luận văn quản trị chất lượng Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2010 - Pdf 27

§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn phát triển vừa qua tỉnh Việt Nam đã đạt được kết quả tương
đối cao về tăng trưởng kinh tế.Cùng với tăng thu nhập bình quân đầu người và cải
thiện về cuộc sống ,tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể.Nhưng theo một vài đánh giá gần
đây thì chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp .Nghị quyết hội nghị TW
9 ,khóa IX đã nhận định: “Tăng trưởng kinh tế khá nhưng chưa tương xứng với
mức tăng đầu tư và tiềm năng của kinh tế”.
Có thể thấy tính bền vững hay chất lượng tăng trưởng ngày càng được quan
tâm nhiều hơn vì vậy đánh giá chất lượng tăng trưởng là một việc làm cần thiết để
đưa ra chính sách phát triển cho phù hợp.Đặc biệt là ở tỉnh Bắc Ninh nơi có quá
trình CNH-HĐH đang diễn ra mạnh mẽ thì việc đánh giá chất lượng tăng trưởng
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh.Chính vì vậy
em mạnh dạn chọn đề tài : “Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2005-2010”.Qua bài chúng ta để có được cái nhìn toàn diện, tổng thể về
chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tìm ra những rào cản đối với tăng trưởng
kinh tế trên cả hai mặt lượng và chất, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong thời gian tới.
Do kiến thức về kinh tế còn hạn chế và thời gian làm gấp rút nên bài viết
của em còn nhiều sai sót.Vì vậy em rất mong nhận được sự hướng dẫn và góp ý của
thầy giáo THS.Bùi Đức Tuân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Kết cấu của bài bao gồm 3 phần:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2005–2010
III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TỈNH BẮC NINH TỚI NĂM 2015
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
1

ra,thể hiện bằng kết quả đạt được qua tăng trưởng kinh tế như chất lượng cuộc
sống được cải thiện,bình đẳng trong phân phối,bình đẳng về giới trong phát
triển,bảo vệ môi trường sinh thái…Quan điểm này đã dần đưa khái niệm chất
lượng tăng trưởng gần hơn với phát triển kinh tê.Quan điểm khác lại nhấn
mạnh đầu vào của quá trình sản xuất như việc sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực,nắm bắt và tạo cơ hội bình đẳng cho các đối tượng tham gia đầu tư quản
lý hiệu qủa các nguồn lực đầu tư.
Nếu theo nghĩa rộng thì chất lượng tăng trưởng cũng gần với phát triển
bền vững: “ Đó là sự phát triển có sự kết hợp chặt chẽ ,hợp lý hài hòa giữa 3
mặt của sự phát triển gồm : tăng trưởng,cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ
môi trường”.Tiêu trí đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế
ổn định: thực hiện tốt công bằng xã hội,khai thác hợp lý ,sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên,bảo vệ va nâng cao chất lượng môi trường sống.
Còn theo nghĩa hẹp,chất lượng tăng trưởng có thể chỉ là một khía cạnh
nào đó của vấn đề phát triển .
Một số nhà kinh tế học đã đưa ra những khái niệm khá đầy đủ về chất
lượng tăng trưởng:
*Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế đạt được khi tốc độ tăng
trưởng cao được duy trì trong dài hạn và phải đóng góp trực tiếp vào phát
triển bền vững và xóa đói giảm nghèo.
Đây là quan điểm được nhìn nhận trọng tâm hơn vào vấn đề xã hội của
quá trình phát triển theo hướng bền vững với mục tiêu định hướng là tiến tới
xóa đói giảm nghèo.Đây là quá trình mà CNH-HĐH của nước ta đang tiến tới
và được các tổ chức quốc tế đánh giá cao.
*Quan niệm chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả
Nội hàm của chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả được
nhìn nhận theo hai phương thức:
Một là tăng trưởng theo chiều rộng: Tức là tăng thêm vốn,lao động và
tăng cường khai thác tài nguyên khoáng sản…
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A

