông Hồng, sông Đáy,
sông Đào Nam Định
Đơn vị: cm
Trạm Sông
Bình quân tháng
khoảng 5 – 7% tổng lưu lượng sông Hồng. Trong khi lưu lượng sông Hồng
phân vào cửa sông Đào Nam Định khoảng 5.970m
3
/s thì lượng phân vào sông
Ninh chỉ khoảng 1.736m
3
/s.
Tại khu vực kè Phượng Tường, lòng sông cạn tạo bãi bồi bên Tả, gây
xói lở nghiêm trọng khu vực kè Phượng Tường dài trên 2km, tại khu vực bối
Hải Minh, tạo bơn cạn giữa dòng sông, gây tắc nghẽn và xói lở liên kè Đền
Ông – Trực Thanh dài trên 3km.
Tại khu vực ngã ba sông Ninh Cơ và kênh Quần Liêu, dòng chảy phân
từ sông Đáy sang sông Ninh tạo bơn nổi giữa dòng dài 1 – 2km, tại khu vực
Đò Mười, lòng sông cạn tạo bơn nổi giữa dòng dài xấp xỉ 2km.
Sông Ninh Cơ bao quanh phía Bắc – Tây Bắc hệ thống thủy nông Hải Hậu
có chiều dài 36 km từ cống Rộc đến cửa Ninh Cơ, là một nhánh của sông Hồng,
chịu ảnh hưởng của thủy triểu rất mạnh, về mùa lũ sông Ninh Cơ chịu ảnh
hưởng của lũ sông Hồng làm cho đỉnh triều bị biến dạng. Các cống phía trên
sông Ninh Cơ từ cống Rộc đến Cầu Phao Ninh Cường là những cống lấy nước
từ sông Ninh tưới cho toàn lưu vực, các cống phía hạ lưu cầu phao Ninh Cường
chủ yếu làm nhiệm vụ tiêu.
Trong những năm gần đây lưu lượng dòng chảy sông Ninh Cơ ngày một
giảm do diễn biến bồi lắng cửa vào và lòng dẫn khiến không đủ lượng nước trên
sông khiến mặn ngày một tiến sâu vào nội địa. Kết quả điều tra cho thấy tại khu
vực bối Hải Minh lòng sông bồi tạo bơn cạn giữa dòng sông gây tắc nghẽn và
xói lở kè Đền Ông – Trực Thanh dài trên 3km, tại khu vực Lác Phường – Quang
Trung lòng sông cạn tạo bơn nổi giữa dòng dài xấp xỉ 2km. Chính vì vậy đã gây
khó khăn cho công tác lấy nước và thoát lũ trên địa bàn.
Sông Sò: Chảy từ Ngô Đồng đến Hạ Lạn chiều dài 17km, bị bồi lấp từ
khi xây dựng cống thay cửa Ngô Đồng bỏ ngỏ rồi xây dựng đập Nhất Đỗi.
Hàm lượng Nitơ tương đối nhỏ, hầu hết các khu đều có hàm lượng Nitơ
nhỏ hơn 100mg/l. Khu vực có hàm lượng Nitơ từ 10mg/l đến 20 mg/l phân bố
dưới dạng thấu kính, rải rác khắp bề mặt diện tích khu vực nghiên cứu.
Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistoxen hệ tầng Hà Nội phân bố rộng rãi trên
địa bàn, hàm lượng clo dưới 200mg/l, tầng khai thác phổ biến ở độ sâu trung
bình từ 40 ÷ 120m, ngoài ra còn phát hiện một số tầng nước ngầm có độ sâu từ
250 ÷ 350m, đây là nguồn nước ngọt có chất lượng tốt có thể khai thác phục vụ
cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp.Trữ lượng tiềm năng của tầng chứa nước
này là 140.970,95 m
3
/ngày.
Chất lượng nước: Tổng độ khoáng hoá biến đổi tăng dần theo hướng đi từ
biển vào đất liền.
1.2.3.4. Dòng chảy bùn cát
Trong mùa lũ 80% lượng bùn cát được đổ ra biển, tại hệ thống thủy nông
Hải Hậu bùn cát được bồi tích nhiều tại khu vực Ninh Cơ. Dòng chảy bùn cát
22
khu vực huyện Hải Hậu phụ thuộc vào yếu tố động lực ven bờ và chịu ảnh
hưởng trực tiếp lượng vận chuyển bùn cát của các con sông. Nhưng lượng bùn
cát phân bố không đều 91,5% vào mùa lũ và 8,5% vào mùa kiệt.
