báo cáo thực tập THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ VỚI TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL - Pdf 27

MỤC LỤC
Năm 2012: Khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính và bước ến mới về chất của hoạt động
đầu tư ra nước ngoài 6
2.2 MỞ RỘNG, PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ 24
2.3. CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ, ƯU ĐÃI CỦA NHÀ NƯỚC 25
2.3.1 Hỗ trợ nguồn vốn đầu tư 25
2.3.2 Chính sách ưu đãi về thuế 25
2.4 THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH, THỎA THUẬN SONG PHƯƠNG, ĐA PHƯƠNG 26
2.5 VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI HỐI 26
2.6 VỀ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG 26
Lực lượng lao động tại một số nước sở tại (Lào và Campuchia còn hạn chế, trình độ chuyên môn
thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về lao động của nhà đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng. Do
đó, doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải đưa lao động từ Việt Nam sang với số lượng lớn để làm
việc hoặc đưa các lao động người Lào về Việt Nam để đào tạo. Do đó, kiến nghị chính phủ có cơ
chế,chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sang Lào, Campuchia đào tạo các lao động
người Lào, Campuchia hoặc đào tạo các lao động Việt Nam sang làm việc tại Lào, Campuchia 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ VỚI TẬP ĐOÀN VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL
1.1 CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
Bên cạnh việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, chính sách
về đầu tư ra nước ngoài, một trong những giải pháp được Thủ tướng đặc biệt lưu
ý là cải tiến thủ tục hành chính, mở rộng diện dự án đăng ký, giảm sự can thiệp
bằng các biện pháp hành chính ngay cả đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước,
tăng quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
Ngoài các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, các nước trong
khu vực, Liên bang Nga, các nhà đầu tư còn được khuyến khích đầu tư sang
những địa điểm mới như Mỹ Latinh, Đông Âu, châu Phi dựa trên cơ sở lợi thế

1.2.2 Lĩnh vực hạn chế đầu tư ra nước ngoài
Nhà nước Việt Nam không cấp phép đầu tư ra nước ngoài đối với những
dự án gây phương hại đến bí mật, an ninh quốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn
hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
1.3 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
1.3.1 Số lượng dự án và vốn đăng ký đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Việt Nam
Nhìn lại hành trình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam có thể chia
làm 3 giai đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn 1 từ 1989 đến 1998: đầu tư còn nhỏ lẻ và manh mún
Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 18 dự án ra nước ngoài với tổng vốn
đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD, quy mô bình quân đạt 0.76 triệu USD. Việc
đầu tư vốn ra nước ngoài trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nội
địa của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do đầu những năm 1990, lượng vốn FDI
vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhất là trong lĩnh vực dệt may, nên lượng
quota hàng năm không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách
“đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên môi
trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số ngành công
nghiệp chế biến hàng tiêu dùng. Vì vậy nhằm bù đắp những thiếu hụt trên, một
số doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển địa bàn hoạt động sang một số nước láng
2
giềng. Các doanh nghiệp đi tiên phong trong hoạt động này là một số doanh
nghiệp tư nhân của những địa phương có chung đường biên giới với hai nước
ban Lào và Campuchia trên cơ sở hợp tác song phương giữa chính quyền địa
phương hai nước.
Giai đoạn 2 từ 1999 đến 2005: đầu tư có sự thay đổi lớn về chất và lượng
Việt Nam có thêm 131 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký
đạt trên 559,89 triệu USD, tăng gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần về vốn đăng
ký so với giai đoạn 1989 - 1998; quy mô bình quân vốn đăng ký/dự án cũng cao
hơn hẳn, đạt 4,27 triệu USD/dự án.

