LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước với mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, Xã hội công bằng dân chủ
văn minh”. Đảm bảo ổn định chính trị xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của chính mỗi người dân Việt
Nam. Với mong muốn và chủ trương đó Nhà nước ta cố gắng tìm ra những giải
pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu cả trong ngắn hạn, dài hạn và liên tục cải tiến
để có những bước đi phù hợp nhất với thực tế. Để có thể làm tốt được điều này cần
có sự lỗ lực cố gắng của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong quá trình thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có sự đóng góp rất lớn của khoa học kỹ thuật
nhưng cốt lõi nhất vẫn là trí tuệ con người. Máy móc chỉ là sản phẩm của con
người, sinh ra để hỗ trợ con người chứ không thể thay thế được con người. Trên cơ
sở đó Đảng ta đã rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và coi đó như là biện pháp
nền tảng để tăng cường nhận thức, nâng cao trình độ dân trí, qua đó mỗi người dân
sẽ làm tốt hơn công việc của mình, góp phần xây dựng xã hôi tốt hơn.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong Lời kêu gọi thi đua ái
quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân chúng ta phải “diệt giặc dốt”
trước cả “diệt giặc ngoại xâm” vì thời điểm đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức
sâu sắc tầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và
chống đói nghèo. Đi theo tưởng đó của Bác, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chăm lo
cho sự nghiệp giáo dục nước nhà, coi giáo dục là chìa khóa, là động lực cho sự
phát triển đất nước.
Sự nghiệp giáo dục của nước ta được chia thành các cấp đào tạo từ Mầm
non, Tiểu học đến đào sau đại học. Với mỗi cấp khác nhau Bộ Giáo dục và Đào tạo
(BGD-ĐT) luôn có những chương trình đào tạo với những yêu cầu khác nhau phù
hợp với từng lứa tuổi, trình độ. Đào tạo sau đại học, đặc biệt là đào tạo Thạc sỹ
1
giống như bước chuyển mình giúp nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân
viên và người lao động trong các lĩnh vực của xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu công
việc nghiên cứu chuyên sâu. Để tham gia được vào những khóa học sau đại học
này các ứng viên phải tham dự kỳ thi tuyển sinh do các Trường đại học tổ chức
BGD&ĐT. Trong Thông tư 10 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Quy chế đào tạo
trình độ thạc sĩ, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã ký ghi rõ: Thông tư này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2011. Thông tư này thay thế Quyết định số
45/2008/QĐ-BGDĐT ngày 5/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ và Thông tư số 08/2009/TT-BGDĐT ngày
21/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ ban hành kèm theo Quyết định số
45/2008/QĐ-BGDĐT ngày 5/8/2008”.
1.2 Mô tả tình huống
Thông tư số 10/2011/TT- BGD&ĐT, ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc
sĩ về các môn thi tuyển gồm: môn ngoại ngữ, môn cơ bản, môn cơ sở của ngành
3
hoặc chuyên ngành đào tạo. Trong thông tư chỉ nêu rõ các môn phải thi mà không
quy định môn thi Ngoại ngữ có được miễn thi cho một số thí sinh hay không.
Tuy nhiên, tại quyết định số 45/2008/QĐ-BGDĐT ngày 5/8/2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ ghi rõ
các đối tượng dự thi kỳ thi tuyển sinh cao học được miễn thi ngoại ngữ khi có đủ
các điều kiện sau:
- Có bằng tốt nghiệp đại học chính quy ngành tiếng Anh;
- Có bằng tốt nghiệp đại học tại nước ngoài mà ngôn ngữ dùng trong đào tạo
là tiếng Anh;
- Có bằng tốt nghiệp đại học tại các chương trình đào tạo trong nước mà ngôn
ngữ dùng trong toàn bộ chương trình đào tạo là tiếng Anh không qua phiên
dịch;
- Có chứng chỉ TOEFL ITP 400, iBT 32 hoặc IELTS 4.5 trở lên trong thời hạn
2 năm kể từ ngày cấp chứng chỉ đến ngày nộp hồ sơ.
- Có chứng chỉ ngoại ngữ do các cơ sở đào tạo ngoại ngữ được Bộ Giáo dục
và Đào tạo giao nhiệm vụ và công nhận tương đương trình độ tiếng Anh
TOEFL ITP 400, iBT 32 hoặc IELTS 4.5.
Sau khi các trường đại học đã tổ chức xong kỳ thi tuyển sinh sau đại học vào
trình độ thạc sĩ đã thực hiện nghiêm túc các quy định về tuyển sinh cũng như quy
định khác của quy chế nhưng hiện vẫn còn một số cơ sở đào tạo đã cho thí sinh
miễn thi ngoại ngữ đầu vào. Đây là việc làm trái quy định hiện hành. Bộ yêu cầu
5
trường rà soát lại danh sách thí sinh được miễn thi ngoại ngữ đầu vào trong đợt
tuyển sinh năm 2011 và ra quyết định hủy công nhận trúng tuyển số thí sinh trên.
