THẢO LUẬN VỀ VẤN ĐỀ HẠCH TOÁN
NHẬP XUẤT NGUYÊN VẬT LIỆU THEO
PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG
XUYÊN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
Họ và tên:
Mã số sinh viên:
Giáo viên hướng dẫn:
1
LỜI NÓI ĐẦU
Để hướng tới một tương lai ngày càng phát triển không ngừng, xu hướng
chung của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là sự quốc tế hóa,
hợp tác hóa về mọi mặt giữa các quốc gia. Kinh tế là nhịp cầu giúp các quốc gia
xích lại gần nhau hơn, giúp nhau cùng phát triển và tiến tới.
Bên cạnh việc giúp nhau cùng phát triển thì tiềm ẩn bên trong cũng là sự nỗ
lực cạnh tranh không ngừng. Chính vì lẽ đó cơ chế thị trường hiện nay đòi hỏi nhà
nước phải thực hiện việc sử dụng kế toán là công cụ đặc biệt quan trọng trong việc
quản lý nền kinh tế.
Trong đó hạch toán kế toán nguyên vật liệu là một bộ phận cấu thành của
công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và
kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.
Vì vậy việc hoàn thiện công tác kế toán nói chung và kế toán nguyên vật liệu
nói riêng là công việc hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
hiện nay. Công việc này góp phần tích cực trong việc tính và tập hợp chi phí giá
thành sản phẩm của các doanh nghiệp, từ đó đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn đối với
công tác kế toán của doanh nghiệp là phải hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật
liệu.
Cũng vì lẽ đó mà đề án tập trung “thảo luận về vấn đề nhập xuất nguyên vật
liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên trong các doanh nghiệp Việt Nam” ở
các nội dung chính sau:
Phần I: Những vấn đề chung về nguyên vật liệu
Xét về góc độ vĩ mô, chuẩn mực này là các quy định có tính chất bắt buộc chung
cho các doanh nghiệp trong việc hạch toán hàng tồn kho, giúp cho Nhà nước có
được những đánh giá khái quát công tác kế toán, đánh giá việc chấp hành của các
doanh nghiệp. Đồng thời chuẩn mực cũng là căn cứ pháp lý để các kiểm toán viên
đánh giá tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính trong khi tiến hành kiểm toán.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp có sử dụng nguồn vốn và
kinh phí của Nhà nước. Việc ban hành chuẩn mực kế toán đồng thời cũng là một
yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Công tác hạch toán có được sự
quy chuẩn không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn đảm bảo được ở ngoài quốc
gia sẽ là một thuận lợi cho nền kinh tế.
Xét về góc độ vi mô, chuẩn mực vừa là yêu cầu vừa là hướng dẫn cho các doanh
nghiệp trong hạch toán kế toán. Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho” có một
vai trò quan trọng trong hạch toán nguyên vật liệu. Căn cứ vào chuẩn mực, các
doanh nghiệp sẽ xác định một cách đúng đắn trị giá nguyên vật liệu qua sự biến
động của nó, hạch toán đúng tài khoản cũng như trình bày các thông tin có liên
quan đến nguyên vật liệu trong báo cáo tài chính. Chuẩn mực này cũng quy định
trong việc ghi nhận các chi phí sản xuất kinh doanh có liên quan đến nguyên vật
liệu. Việc hạch toán chính xác các nghiệp vụ có liên quan đến nguyên vật liệu tạo
điều kiện cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng một cách hiệu quả nguyên vật liệu của
mình. Như vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong việc bảo toàn và phát triển tài
sản của mình, tăng sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
II. Phân loại nguyên vật liệu
Tùy theo nhu cầu quản lý mà từng doanh nghiệp thực hiện phân loại theo các
cách khác nhau
2.1 Phân loại theo công dụng của nguyên vật liệu
- Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu, cấu thành nên thực
thể của sản phẩm. " Nguyên liệu" là thuật ngữ để chỉ đối tượng lao động
chưa qua chế biến công nghiệp, "vật liệu" dùng để chỉ những nguyên liệu đã
4
qua sơ chế.
Kế toán Mỹ sử dụng tài khoản “ tồn kho nguyên vật liệu” để theo dõi tình
hình biến động nguyên vật liệu qua kho. Khi mua nguyên vật liệu thì chiết khấu
thương mại được trừ trực tiếp trên hóa đơn. Giá trị hàng tồn kho bao gồm: Giá
hóa đơn + Chi phí vận chuyển + Chi phí bảo hiểm + Chi phí lưu kho+ Chiết
khấu thanh toán + Hàng mua trả lại và giảm giá.