hiện /dự án
Vốn đăng
kí / dự án
2006 36 349,106 0,2055 0,0057 0,39
2007 80 911,82 0,110 0,0014 11,4
2008 103 2 386 596 5,78 23,167
2009 457 7 200 2440 5.339 15,755
2010 107 2 926 900 8.411 27,351
2011 75 2 120 950 12,667 28,275
2012 84 1 414 1200 14, 286 16,843
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư
Biểu đồ 1.2: Vốn đăng ký và vốn thực hiện của Việt Nam giai đoạn 2006-2012
(đơn vị: triệu USD)
4
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư
Năm 2006, 2007: Vốn thực hiện giảm sút mạnh mẽ.
Nếu như năm 2005 vốn thực hiện đạt 4,853 triệu USD thì đến năm 2006,
2007 chỉ còn 0,2055 và 0,11 triệu USD. Đây là một khoảng cách lớn so với tổng
vốn đăng ký và kinh tế Việt Nam bước đầu chịu ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế thế giới.
Năm 2008, 2009: Tăng nhanh về số lượng dự án đầu tư dù trong bối cảnh
nền kinh tế toàn cầu khó khăn
Năm 2008, cả vốn đăng ký và vốn thực hiện đều có chuyển biến tích cực so
với 2 năm trước. Đặc biệt trong năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế
toàn cầu, nên kế hoạch đầu tư ban đầu có sự điều chỉnh giảm với số vốn dự kiến
vào khoảng 2,8 tỷ USD. Nhưng thực tế đã không diễn ra theo đúng kịch bản của
cơ quan dự báo khi các doanh nghiệp Việt Nam lại coi đây là cơ hội để mở rộng
thị trường và tìm kiếm địa bàn đầu tư mới. Kết quả là năm 2009, vốn đầu tư ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 7,2 tỷ USD cho 457 dự án bao
gồm cả cấp mới và tăng vốn tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 143%

trọng điểm, có kế hoạch, tập trung, ít nhỏ lẻ, phân tán hơn trước.
Năm 2012: Khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính và bước tiến
mới về chất của hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Trong năm 2012, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, thị trường trở
nên khó khăn hơn, những bất lợi về điều kiện kinh tế vĩ mô cũng như bản thân
6
các doanh nghiệp khiến cho việc đầu tư ra nước ngoài gặp nhiều trở ngại.
Trong năm này, chỉ có 84 dự án được cấp giấy phép đầu tư với số vốn đăng
kí là khoảng 1,4 tỉ USD, trong đó có 1,2 tỉ vốn thực hiện.
Có thể thấy rằng số dự án đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam 2012 đã giảm
khá rõ so với năm 2011, kéo theo đó là số vốn đầu tư cũng giảm. Tuy nhiên, số
vốn thực hiện khá lớn so với vốn đăng kí (1,2 tỷ USD được đăng kí, trong đó số
vốn đã giải ngân là khoảng 1,41 tỷ USD), cho thấy tốc độ thực hiện dự án đã
nhanh chóng hơn, các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn nhanh hơn và sớm
có được lợi nhuận, độ trễ đầu tư của các dự án đã có thể giảm.
Bên cạnh đó, số vốn thực hiện tính trung bình trên mỗi dự án cũng tăng lên,
đến năm 2012 đạt 14, 286 triệu USD, càng cho thấy rõ xu hướng tập trung thực
hiện các dự án lớn của các nhà đầu tư Việt Nam, tránh đầu tư dàn trải, không có
trọng điểm và kém hiệu quả.
1.3.2 Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực
Biểu đồ 1.3: Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực lũy kế đến hết năm 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê
7
Bảng 1.3: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo lĩnh vực (hiệu lực lũy kế
đến 31/12/2012)
Số
DA
Vốn K
(Triệu USD)
TỔNG SỐ 726 13 023,2