4
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
người tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường giai đoạn tiếp theo được cải
thiện rõ rệt.
Kết luận : Như vậy có thể hiểu chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự
phát triển nhanh hiệu quả và bền vững của nền kinh tế,thể hiện qua năng suất
nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định,mức sống của
người dân được nâng cao không ngừng,cơ cấu kinh tế chuyển dịch ohù hợp
với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế,tăng trưởng còn phải đi đôi với tiến
bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường,quản lý nhà nước có hiệu quả.Điều
đó được thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
1. Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài
2. Phát triển có hiệu quả: ICOR TFP cao
3. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả phù hợp
với thực tế của nền kinh tế
4. Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao
5. Tăng trưởng đi đôi với đảm bảo công bằng đời sống xã hội
6. Tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường
7. Sự quản lý hiệu quả của nhà nước
3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng về mặt lượng thường diễn ra trước và là điều kiện để đẩy
mạnh nâng cao chất lượng tăng trưởng. Chúng ta cần phải xem xét một cách
đầy đủ hai mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng.Mối quan hệ giữa mặt
lượng và mặt chất của quá trình tăng trưởng là rất chặt chẽ.Tốc độ tăng trưởng
phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng thể hiện ở mức độ số lượng lớn
nhỏ,nhanh hay chậm của việc mở rộng quy mô còn chất lượng phản ánh nội
dung bên trong của quá trình tăng trưởng ,biểu hiện ở phương thức,mục tiêu
và hiệu ứng đối với môi trường chứa đựng quá trình tăng trưởng ấy.
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
5

§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
loại tài sản nguồn vốn cho nên chậm chễ trong đầu tư và đầu tư không hiệu
quả đặc biệt là vốn nhân lực do đó không nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Mô hình 3: Tăng trưởng bền vững nhờ nguồn tích lũy từ các loại vốn
tăng lên theo thời gian một cách cân đối.Chính phủ tập trung đầu tư nhiều
hơn cho khu vực kinh tế công cộng như y tế giáo dục,bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên môi trường.Vốn nhân lực được tiếp sức có giá trị gia tăng cao hơn tạo
điều kiện đổi mới công nghệ và tăng TFP.
II. Đánh giá tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế
1. Đánh giá về tăng trưởng kinh tế
Theo mô hình kinh tế thị trường,thước đo tăng trưởng kinh tế được
xác định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia(SNA).Các chỉ tiêu
gồm có:
a. Tổng giá trị sản xuất (GO-Gross output)
Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi
lãnh thổ của 1 quốc gia trong một thời kỳ nhất định(thường là một năm).Chỉ
tiêu tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo hai cách:
- Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị,các
nghành trong toàn bộ nền kinh tế quôc dân.
- Thứ hai tính trực tiếp từ sản xuất ,dịch vụ gồm chi phí trung gian(IC)
và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA)
b. Tổng sản phẩm quôc nội (GDP-Gross domestic product):
Là tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một
quốc gia tạo nên trong 1 thời kỳ nhất định.
Để tính GDP có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất,tiêu dùng và
phân phối:
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
7
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
-Theo cách tiếp cận từ sản xuất : GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn

Lưu ý rằng, để đánh giá xác thực hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của
một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư, người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn như GDP bình quân đầu người (hay GNI
bình quân đầu người). Khi đó, tốc độ tăng trưởng lại phụ thuộc hai yếu tố: tốc
độ tăng trưởng thu nhập (sản lượng) và tốc độ tăng trưởng dân số.
2. Đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế
a, Chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ ngành, cơ cấu kinh tế xem xét số lượng và chất lượng
các ngành tạo nên nền kinh tế, cũng như các mối quan hệ giữa chúng với
nhau. Thông thường nền kinh tế được phân chia thành ba nhóm ngành lớn là
Nông - lâm nghiệp - Thuỷ sản, Công nghiệp - Xây dựng và Dịch vụ. Sự
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành từ
trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hiện đại hơn và tiên tiến hơn,
mà cụ thể là tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời
giảm tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp trong GDP.
- Dưới góc độ lãnh thổ, cơ cấu kinh tế được nhìn nhận theo sự bố trí lực
lượng sản xuất giữa các vùng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm
bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng để đảm bảo tính bền vững
trong quá trình phát triển. Tuy nhiên cũng cần phải phải xem xét vai trò động
lực của từng vùng để lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển.
b. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động - Năng suất lao động
Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy
GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động). Nếu GDP
bình quân trên mỗi lao động càng lớn, thì năng suất lao động xã hội càng cao.
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
9
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
W

1
YY
I
ICOR

=
(2)
Trong đó, I
1
là tổng vốn đầu tư của năm nghiên cứu, Y
1
là GDP của
năm nghiên cứu, và Y
0
là GDP của năm trước đó. Các chỉ tiêu về vốn đầu tư
và GDP để tính hệ số ICOR theo phương pháp này phải được đo theo cùng
một loại giá (giá thực tế hoặc giá so sánh).
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
10
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
Phương pháp thứ hai