III.2 Kế toán Pháp
Với kế toán Pháp thì khi mua nguyên vật liệu = Tổng số tiền ghi trên hóa
đơn – các khoản giảm giá, giá mua không bao gồm các khoản phải trả.
Khoản chiết khấu sẽ được tính vào khoản lợi tức tài chính nhưng vẫn tính vào
giá mua để hạch toán. Toàn bộ số tiền mua nguyên vật liệu được tính hết vào chi
phí kinh doanh trong kỳ. Vì vậy cuối kỳ cần xác định chênh lệch tồn kho nguyên
vật liệu để tính ra chi phí xuất sử dụng trong kỳ.
Nguyên vật liệu dùng trong kỳ = nguyên vật liệu nhập trong kỳ + tồn kho
nguyên vật liệu đầu kỳ - tồn kho nguyên vật liệu cuối kỳ
6
PHẦN II: HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
I. Ý nghĩa, nhiệm vụ, nguyên tắc hạch toán nguyên vật liệu
I.1 Ý nghĩa
Do nguyên vật liệu là yếu tổ ảnh hưởng lớn nhất tới giá thành sản phẩm nên
việc hạch toán nguyên vật liệu mang ý nghĩa rất to lớn cho các nhà lãnh đạo, từ
đó để người lãnh đạo có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất, kịp thời nhất cho
việc tiêu thụ sản phẩm.
1.2 Nhiệm vụ
Để có thể đáp ứng yêu cầu quản lý, tổ chức kế toán nguyên vật liệu cần phải
thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức hệ thống chứng từ cần tuân thủ các quy định về mẫu của Bộ Tài
chính, thời gian lập, trình tự luân chuyển, bảo quản và lưu trữ chứng từ. Trình tự
luân chuyển phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho những người quản lý
nguyên vật liệu, bảo đảm sự an toàn cho chứng từ, cập nhật vào sổ kế toán đầy đủ,
- Tham gia kiểm kê, đánh giá NVL theo chế độ Nhà nước đã quy định, lập
báo cáo về vật tư, tiến hành phân tích kinh tế về tình hình thu mua, dự trữ, quản lý
NVL trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí, hạ chi phí sản xuất
toàn bộ.
I.2 Nguyên tắc tính giá nhập nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là biểu hiện bằng thước đo giá trị là tiền tệ theo một
nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo yêu cầu chân thực và thống nhất. Trong
hạch toán nguyên vât liệu phải được tính theo giá thực tế (giá gốc). Nếu doanh
nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thi trong giá thành của
nguyên vật liệu bao gồm cả thuế GTGT. Còn nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT
8
theo phương pháp khấu trừ thì giá thực tế của nguyên vật liệu là giá không có
thuế GTGT.
- Giá thực tế của nguyên vật liệu mua ngoài: Bao gồm giá mua ghi trên hóa
đơn của người bán cộng thuế nhập khẩu (nếu có), công chi phí thu mua thực
tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí của bộ phận thu mua, chi phí thuê kho
bãi… ) trừ các khoản chiết khấu, giảm giá hàng mua được hưởng.
- Giá nguyên vật liệu tự chế biến, tự sản xuất: Là giá thực tế của nguyên vật
liệu xuất chế biến cộng chi phí chế biến.
- Giá nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Là giá thực tế của nguyên
vật liệu xuất kho chế biến cộng tiền thuê chế biến phải trả công chi phí vận
chuyển bốc dỡ.
- Giá của nguyên vật liệu (thực tế) các đơn vị góp vốn liên doanh: Là giá thỏa
thuận do các bên tham gia liên doanh xác định.
- Giá thực tế của nguyên vật liệu được biếu tặng: Là giá thực tế theo giá thị
trường tại thời điểm đó.
- Giá của nguyên vật liệu là phế liệu: Là giá ước tính thực tế mà có thể sử dụng
được hoặc bán ra được thị trường chấp nhận.