8
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực năm 2010 (đơn vị: %)
Nguồn: Theo số liệu cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Biểu đồ 1.5: Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực năm 2012 (đơn vị: %)
Nguồn: Theo số liệu cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Lĩnh vực khai khoáng, trong đó chủ yếu là khai thác dầu khí, chiếm hơn
60% tổng số vốn đăng kí năm 2011, 2012 và chiếm 8/84 dự án đăng kí mới, 3/9
dự án được bổ sung vốn trong năm 2012. Có thể nói đây là lĩnh vực trọng điểm
trong đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, với doanh nghiệp đi
đầu là là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than và
Khoáng sản.
9
Theo sau đó là các ngành Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và nông, lâm, thủy
sản với tỉ trọng khoảng 11,5%, kinh doanh bất động sản chiếm 4.23% tổng số vốn
đăng kí. Còn lại một số ngành khác được đầu tư nhỏ với tỉ trọng không đáng kể.
Từ đây có thể nhận xét rằng, các lĩnh vực mà các doanh nghiệp Việt Nam
đầu tư chủ yếu là trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên.
Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đang là một hướng phát triển mới.
Công nghệ thông tin bưu chính viễn thông cũng là điểm sáng trong hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam, tiêu biểu nhất là hoạt động
đầu tư của Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel).
1.3.3 Cơ cấu đầu tư theo vùng, lãnh thổ
Bên cạnh việc đẩy mạnh và duy trì hoạt động kinh doanh tại các địa bàn
truyền thống ở Lào, Campuchia, Nga và Angiêri, các doanh nghiệp Việt Nam đã
khai phá thành công một số thị trường mới có mức độ canh tranh và yêu cầu cao
về công nghệ, cũng như năng lực triển khai và quản lý dự án tại Mỹ, Nhật Bản,
Hồng Kông, Đài Loan - vốn đang được coi là địa chỉ của các nhà đầu tư hàng
đầu tại Việt Nam hiện nay, hay một số nước ở Mỹ Latinh như Venezuela, Cuba,
Peru và châu Phi và Trung Đông như Mozambique, Iran, Iraq,
Biểu đồ 1.6: Cơ cấu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam theo vùng,

Tổng vốn đầu tư
mới và tăng thêm
của nhà đầu tư
Việt Nam (USD)
1 Peru 3 828.110.000 - - 828.110.000
2 Lào 16 140.387.447 5 110.363.322 250.750.769
3 Campuchia 16 169.093.067 2 13.542.695 182.635.762
4 BritishVirginIslands 1 70.859.952 - - 70.859.952
5 CHLB ĐỨC 2 65.800.000 - - 65.800.000
6 Singapore 4 63.006.772 - - 63.006.772
7 Hoa Kỳ 16 44.970.819 1 200.000 45.170.819
8 Đông Timor 1 14.919.294 - - 14.919.294
9 Myanmar 2 5.650.000 1 8.147.000 13.797.000
10 Hàn Quốc 4 4.282.000 - - 4.282.000
11 Canada 2 2.030.000 - - 2.030.000
12 Australia 3 1.058.335 - - 1.058.335
13 Pháp 1 717.568 - - 717.568
14 Uzbekistan 1 630.000 - - 630.000
15 Trung Quốc 1 620.000 - - 620.000
16 Malaysia 2 450.000 - - 450.000
17 Liên bang Nga 1 441.000 - - 441.000
18 Brunei 1 300.000 - - 300.000
19 Nhật Bản 1 300.000 - - 300.000
20 Thái Lan 1 250.000 - - 250.000
21 Vương quốc Anh 1 200.000 - - 200.000
22 Cộng hòa Ghana 1 110.154 - - 110.154
11
23 TVQ ả rập thống nhất 1 110.154 - - 110.154
24 Bangladesh 1 100.000 - - 100.000
25 Mauritius 1 20.000 - - 20.000