Y
g
YI
ICOR =
(3)
Trong đó,
YI
là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP,

dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo.
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội: tiến bộ xã hội được thể hiện rõ
nhất ở hai lĩnh vực giáo dục - đào tạo và y tế. Những tiêu chí về cơ sở vật
chất, số lượng học sinh, giáo viên, số cán bộ ngành y gia tăng thể hiện sự
tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân. Sự
nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, cũng như những cải
thiện về mặt sức khoẻ và chăm sóc y tế đối với người dân (tuổi thọ, tỷ lệ chết
ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ) có thể coi là kết quả của sự gia tăng
phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: các công trình nghiên cứu,
các báo cáo phát triển chính thức ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế thường
sử dụng một số công cụ và thước đo chủ yếu như: Đường cong Lorenz; Hệ số
Gini; Mức độ thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người; Chỉ số phát triển xã
hội tổng hợp; Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống
Tuy vậy, trên thực tế, chúng ta rất khó định lượng chất lượng tăng
trưởng kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề xã hội.
d, Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo vệ và cải
thiện môi trường
Tăng trưởng kinh tế cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn
liền với việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản
xuất. Tăng trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên môi trường có mối quan hệ
với nhau và được xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
chính sau đây: nhịp độ tăng trưởng của GDP cả nước; giá trị gia tăng của các
ngành trong tương quan so sánh với mức độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô
nhiễm môi trường.
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
12
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
III. Các nhân tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
1. Các yếu tố nội tại của nền kinh tế

tăng thêm sản phẩm.
Các tài nguyên là đầu vào trong quá trình sản xuất.Nguồn tài nguyên
phong phú dồi dào sẽ làm tăng sản lượng một cách nhanh chóng nhất là cách
nghành sử dụng nhiều tài nguyên qua đó thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao
chất lượng tăng trưởng.Tuy nhiên tài nguyên là khan hiếm tương đối so với
nhu cầu.Vì các tài nguyên cần thiết cho sản xuất và đời sống đều có hạn
không tái tạo được hoặc nếu có thì cũng cần có thời gian dài và chi phí lớn.Vì
vậy cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả.
-Khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mới mà cả
phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra mới về kết quả sản xuất và tăng năng
suất lao động.Dưới tác động của khoa học công nghệ ,các nguồn lực sản xuất
được mở rộng,làm biến đổi chất lượng nguồn lao động.Cơ cấu lao động xã hội
chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc,có kỹ
thuật có trí tuệ nhờ đó nâng cao năng suất lao động tạo ra tăng trưởng kinh tế.
Sự phát triển của KH-CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của
các nghành mà còn làm cho phân công lao động xã hộ ngày càng trở nên sâu
sắc đưa đến phân chia các nghành thành nhiều phân nghành nhỏ,xuất hiện
nhiều nghành phân nghành mới.Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực làm cho chất lượng tăng trưởng ngày càng tăng
2. Các yếu tố phi kinh tế
-Thể chế chính trị: Một thể chế kinh tế -xã hội ổn đinh và mềm dẻo sẽ tạo điều
kiện để đổi mới liên tục cơ cấu đầu tư,công nghệ sản xuất phù hợp với những
điều kiện thực tế tọa ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và chất lượng tăng
trưởng cao.Ngược lại nếu thể chế không phù hợp sẽ gây nhiều cản trở mất ổn
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
14
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
định những quan hệ làm ăn và hợp tác và gây ra ảnh hưởng tớ sự tăng trưởng
của một nghành.