Nguyên nhân hủy kết quả trên là do vi phạm thông tư số 10/2011 về Quy chế tuyển
sinh thạc sĩ.
14 trường đại học mà Bộ GD-ĐT có văn bản yêu cầu hủy kết quả trên ước tính
số lượng học viên lên tới hàng ngàn người ở các trường như ĐH Quốc gia Hà Nội
khoảng 600 học viên, ĐH Kinh tế TP.HCM khoảng 300 học viên, ĐH Ngoại
thương khoảng 70 học viên,
Theo Quyết định 45/2008/QĐ-BGDĐT về áp dụng Quy chế đối với chương
trình và tổ chức đào tạo, quy chế nêu rất rõ: Đối với học viên các khoá tuyển sinh
từ năm 2008 trở về trước áp dụng chương trình đào tạo và hình thức đào tạo quy
định tại Quyết định 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 8 tháng 6 năm 2000 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo sau đại học. Đối
với học viên tuyển sinh từ năm 2009 trở đi áp dụng chương trình đào tạo quy định
tại Quy chế này. Như vậy theo quy chế này các thí sinh tham dự kỳ thi tuyển sinh
sẽ được miễn thi ngoại ngữ khi đủ các điều kiện quy định tại khoản 2, điều 10 của
quy chế này.
Xem xét lại văn bản thì trường không sai, thí sinh không có lỗi. Lỗi là do chưa
rõ ràng trong văn bản giữa Quyết định 45/2008 về Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ
và Thông tư số 10/ 2011/TT-BGDĐT ban hành Quy chế về đào tạo thạc sĩ. Trong
trường hợp này trách nhiện vẫn chưa thuộc về ai.
- Khi Bộ ra quyết định hủy kết quả thi thì đã hầu hết các trường đã triệu tập học
viện đi học vì thế sẽ có rất nhiều khó khăn và bức xúc cho thí sinh khi bị hủy kết
quả thi, hủy kết quả học tập của họ trong khi trình độ Ngoại ngữ của họ xứng đáng
với điều kiện mà Bộ đã đặt ra.
6
cơ sở xem xét đơn đề nghị của các trường đại học và thực tế kết quả học tập của
các học viên, Bộ Giáo dục và đào tạo quyết định giữ nguyên kết quả thi của các thí
sinh tham dự kỳ thi cao học vừa qua. Qua tình huống trên đã cho thấy sự không
nhất quán, rõ ràng giữa các văn bản ban hành của các cơ quan chức năng có ảnh
hưởng rất lớn tới kết quả hoạt động của các học viên, các trường đại học tuyển
sinh, gây lo lắng, hoang mang cho các ứng viên tham gia. Bên cạnh đó Bộ cũng
cần cân nhắc và tính toán trước các tình huống có thể xảy ra trong quá trình ra
quyết định của mình. Nếu Bộ kiên quyết thực hiện quyết định hủy kết quả thi thì sẽ
có khoảng 1000 học viên đang tham dự các khóa học đào tạo sau đại học bị hủy
kết quả thi và công sức học tập tại trường và quyền lợi của học viên. Bên cạnh đó
chi phí cho việc tổ chức thi tuyển lại cũng rất tốn kém về chi phí.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1 Mục tiêu xử lý tình huống
- Để thực hiện được đúng các quy chế tuyển sinh sau đại học đối với các
trường đại học có tổ chức thi, rất cần sự rõ ràng trong cơ chế tuyển sinh và sự phù
hợp nhất quán giữa các văn bản đã ban hành.
- Để bảo vệ quyền lợi cho các thí sinh đã tham gia tuyển sinh trong kỳ thi
năm 2011 mà vẫn đảm bảo được chất lượng thi đầu vào tại các trường đại học và
thực thi đúng quy định về cơ chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và đào tạo về tuyển
sinh sau đại học trình độ thạc sỹ. Bên cạnh đó cần chú trọng tới chất lượng đào tạo
đầu ra cho mỗi khóa đào tạo cao học.
8
3.2. Đề xuất phương án giải quyết.
Để giải quyết tình huống trên, bằng các kiến thức đã học và thực tế, tôi đề nghị
các phương án giải quyết như sau:
1. Phương án 1:
Tiếp tục thực hiện công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện hủy kết quả
thi của các thí sinh được miễn thi trước đây.
Ưu điểm: Phương án này đảm bảo cho tính quyền lực của quyết định cơ quan
nhà nước. Hủy kết quả là giải pháp nghiêm túc nhất, triệt để nhất để làm gương
học này.