1.3.5 Hiệu quả của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Theo Bộ Kế hoạch-Đầu tư, mặc dù tốc độ độ chuyển vốn ra nước ngoài
năm sau thường cao hơn năm trước nhưng tỷ suất lợi nhuận rất thấp, chỉ đạt
2,02% giai đoạn 1989-2010. Lợi nhuận chuyển về nước lũy kế đến năm 2012 là
430 tỷ USD gần bằng 11,3% so với vốn thực hiện là 3,8 tỷ USD.
13
Lĩnh vực dầu khí có số vốn chuyển ra nước ngoài lớn nhất với số tiền 1,03
tỷ USD, nhưng lợi nhuận chuyển về nước mới đạt 38,8 triệu USD.
Hiện tượng này cho thấy, dòng tiền đầu tư ra thì ngày càng lớn nhưng dòng tiền
chuyển về nước lại chưa tương xứng với những gì đã bỏ ra. Điều này làm cho
vốn trong nước bị chảy ra nước ngoài, tạo sức ép lên cán cân thanh toán vốn đã
bị thâm hụt rất lớn.
Đầu năm 2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phát đi công văn yêu cầu chủ
đầu tư của 516 dự án đầu tư ra nước ngoài báo cáo tình hình thực hiện và hoạt
động của dự án. Tuy nhiên, chỉ có 300 dự án thực hiện báo cáo, 149 dự án
không phản hồi và 69 dự án đã “bốc hơi”, không còn ở địa chỉ cũ. Trong đó, một
số dự án đã chuyển tiền ra nước ngoài nhưng không hoạt động, hoặc chấm dứt
hoạt động trước thời hạn mà không báo cáo. Từ đây cho thấy sự kém minh bạch
trong công tác quản lý các dự án cũng như các hạn chế trong hệ thống pháp lý
về đầu tư ra nước ngoài.
Đặc biệt, 60-70% khoản tiền chuyển ra ngoài là để phục vụ các dự án của
doanh nghiệp nhà nước. Điều này dễ dẫn đến nguy cơ sử dụng vốn nhà nước
không hiệu quả, thất thoát vốn nhà nước, sử dụng vốn sai mục đích.
Bên cạnh đó một số doanh nghiệp đầu tư rất hiệu quả và đạt được nhiều
thành tựu đáng nể, điển hình là tập đoàn viễn thông quân đội Viettel.
1.4 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.4.1 Kết quả đạt được
Qua việc điểm lại kết quả hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, có thể
nhận định những thành công đạt được đó là:

Nam trên trường quốc tế. Tiêu biểu là một số dự án đầu tư thành công ở nước
ngoài trong lĩnh vực dầu khí, bưu chính viễn thông của các tập đoàn lớn, tổng
công ty lớn như Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí (PVEP), tập đoàn
bưu chính viễn thông quân đội Viettel. Doanh thu của Vietel đã gấp 3 lần so với
VNPT, tốc độ tăng trưởng lớn. Riêng doanh thu từ đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã có đóng góp ngày càng quan trọng trong doanh thu của tập đoàn và dự kiến
đạt 15% trong năm 2013. Lợi nhuận mang về nước tính đến 2012 đạt 120 triệu
15
USD.
Thứ tư, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam đã hình
thành một đội ngũ doanh nhân có năng lực trong đàm phán đấu thầu quốc tế
(ngành dầu khí, xây dựng), trong liên doanh với nước ngoài để tổ chức thực hiện
các dự án hợp tác đầu tư.
Thứ năm, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã đóng góp tích cực
cho sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội cho địa bàn nước sở tại, tạo công ăn việc
làm cho người lao động địa phương làm việc cho dự án. Tại thị trường
Campuchia và Lào, Viettel thực hiện chương trình xã hội hóa bán hàng nhằm
tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa với thu nhập từ 60-65 USD/tháng.
Năm 2010, tại Campuchia, Viettel có 4.000 lao động và tại Lào là 2000 lao
động.
1.4.2 Những hạn chế
Thứ nhất, thể chế chính sách còn chưa hoàn chỉnh, luôn đi chậm so với
thực tế, tác động đến sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
còn chưa mạnh, thậm chí còn gây trở ngại cho hoạt động đầu tư.
Thứ hai, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam còn nhiều
bất cập. Đại diện chính phủ Việt Nam ở nước ngoài (Đại sứ quán, lãnh sự quán,
đại diện thương mại) chưa tham gia quản lý nhà nước và hỗ trợ các dự án đầu tư
ra nước ngoài. Cụ thể, các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nhiều nước không
nắm rõ số lượng dự án, ai đầu tư, khó khăn, thuận lợi của nhà đầu tư, không có
chương trình gặp gỡ, báo cáo hoạt động đầu tư Giai đoạn 1989-2010 có đến