1.2.3.5. Đặc điểm thủy triều
Hệ thống thủy nông Hải Hậu là khu vực chịu ảnh hưởng thủy triều Vịnh
Bắc Bộ với chế độ nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 -1,7m, lớn nhất là
3,31 m và nhỏ nhất là 0,11m. Thời gian triều lên trong ngày khoảng 8- 9 giờ,
thời gian triều xuống khoảng 15- 16 giờ. Hàng tháng trung bình có 2 lần triều
cường, 2 lần triều kém, mỗi kỳ triều khoảng 14- 15 ngày.
Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp cho
quá trình thau chua rửa mặn trên đồng ruộng. Tuy nhiên cũng còn một số diện
tích bị nhiễm mặn
Độ lớn thủy triều là chênh lệch mực nước đỉnh triều và chân triều, cứ
Hình 1.7: Tần suất mực nước triều - trạm Hòn Dấu
1.2.3.6. Tình hình xâm nhập mặn
Về mùa cạn, lượng nước trong sông nhỏ, thủy triều xâm nhập vào khá sâu
và mạnh, đưa mặn vào rất sâu, sông có độ mặn 1
0
/
00
xâm nhập vào sâu cách cửa
biển 30- 50 km, gây trở ngại cho việc lấy nước dùng cho các ngành kinh tế ngày
càng phát triển, nhất là cho nông nghiệp.
Mặn đã ảnh hưởng đến nguồn nước tưới cho hệ thống thủy nông Hải Hậu.
Hàng năm về mùa kiệt, lưu lượng nguồn nước ngọt giảm, nước thủy triều dâng
cao đưa nước mặn từ biển Đông thâm nhập sâu vào các triền sông, ảnh hưởng
lớn đến việc lấy nước của các cống đầu mối, gây nhiều khó khăn cho sản xuất
nông nghiệp vụ chiêm xuân. Trong năm 2010, mặn đã lên cao, xâm nhập sâu
vào cửa sông ảnh hưởng đến công tác lấy nước phục vụ vùng trồng cây vụ Đông
và sinh hoạt của nhân dân trong vùng.
Ảnh hưởng mặn trên sông Ninh Cơ là trở ngại chính, gây bất lợi cho sự ổn
định và phát triển của sản xuất nông nghiệp. Mặn không chỉ hạn chế thời gian
lấy nước của các cống đầu mối, rò rỉ qua các cửa cống gây bốc mặn lên tầng đất
canh tác trong lưu vực tưới mà có khi trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lúa khi
phải sử dụng nguồn nước nhiễm mặn có độ mặn cao. Nguy cơ phát sinh bệnh
lùn sọc đen, dịch bệnh gia súc, gia cầm luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát…
24
1.3. Hiện trạng dân sinh, kinh tế - xã hội trong hệ thống thủy nông Hải Hậu
1.3.1. Dân sinh
Hệ thống thủy nông Hải Hậu gồm có 35 xã, thị trấn huyện Hải Hậu và 6
xã Trực Đại, Trực Cường, Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Thắng huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Bảng 1.9 : Hiện trạng sử dụng đất hệ thống thủy nông Hải Hậu
STT Loại đất
Hiện trạng năm 2012
Huyện Hải Hậu
6 xã huyện Trực
Ninh
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Tổng diện tích tự nhiên 23.015,56 100,00 4.516,75 100,00
1 Đất nông nghiệp 16.055,47 69,76
3.111,21 68,88
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 13.829,32 60,09 2.861,07 63,34
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 12.012,18 52,19 2.534,28 56,11
1.1.1.1 Đất trồng lúa 11.562,14 50,24 2.466,06 54,60
1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
1.1.1.3
Đất trồng cây hàng năm
khác
450,04 1,96 68,22 1,51
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 1.817,14 7,90 326,79 7,24
1.2 Đất lâm nghiệp 131,81 0,57
1.2.1 Đất rừng sản xuất
1.2.2 Đất rừng phòng hộ 131,81 0,57
1.2.3 Đất rừng đặc dụng