sụng ln ni Bc Ninh vi cỏc tnh lõn cn v c ng Hi Phũng, cng Cỏi Lõn.
V trớ a lý ca tnh Bc Ninh l mt trong nhng thu n li giao lu, trao
i vi bờn ngoi, to ra nhiu c hi to ln cho vic phỏt trin kinh t - xó hi
v khai thỏc cỏc tim nng hin cú ca tnh. Con ngi Bc Ninh mang trong
mỡnh truyn thng vn hoỏ, hiu khỏch, cn cự v sỏng to, vi nhng bn tay
khộo lộo mang m nột dõn gian ca vựng trm ngh nh t tm, gm s, ỳc
ng, trm bc, khc g, lm giy, tranh v dõn gian c bit l nhng ln
iu dõn ca quan h tr tỡnh ni ting trong v ngoi nc.
Trờn a bn tnh Bc Ninh hin cú 8 trng i hc, cao ng, rung hc
dy ngh v nhiu c s giỏo dc cú quy mụ ln, cht lng khỏ. Trong tnh hin
cú hn 600.000 lao ng trong ú i ng cỏn b khoa hc k thut, cụng nhõn
lnh ngh phỏt trin khỏ nhanh phự hp vi nn kinh t m ca. i ng lao ng
trong tnh cú kh nng tham gia hp tỏc lao ng quc t, ng thi cng l c hi
cho cỏc nh u t khai thỏc lao ng khi n Bc Ninh u t.
SV: Nguyễn Hữu Hiệp Lớp: Kinh tế phát triển 49A
16
Đề án môn học GVHD: Th.S Bùi Đức Tuân
II. Thc trng tng trng kinh t ca tnh Bc Ninh giai on 2005-2010
Trong nhng nm qua kinh t xó hi Bc Ninh ó cú bc phỏt trin,
tng sn phm GDP tng bỡnh quõn 15,4% (nm 2006 GDP tng 16,23%).
Trong ú nụng nghip tng bỡnh quõn 6,4%, cụng nghip - xõy dng c
bn tng bỡnh quõn 23,1%, thng mi dch v tng 12,0%, kim ngch xut
khu tng bỡnh quõn 24,5%, kim ngch nhp khu tng bỡnh quõn 18,6%.
C cu kinh t chuyn dch theo hng cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ
tng bc nõng cao hiu qu nn kinh t. T nm 1996 n nm 2001 t
trng nụng nghip t 46% gim cũn 34,2%, cụng nghip - xõy dng c bn
tng t 24,1% lờn 37,1%, dch v t 29,9% xung 28,7%.
Cựng vi cỏc a phng trong c nc giai on t nay n nm 2015
l giai on quan trng nn kinh t tnh Bc Ninh bc vo thi k cụng
nghip hoỏ, hin i hoỏ. Mc tiờu phỏt trin kinh t xó hi n nm 2015 ca

Công nghiệp
và xây dựng
Dịch vụ
2005 100 25,1 45,2 29,7
2006 100 23,6 47,79 28,61
2007 100 18,65 51,01 30,34
2008
2009
100
100
14,7
12,7
57,67
63,5
27,63
23,8
Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Ninh, 2008
Có thể thấy rõ, cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh chuyển dịch đúng hướng
tích cực, tỷ trọng của nhóm ngành nông nghiệp trong GDP của tỉnh Bắc Binh
giảm dần theo thời gian, từ 25,1% xuống 12,7% trong thời kỳ 2005-2009,
trong khi công nghiệp đóng vai trò ngày càng quan trọng và giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế, từ 45,2% tăng lên 63,5% trong cùng thời kỳ. Khu vực
dịch vụ chưa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ba khối ngành và lại có xu thế đi
xuống, chỉ ở mức 23,8% trong 4 năm trở lại đây.
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
18
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
Do chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, nên năm 2009 công nghiệp và xây
dựng vẫn là khu vực có đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng chung, chiếm tới
63,5% trong cơ cấu kinh tế, đóng góp 10,22% vào mức tăng chung. Khu vực

cũng có xu hướng tăng nhanh chóng.Tốc độ tăng của năng suất lao động luôn
lớn hơn tốc độ tăng của GDP.
Năng suất lao động cao sẽ tác động khá tốt đến tăng trưởng kinh tế và
chứng tỏ giá trị thặng dư tạo ra cao,qua đó tác động đến tích lũy tái đầu tư để
sản xuất mở rộng cũng như nâng cao mức sống
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
19
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
b. hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
Hệ số ICOR (tiếng Anh là Incremental Capital Output Ratio) là hệ số
gia tăng của vốn đầu tư toàn xã hội so với tăng trưởng kinh tế.
Hệ số ICOR phản ánh, để có một đồng tăng trưởng kinh tế thì cần bao
nhiêu vốn đầu tư hoặc để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm
bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư; trên cơ sở đó, có thể dự kiến được nhu cầu vốn
đầu tư của xã hội cần phải huy động để có thể đạt một tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhất định.
Hệ số ICOR còn được sử dụng để so sánh vai trò của vốn với các yếu
tố tăng trưởng khác như: công nghệ, hoặc so sánh hiệu quả sử dụng vốn (hay
hiệu quả đầu tư) giữa các thời kỳ hoặc giữa các nền kinh tế. Hệ ICOR cao hơn
chứng tỏ thời kỳ đó hoặc nền kinh tế đó sử dụng vốn kém hơn.
Theo con số thống kê qua từng giai đoạn, từ năm 1995, hệ số ICOR của
Việt Nam liên tục tăng: từ mức 3,5 giai đoạn 1991 – 1995, tăng đến 5,24 giai
đoạn 2001 – 2003. Năm 2008, hệ số ICOR của nền kinh tế là 6,6 – đã gấp hơn
2 lần mức khuyến nghị, và đến năm nay, ICOR lại leo lên con số 8. Nói nôm
na là phải bỏ ra 8 đồng vốn đầu tư mới được một đồng tăng trưởng!
Trong giai đoạn 2005-2010 chỉ số ICOR của tỉnh Bắc Ninh giao động
trong khoảng 4-6,thấp hơn mức trung bình của cả nước.Điều đó phán ánh
năng lực hiệu quả sử dụng vốn của tỉnh khá tốt.Các yếu tố vốn công nghệ là
yếu tố quan trọng tác động đến sự tăng trưởng chung của tỉnh.
3. Thực trạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