Khả năng tài chính của các doanh nghiệp của Việt Nam còn quá eo hẹp.
Đa số các doanh nghiệp hoạt động với lượng vốn thấp từ 1-5 tỷ đồng, điều này
ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Trên thực tế hiện nay vấn đề huy động vốn là rất khó khăn khi
muốn vay ngân hàng bởi hai lý do: một là, các ngân hàng thương mại không có
cơ chế để quản lý tiền vay khi họ không có văn phòng đại diện ở quốc gia mà
doanh nghiệp đầu tư. Hai là cơ chế quản lý ngoại hối của ngân hàng Nhà nước
hiện nay chưa quy định về quản lý đồng tiền đầu tư ra nước ngoài. Không chỉ
khó khăn trong việc vay vốn, hiện nay các thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài và
17
chuyển lợi nhuận từ nước ngoài về Việt Nam cũng là vấn đề bức xúc của nhiều
doanh nghiệp.
Quan niệm sai lầm khi nghĩ rằng khi nào nền kinh tế thừa vốn mới tiến
hành hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Tư duy phiến diện một chiều,
nghĩ rằng đầu tư ra nước ngoài sẽ khiến đầu tư trong nước bị giảm sút, chảy máu
ngoại tệ, giảm việc làm trong nước. Nói cách khác, họ chỉ coi trọng dòng vốn
vào mà không coi trọng dòng vốn ra. Điều đó cho thấy Việt Nam còn nhận thức
chưa đúng với những gì mà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang lại.
Kinh nghiệm quản lý và kinh nghiệm thương trường của các doanh nghiệp
Việt Nam còn quá hạn chế. Việt Nam còn thiếu nhân lực có trình độ cao, kinh
nghiệm thương trường còn yếu kém nhất là các doanh nghiệp nhà nước, được sự
bao bọc và hỗ trợ lớn của Nhà nước. Chính vì vậy mà nhiều xí nghiệp quốc
doanh gần như làm ăn thua lỗ.
Luật và hỗ trợ của nhà nước còn chậm chạp, nhiều kẽ hở, thủ tục rườm rà.
Quy trình thẩm định và đăng ký cấp giấy phéo đầu tư còn kéo dài, qua nhiều thủ
tục, thiếu các quy định và chế tài cụ thể vê quản lý dự án, thông tin không chính
xác Sự hỗ trợ của nhà nước còn quá mờ nhạt và thiếu đồng bộ từ chủ trương đế
các biện pháp cụ thể. Nhiều cơ quan còn mang nặng tâm lý trong nước còn thiếu
vốn nên còn cho rằng không nên đầu tư ra nước ngoài bởi đầu tư ra nước ngoài
làm giảm nguồn vốn trong nước.