I.3 Nguyên tắc tính giá xuất nguyên vật liệu
Việc tính giá trị nguyên vật liệu xuất có thể được thể hiện theo một trong các
= Giá trị NVL tồn trước lần nhập n+giá trị NVL nhập lần n
Sau lần nhập n Số lượng tồn trước lần nhập n+ số lượng nhập lần n
- Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân cuối kỳ)
Phương pháp này kế toán dồn phần lớn vào cuối kỳ do cuối kỳ kế toán mới
tình được giá đơn vị bình quân
10
Giá đơn vị = Giá trị NVL tồn đầu kỳ + Giá trị NVL nhập trong kỳ
Bình quân Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập trong kỳ
- Phương pháp giá hạch toán ( phương pháp hệ số giá)
Biến động nguyên vật liệu theo phương pháp này được ghi theo một loại giá
tạm thời mang tính ổn định gọi là giá hạch toán (giá kế hoạch hay giá kỳ trước).
Cuối kỳ kế toán phải tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán thành giá thực tế trên
cơ sở hệ số giá.
Hệ số giá có thể được tính cho từng loại hoặc từng nhóm nguyên vật liệu tùy
vào yêu cầu và trình độ quản lý của mỗi đơn vị:
Giá hạch toán xuất = Số lượng NVL xuất x đơn giá hạch toán
Hệ số giá = Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + Giá thực tế NVL nhập trong kỳ
Giá hạch toán NVL tồn đầu kỳ + Giá hạch toán NVL nhập trong kỳ
Giá thực tế xuất = Giá hạch toán xuất x hệ số giá
Số điều chỉnh = Giá thực tế xuất – giá hạch toán xuất
= Giá hạch toán xuất ( hệ số giá – 1)
II. Chuẩn mực kế toán Việt Nam về nguyên vật liệu
Theo quyết định số 149/2001/QĐ- BTC ban hành ngày 31 tháng 12 năm
2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
Nguyên vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho.
- Giá gốc của nguyên vật liệu bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các
chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm
và trạng thái hiện tại.
- Chi phí không tính vào giá gốc cảu hàng tồn kho: là chi phí nguyên liệu, vật
liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất kinh doanh khác phát sinh trên
được.
12
b) Tài khoản 152 “ Nguyên liệu, vật liệu”
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị tồn kho và tình hình nhập xuất
nguyên vật liệu trong kỳ có thể được mở chi tiết theo từng loại nguyên vật liệu.
Bên nợ: - Giá trị nguyên vật liệu nhập trong kỳ do mua, nhận vốn góp, được
cấp, được biếu tặng, do thuê gia công hoặc tự sản xuất.
- Giá trị nguyên vật liệu phát hiện thừa khi kiểm kê.
Bên Có: - Giá trị nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ để sử dụng, bán, góp vốn,
thuê ngoài gia công.
- Giá trị nguyên vật liệu phát hiện thiếu khi kiểm kê.
- Số tiền chiết khấu thương mại, giảm giá được hưởng khi mua
nguyên vật liệu hoặc giá trị nguyên vật liệu đã mua trả lại người bán.
Tài khoản này dư nợ: Giá trị nguyên vật liệu tồn kho hiện có
Tài khoản 152 có thể mở chi tiết theo từng loại nguyên vật liệu tùy theo yêu
cầu quản lý của doanh nghiệp. Chi tiết theo công dụng có thể chia thành 5 tài
khoản cấp 2:
+ Tài khoản 1521: Nguyên vật liệu chính
+ Tài khoản 1522: Vật liệu phụ
+ Tài khoản 1523: Nhiên liệu
+ Tài khoản 1524: Phụ tùng thay thế
+ Tài khoản 1528: Vật liệu khác
3.2Trình tự hạch toán nhập kho nguyên vật liệu
3.2.1 Nguyên vật liệu nhập kho do mua: Bao gồm 3 trường hợp
Trường hợp 1: Cùng nhận được nguyên vật liệu và hóa đơn trong tháng
- Căn cứ vào giá mua ghi trên hóa đơn và các chứng từ thanh toán, kế toán
định khoản:
Nợ TK 152: Giá trước thuế nguyên vật liệu
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 111,112,331,311: trả bằng tiền, phải trả người bán, vay ngắn hạn
được khấu trừ
+ Nếu giá trên hóa đơn cao hơn giá tạm tính
Nợ TK 152: Số tiền chênh lệch sau khi đã trừ giá tạm tính
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 331: Tổng tiền
+ Nếu giá trên hóa đơn thấp hơn giá tạm tính
Nợ TK 152 ( giá tạm tính – giá trên hóa đơn)