21. Tiền Giang Khá 21 Long An Khá 21. Phú Yên Khá
22. Cần Thơ Khá 22 Quảng Ninh Khá 22. Bắc Ninh Khá

Nguồn: www.vcci.com.vn
Với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm ở mức
chưa cao, nhưng năng lực cạnh tranh trên bình diện quốc gia của tỉnh Bắc
Ninh so với 64 tỉnh thành trên cả nước đựơc xếp vào nhóm năng lực cạnh
tranh khá (xếp thứ hạng 16; 20; 19), và luôn được xếp vào những tỉnh có số
điểm xếp hạng đứng đầu trong tốp những tỉnh xếp loại khá về năng lực cạnh
tranh. Mặc dù ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao trong GDP,
chính sách đối với FDI được cải thiện là những yếu tố cơ bản tạo ra tính
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A
21
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế của Bắc Ninh, thế nhưng theo báo cáo của
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, năng lực cạnh tranh của tỉnh
Bắc Ninh đang tăng liên tục về thứ hạng trong 3 năm trở lại đây. Điều đó đạt
được là do những đổi mới về công nghệ và thể chế hành chính.VCCI đã đưa
ra hàng loạt các tiêu nhân tố lợi thế của các doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh như
cơ sở hạ tầng được nâng cao,bộ máy hành chính tinh giảm,lao động có chất
lượng ngày càng tăng,khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp lớn….
4. Thực trạng chất lượng tăng trưởng thông qua tiến bộ và công bằng xã hội
a. Lao động thất nghiệp
Tính đến năm 2002 thì tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 5,28 và hệ số sử
dụng thời gian lao động ở nông thôn là 77,37%
Bảng 5 : Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh Bắc Ninh
Năm 1999 2000 2001 2002
Tỷ lệ thất nghiệp thành thị 6,77% 6,57% 5,71% 5,28%
Hệ số sử dụng thời gian lao
động ở nông thôn

23
§Ò ¸n m«n häc GVHD: Th.S Bïi §øc Tu©n
c. Y tế -giáo dục
Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, các lĩnh vực văn hoá- xã hội-y
tế giáo dục có bước phát triển khá:
Quy mô đào tạo các cấp, các ngành học được mở rộng; chất lượng giáo
dục trọng điểm và đại trà được nâng lên. Tổng số học sinh phổ thông năm
1999 là 234.101, năm 2001 là 233.654, số học sinh trên phổ thông trên 1 vạn
dân năm 1999 là2.479, năm 2001 là 2.432; tổng số giáo viên năm 1999 là
7.988, năm 2001 là9.028.
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân được quan tâm chỉ đạo,
các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt; số giường bệnh trên 1 vạn
dân năm 1999 là 16,8, năm 2001 là 17,6, số y, bác sỹ trên 1 vạn dân năm
1999 là 16,3, năm 2001 là 17,8.
Các hoạt động văn hoá quần chúng được tổ chức thường xuyên góp
phần giáo dục truyền thống giữ gìn bản sắc dân tộc của vùng quê kinh bắc và
từng bước
5. Thực trạng các vấn đề môi trường
Bắc Ninh đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề về ô nhiễm chất
lượng môi trường. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí tại
một số làng nghề đã ghi nhận nồng độ một số chất ô nhiễm vượt quy chuẩn
cho phép nhiều lần (nồng độ SO2 vượt 4 – 5 lần; nồng độ NO2 vượt 3 – 4
lần). Nồng độ bụi trong không khí tuy đã có xu hướng giảm nhưng vẫn vượt
ngưỡng cho phép. Tại các điểm nút giao thông như ngã tư Cổng Ô, thành phố
Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn nồng độ bụi và tiếng ồn luôn đứng ở mức cao. Bên
cạnh ô nhiễm không khí, tình trạng chất thải rắn gây ô nhiễm trên địa bàn tỉnh
cũng đang ở mức báo động. Lượng rác thải sinh hoạt thải ra trung bình
khoảng 533 tấn/ngày và khoảng 2 tấn rác thải y tế; dự báo đến năm 2020 con
số này sẽ tăng lên là 704 tấn/ngày và 4 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom rác thải sinh
SV: NguyÔn H÷u HiÖp Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 49A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status