Những thành tựu:
+Tại Việt Nam: Số 1 về dịch vụ di động tại Việt Nam, Số 1 về tốc độ phát
triển dịch vụ di động tại Việt Nam (năm 2005, 2006, 2007), Số 1 về tốc độ
truyền dẫn cáp quang ở Việt Nam, số 1 về mạng lưới phân phối ở Việt Nam
+Trên thế giới: Lọt vào top 20 nhà mạng lớn nhất thế giới, là nhà cung cấp
dịch vụ của năm tại thị trường mới nổi trong hệ thống Giải thưởng
Frost&Sullivan Asia Pacific ICT Awards 2009
1.5.2 Chiến lược đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Viettel
19
-Tập trung đầu tư vào lĩnh vực thế mạnh của Viettel đó là viễn thông. Tuy
nhiên, đây là những bước đi ban đầu để tạo cơ sở đầu tư cho các lĩnh vực khác
như thị trường thiết bị đầu cuối, thị trường dịch vụ nội dung, truyền hình cáp …
Ngoài ra, Viettel cũng tạo cơ sở để các doanh nghiệp trong nước có thể xâm
nhập vào thị trường nước ngoài, như BIDV đã đi cùng Viettel để đầu tư sang
Campuchia; MB cũng đang xúc tiến để đầu tư vào Mozambique. Viettel sẵn
sàng là cầu nối cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào các thị trường mà
Viettel đang có mặt.
-Hầu hết các quốc gia mà Viettel tập trung tìm kiếm cơ hội đầu tư đều là
các thị trường đang phát triển, về cả kinh tế lẫn viễn thông. Lý do đơn giản là,
chúng ta là những người đi sau, những thị trường hấp dẫn đều đã được các công
ty nổi tiếng trên thế giới đầu tư và khai thác. Nhưng Viettel đã nhìn thấy lợi thế
của mình ở những thị trường khó khăn này. Trong tổng số khoảng 30 nhà đầu tư
viễn thông quốc tế, Viettel là nghèo nhất. Chính vì nghèo, lại trưởng thành ở
một thị trường đang phát triển như Việt Nam nên Viettel có nhiều kinh nghiệm
để kinh doanh ở những thị trường khó khăn, hiểu và chia sẻ những điều mà các
quốc gia đang phát triển trăn trở.
-Viettel đã chứng minh được một điều rằng các doanh nghiệp Việt Nam
hoàn toàn có thể đầu tư ra nước ngoài và đạt được những thành công. Điển hình
như ở Lào và Campuchia, sau một năm khai trương (2006), cả hai mạng viễn
thông là Unitel và Metfone đều vươn lên giữ vị trí số 1 về thị phần (với khoảng

Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Viettel nói.
Trước đó, Viettel đã đưa ra mục tiêu của giai đoạn 2015 - 2020 là sẽ có thị
trường quy mô 300 - 500 triệu dân. Nếu đạt được con số này, Viettel sẽ đạt
doanh thu từ thị trường nước ngoài lớn gấp 3 - 5 lần thị trường trong nước và trở
thành 1 trong 10 doanh nghiệp viễn thông đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới.
22
Hiện nay, Viettel đã có 7 giấy phép đầu tư vào 3 nước châu Á là Lào,
Campuchia, Đông timor, 2 nước châu Phi là Mozambique, Cameroon, 2 nước
châu Mỹ là Haiti và Peru. Tính đến nay tổng số vốn góp ra nước ngoài của
Viettel là 175 triệu USD, tổng số tiền lợi nhuận mang về nước là 120 triệu USD
và mục tiêu lợi nhuận trong năm 2013 là 34000 tỷ đồng
Biểu đồ 2.10 : Tỷ trọng doanh thu đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Viettel so với tổng doanh thu tập đoàn giai đoạn 2010-2012 (Đơn vị: %)
Nguồn: Theo báo cáo hàng năm của tập đoàn Viettel
Doanh thu từ đầu tư trực tiếp nước ngoài của Viettel ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng doanh thu. Riêng trong năm 2013, Viettel đặt mục tiêu lợi
nhuận đầu tư trực tiếp nước ngoài là 1,1 tỷ USD với 3 thị trường mục tiêu là
Lào, Campuchia và Mozambique.Viettel ngày càng là điểm sáng của Việt Nam
trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
23
CHƯƠNG 2
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH
Thứ nhất, tiến tới bỏ hình thức cấp phép ,chuyển sang hình thức đăng ký
đầu tư cho thuận tiện mà không giảm tính chất quản lý của nhà nước, giảm bớt
thủ tục rườm rà, mất nhiều thời gian. Không nên giới hạn đầu tư ra nước ngoài
vì thực lực của các doanh nghiệp hiện nay ngày càng lớn mạnh,nắm bắt cơ hội
đầu tư phải nhanh thì mới thành công được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status