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 331: Tổng tiền
- Khi nhập kho phát hiện thấy nguyên vật liệu thiếu so với hóa đơn thì tùy theo
nguyên nhân kế toán ghi:
Nợ TK 1381: Chờ xử lý
Nợ TK 1388: Yêu cầu bồi thường
Có TK 111,112,331,311: Giá thanh toán của số nguyên vật liệu thiếu
- Nếu khi nhập kho phát hiện thấy nguyên vật liệu thưa so với hóa đơn thì kế
toán có thể ghi số thừa vào tài khoản 002 "vật tư, hàng hóa giữ hộ" hoặc căn cứ
vào giá hóa đơn của số vật iệu thừa, kế toán ghi:
Nợ TK 152
Có TK 338
3.2.2 Nguyên vật liệu nhập kho do nhận vốn góp hoặc được cấp
Căn cứ vào giá nguyên vật liệu ghi trên biên bản giao nhận, kế toán ghi
Nợ TK 152
Có TK 411
3.2.3 Nguyên vật liệu nhập kho do được biếu, tặng, viện trợ
Căn cứ vào giá thị trường của nguyên vật liệu cùng chủng loại, kế toán định
khoản
15
Nợ TK 152
Có TK 711
3.2.4 Nguyên vật liệu nhập kho do nhận lại vốn góp từ cơ sở kinh doanh
Nợ TK 241: NVL sử dụng cho xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn tài sản cố
định
Có TK 152: Tổng giá trị nguyên vật liệu xuất
- Khi xuất nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
+ Giá trị nguyên vật liệu mang đi thuê gia công
Nợ TK 154
Có TK 152
+ Chi phí vận chuyển, bốc dỡ và tiền công gia công
Nợ TK 154
Nợ TK 133
Có TK 111,112,331
- Khi xuất nguyên vật liệu để góp vốn vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát. Căn
cứ vào giá xuất và giá thỏa thuận, kế toán ghi
Nợ TK 222: Giá thỏa thuận
Nợ TK 811: Giá thỏa thuận < giá xuất
Có TK 152: Giá xuất
Có TK 711: Giá xuất < giá thỏa thuận
- Khi xuất nguyên vật liệu để bán
+ Bút toán phản ánh giá vốn
Nợ TK 632: giá vốn
Có TK 152: giá nguyên vật liệu xuất kho
+ Bút toán phản ánh giá bán
Nợ TK 111,112,131: Thu được bằng tiền, phải thu khách hàng
Có TK 511: Giá bán
17
Có TK 3331: Thuế đầu ra
- Khi xuất nguyên vật liệu trả lại vốn góp
Nợ TK 411: vốn góp trả lại
Có TK 152: nguyên vật liệu
- Khi kiểm kê phát hiện nguyên vật liệu bị thiếu, giá trị nguyên vật liệu thiếu được
- Tại phòng kế toán: Không mở thẻ kế toán chi tiết mà mở sổ đối chiếu luân
chuyển để hạch toán số lượng và số tên của từng thư của nguyên vật liệu theo
từng kho.
Số này ghi mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ
nhập xuất, phát sinh trong tháng của từng nguyên liệu. Cuối tháng đối chiếu số
liệu nguyên vật liệu trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho đối chiếu số tiền
với kế toán tổng hợp.
Sơ đồ hạch toán
Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu
3.3.3 Phương pháp sổ số dư
- Tại kho: Giống như phương pháp trên. Định kỳ sau khi ghi thẻ kho, thủ kho
phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh từng vật liệu quy
định. Sau đó lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các
chứng từ nhập xuất vật liệu.
- Tại phòng kế toán: Định kỳ nhân viên kế toán phải xuống kho để hướng dẫn
và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng từ. Khi
19
Phiếu nhập
Phiếu xuất
Thẻ kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Kế toán tổng hợp
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất
nhận được chứng từ kế toán kiểm tra và tính giá chứng từ (theo giá hạch
toán). Kế toán tổng cộng số tiền và ghi số tiền vừa tính được của từng nhóm
nguyên vật liệu vào bảng lũy kế nhập xuất, tồn kho nguyên vật liệu. Bảng
này được mở cho từng kho, mỗi kho một tờ, được ghi trên cơ sở các phiếu
giao nhận chứng từ nhập xuất nguyên vật liệu.
Công tác nhập kho nguyên vật liệu được diễn ra tương đối là rõ ràng, các đối
tượng bán, cân, mua, nhập là tương đối tách bạch, khách quan với nhau
- Việc xuất kho nguyên vật liệu:
Đối với việc xuất kho nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp Việt Nam thì
công tác xuất nguyên vật liệu được diễn ra tương đối nghiêm túc. Các đối tượng
được phân công trong công tác xuất nguyên vật liệu tương đối rõ ràng.