Ưu điểm: Giải pháp này là lối thoát cho các trường, bảo đảm quyền lợi học
viên nhưng sẽ khuyến khích tình trạng trên bảo dưới không nghe, tạo thêm tiền lệ
cứ làm sai sẽ được chiếu cố. Bên cạnh đó phương án này đảm bảo được quyền lợi
cho học viên và sự công bằng trong tiêu chí tuyển chọn thạc sỹ và tiến sỹ của Bộ.
Thực trạng phức tạp về các văn bằng ngoại, chứng chỉ ngoại ngữ ở Việt Nam
hiện nay đang ở mức báo động. Có nhiều trường - những xưởng bán bằng cấp - ở
nước ngoài qua nhiều hình thức liên kết đào tạo, đào tạo online… đã đưa vào Việt
Nam hàng ngàn văn bằng chứng chỉ giả hoặc văn bằng chứng chỉ không có chất
lượng từ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nhiều người có bằng tiến sĩ ngoại mà không hề
biết ngoại ngữ. Với những văn bằng, chứng chỉ Anh văn do các tổ chức quốc tế
cấp như TOEFL, TOEIC, việc chạy chọt, mua - bán bằng giả ở Việt Nam cũng
không quá khó. Có lẽ đây là lý do mà trước đây, Bộ cho phép những đối tượng có
10
bằng ngoại ngữ quốc tế, bằng ĐH, trên ĐH ở nước ngoài… được miễn thi ngoại
ngữ đầu vào cao học nhưng nay phải siết lại.
Nhược điểm: Bộ Giáo dục và đào tạo đã thừa nhận việc thực hiện quyết định
số 45 có hiệu lực, vì vậy văn bản yêu cầu các trường đại học hủy kết quả thi của
các ứng viên được miễn thi ngoại ngữ là không chính xác và chưa tính toán kỹ.
Điều này làm ảnh hưởng tới uy tín của Bộ Giáo dục và đào tạo. Chấp nhận cho các
học viên này học tiếp không chỉ vô hiệu hóa biện pháp chấn chỉnh của Bộ, gây mất
công bằng giữa học viên có thi ngoại ngữ và người không thi mà còn có khả năng
để một số người năng lực ngoại ngữ không tương đồng với bằng cấp lọt vào cao
học.
3. Phương án 3:
Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức thi tuyển lại Môn ngoại ngữ.
Ưu điểm: Phương án này sẽ sàn lọc lại được những người xứng đáng được tiếp
tục theo học các khóa đào tạo sau đại học các các trường đại học. Bên cạnh đó việc
đảm bảo quản lý chất lượng thi đầu vào cũng đảm bảo đúng quy định của Bộ Giáo
dục và đào tạo quy định trong thông tư 10. Sẽ có ít nhiều khó khăn về phía nhà
đào tạo của Đảng và Nhà nước ta.
IV. KIẾN NGHỊ
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sớm đưa
nước ta thoát khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, đến năm 2020 cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại theo Nghị quyết Đại hội Đảng thì cốt
12
lõi là việc thực hiện tốt chất lượng giáo dục đào tạo phù hợp đáp ứng những yêu
cầu và đòi hỏi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập và phát triển. Trong quá
trình tìm hiểu thực tế và những hiểu biết trong quá trình học tập, tôi có một số các
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về công tác
tuyển sinh, đào tạo tuyển sinh sau đại học, cụ thể như sau:
- Cần có sự nghiên cứu và thống nhất một cách chặt chẽ giữa các văn bản
của cơ quan nhà nước trong quy chế tuyển sinh. Đồng thời trong các quyết định
cũng cần có các chỉ tiêu quy định cụ thể, rõ ràng đối với từng trường hợp.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với công tác tuyển sinh đào tạo trong hệ thống các trường đại học nhằm
chấn chỉnh kịp thời những sai sót, tồn tại, yếu kém cũng như hiện tượng tiêu cực
xẩy ra trong công tác đào tạo.
- Tiến hành thanh tra diện rộng về việc cấp và sử dụng văn bằng chứng chỉ
không hợp lệ, hợp pháp trong hệ thống GD-ĐT, nhằm phát hiện những thiếu sót và
tiêu cực để có biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp. (Vấn đề này những năm qua nhà
nước đã tiến hành thanh kiểm tra nhưng chưa được rộng khắp nên chưa phát hiện
được nhiều)
- Nhà nước tiếp tục xây dựng và ban hành một hệ thống văn bản pháp luật về
GD-ĐT và chính sách cán bộ; sửa đổi, bổ sung những nội dung văn bản QLNN
không phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về công tác tuyển sinh đào tạo phù
hợp trong tình hình mới.
- Bên cạnh đó, với quan điểm của cá nhân tôi, tôi đề nghị Bộ Giáo cho phép
miễn thi ngoại ngữ đối với các trường hợp có đủ điều kiện trong quá trình thi tuyển
sinh cao học, ưu tiên đảm bảo cho những người thực sự có trình độ ngoại ngữ đã