+ Về chứng từ kế toán:
21
Nhìn chung các doanh nghiệp đều dựa vào hệ thống chứng từ kế toán theo
quy định hiện hành của nhà nước để vận dụng vào doanh nghiệp mình. Các
doanh nghiệp đều lập báo cáo dựa trên những mẫu báo cáo quy định, trên đó đã
phản ánh được đầy đủ các thông tin về nhập xuất nguyên vật liệu như số lượng,
đơn giá, thành tiền và có chữ ký của các bên liên quan
+ Về hạch toán kế toán
Trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đa số là sử dụng phương pháp
thẻ song song vì phương pháp này rất đơn giản và dễ đối chiếu, kiểm tra.
III.4.2Nhược điểm
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không mấy để ý đến việc lập
dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho nên khi xảy ra biến động giá cả trên thị
trường thì doanh nghiệp khó tránh khỏi những khó khăn.
Thêm vào đó các doanh nghiệp ít khi sử dụng tài khoản 151 "hàng mua đang
đi đường" để phản ánh đúng tình trạng nguyên vật liệu mà xảy ra hiện tượng
nhập khống khi nguyên vật liệu chưa thực sự về đến kho của doanh nghiệp. Một
số doanh nghiệp hiện nay xảy ra hiện tượng nguyên vật liệu không hề về đến
kho mà nhân viên kinh doanh đi thu mua nguyên vật liệu và bán ngay cho khách
hàng không qua kho nhưng doanh nghiệp vẫn tiến hành nhập kho và xuất hóa
đơn bán hàng như bình thường. Tình trạng trên thường xảy ra đối với những
doanh nghiệp tiến hành mua bán gỗ và nguyên liệu giấy.
III.5 Những ý kiến nhằm hoàn thiện công tác nhập xuất nguyên vật liệu
hiện nay
này vào cuối mỗi kỳ hạch toán kế toán tính giá thực tế của nguyên vật liệu xuất
để tính toán ra hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán. Do đó nên
dùng phương pháp kê khai thường xuyên để đảm bảo tính chính xác và kịp thời
trong việc hạch toán nguyên vât liệu.
23
Mặt khác căn cứ vào đặc điểm của nguyên vật liệu và tình hình nhập xuất của
từng doanh nghiệp mà áp dụng các phương pháp bảo quản, lưu giữ tại kho bãi
cho thích hợp và đạt hiệu quả tốt nhất. Để thực hiện dược điều này, các doanh
nghiệp nên đầu tư hơn nữa cho chi phí bảo quản và lưu thông tin nguyên vật liệu
như: xây mới nhà kho, bến bãi với chất lượng tốt, tăng lương cho công nhân làm
công tác bảo vệ bảo quản nguyên vật liệu, mua sắm các thiết bị máy móc, xe cộ
hiện đại để cất giữ và lưu thông nguyên vật liệu tốt hơn…
III.5.3Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Đối với thị trường đầy biến động như hiện nay thì các doanh nghiệp nên lập
dự phòng giảm giá hàng tồn kho để tránh gặp phải các rủi ro ngoài ý muốn.
III.6 Kết luận
Trước những đổi mới thực sự của nền kinh tế thị trường hiện nay trong cơ
chế quản lý kinh tế tài chính đã không khẳng định vai trò của hạch toán kế toán
trong việc quản trị doanh nghiệp. Đòi hỏi Nhà nước và chính phủ phải ban hành
các văn bản pháp lệnh nghị định về công tác hạch toán kế toán mới phù hợp với
tình hình kinh tế chung của đất nước, của khu vực và trên thế giới từ đó mới có
thể hoàn thiện được công tác kế toán.
Đặc biệt đối với công tác kế toán nguyên vật liệu như hiện nay ở nước ta là
một vấn đề cần được xem xét và quan tâm, bởi vì đây là một vấn đề chủ chốt
cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp.
Trong thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu vẫn chưa được quan tâm đúng
mức. Nhiều doanh nghiêp, xí nghiệp còn sơ suất trong việc ghi chép, phương
pháp tính toán giá nguyên vật liệu chưa phù hợp, bảo quản nguyên vật liệu chưa
tốt dẫn đến tình trạng thiếu hụt, mất mát, hư hỏng, nguyên vật liệu kém phẩm
chất. Một số doanh nghiệp còn áp dụng các phương pháp tính giá nguyên vật