LỜI CẢM ƠN
Sau những cố gắng của mình với sự giúp đỡ của thầy cô và đồng nghiệp, tôi
đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ với đề tài:
“Nghiên cứu diễn biến lòng sông Hồng đoạn bờ tả khu vực Bát Tràng thành phố
Hà Nội và đề xuất giải pháp công trình ứng dụng công nghệ mới bảo vệ cho các
đoạn bờ sông nguy hiểm sát chân đê.”. Đây là kết quả đánh giá kiến thức của mình
trong thời gian được học tại Trường Đại học Thuỷ Lợi.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ và
Quản lý xây dựng, trong Khoa Công trình và Trường Đại học Thuỷ lợi đã tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành khoá học.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến PGS.TS.
Nguyễn Bá Quỳ và TS. Phạm Thanh Hải đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đồng
nghiệp đã khích lệ và động viên, là động lực rất lớn giúp tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, chắc chắn luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả kính mong các thầy cô chỉ bảo, mong
các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tác giả có thể hoàn thiện, tiếp tục nghiên cứu
và phát triển đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Phạm Thị Đóa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trích
dẫn là trung thực. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được người nào
công bố trong bất kỳ công trình nào khác./.
ĐOẠN BỜ TẢ KHU VỰC BÁT TRÀNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI 23
2.1. Giới thiệu chung về đoạn bờ sông nghiên cứu 23
2.2. Phân tích điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn 24
2.2.1 Địa hình, địa chất 24
2.2.3. Thủy văn 32
2.3. Đánh giá nguyên nhân sạt lở 40
2.4. Kết luận chương 2 41
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI
CHỒNG SẠT LỞ BỜ SÔNG SÁT CHÂN ĐÊ ĐOẠN BỜ TẢ SÔNG HỒNG
KHU VỰC BÁT TRÀNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
3.1. Phân tích lựa chọn giải pháp 42
3.1.1 Giải pháp truyền thống 42
3.1.2 Giải pháp ứng dụng công nghệ mới 46
3.1.3 Giới thiệu vật liệu cừ BTCT dự ứng lực: 53
3.2. Bố trí công trình theo giải pháp lựa chọn 56
3.2.1 Tóm tắt phương án lựa chọn 56
3.2.2 Tính toán mực nước thi công 57
3.3. Tính toán ổn định cho đoạn sông nghiên cứu 58
3.3.1 Phương pháp tính 58
3.3.2 Kết quả tính ổn định trượt tổng thể mái kè tại mặt cắt C18 và C21 59
3.4. Biện pháp thi công 62
3.4.1 Thiết bị thi công đóng cừ BTCT dự ứng lực. 62
3.4.2 Trình tự thi công đóng cừ BTCT dự ứng lực. 65
KẾT LUẬN 70
KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.21: Thi công đóng cừ BTCT dự ứng lực 66
Hình 3.22: Thao tác lắp đặt tai móc cẩu cừ để thi công 66
Hình 3.23: Thao tác lắp đặt ống nối mềm và miệng phun cừ để thi công cừ 67
Hình 3.24: Thao tác định vị thi công đóng cừ bản BTCT dự ứng lực 68
Hình 3.25: Thao tác thi công đóng cừ bản BTCT dự ứng lực dưới nước 68
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Diện tích theo cao độ của vùng ĐB sông Hồng – sông Thái Bình 4
Bảng 1-2: Lượng mưa ngày lớn nhất thực đo trên hệ thống sông Hồng Thái Bình 8
Bảng 1-3: Hiện trạng các công trình gia cố bờ dọc tuyến hữu hồng – ngành Thủy lợi17
Bảng 1-4: Hiện trạng các công trình gia cố bờ dọc tuyến tả Hồng - ngành Thuỷ lợi20
Bảng 2-1: Các chỉ tiêu cơ lý lớp 2a 25
Bảng 2-2: Các chỉ tiêu cơ lý lớp 2b 26
Bảng 2-3: Các chỉ tiêu cơ lý lơp 2c 27
Bảng 2-4: Các chỉ tiêu cơ lý lớp 3a 29
Bảng 2-5: Các chỉ tiêu cơ lý lớp 3b 30
Bảng 2-6: Các chỉ tiêu cơ lý lớp 4 31
Bảng 2-7: Trạm thủy văn 32
Bảng 2-8: Lượng phù sa tại trạm Sơn Tây và Hà Nội 39
Bảng 3-1: Các thông số cọc ván BTCT DƯL như sau: 57
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTCT: Bê tông cốt thép;
BTCTDƯL: Bê tông cốt thép dự ứng lực;
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
ĐBBB: Đồng bằng Bắc Bộ;
ĐB: Đồng bằng;
ĐKT: Địa kỹ thuật;
điển như kè lát mái, kè mỏ hàn bằng đá hộc, đá xây, tấm bê tông đơn giản.
Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,
nhiều nghiên cứu mới ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong
các ngành vật liệu, kết cấu xây dựng đê tăng cường hiệu quả bảo vệ bờ sông đã
được tiến hành, thử nghiệm và đưa vào sử dụng rộng rãi, thay thế, bổ sung cho các
giải pháp truyền thống. Một số ít trong đó đã được ứng dụng thử nghiệm ở Việt
Nam. Vì vậy việc nghiên cứu cập nhật, ứng dụng các công nghệ mới trong công
trình bảo vệ bờ sông chống lũ vào điều kiện thực tế ở Việt Nam là một yêu cầu cấp
bách và có ý nghĩa thực tiễn cao. Đề tài " Nghiên cứu diễn biến lòng sông Hồng
đoạn bờ tả khu vực Bát Tràng thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp công trình
ứng dụng công nghệ mới bảo vệ cho các đoạn bờ sông nguy hiểm sát chân đê."
là đề tài hết sức thực tế và có ứng dụng thực tiễn cao.
2
Mục đích của đề tài
Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ cho các đoạn bờ sông nguy hiểm sát chân đê,
ứng dụng cho đoạn sông Hồng qua Hà Nội.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu và phân tích tổng quan diễn biến lòng sông Hồng đoạn qua Hà Nội.
Đánh giá hiện trạng xói lở bờ sông Hồng đoạn qua Hà Nội và các công trình bảo vệ
bờ hiện có. Đề xuất giải pháp công nghệ mới ứng dụng bảo vệ cho bờ sông nguy
hiển sát chân đê. Có sử dụng phần mềm Geo-Slope để tính toán ổn định cho công
trình.
Kết quả đạt được
Lựa chọn được giải pháp bảo vệ chân đê đoạn nguy hiểm, đảm bảo yêu cầu kinh
tế kỹ thuật.
Nội dung của luận văn:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẠT LỞ BỜ SÔNG HỒNG VÀ
CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG SẠT LỞ.
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG SẠT LỞ BỜ SÔNG HỒNG
giáp hệ thống sông Tả Giang, phía Nam giáp hệ thống sông Mã và phía Đông là
vịnh Bắc Bộ.
Ở lãnh thổ Việt Nam, hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình nằm trong phạm vi
tọa độ địa lý: 102
0
10
’
đến 107
0
10
’
độ kinh đông, 20
0
00
’
đến 23
0
26
’
độ vĩ bắc với
diện tích lưu vực 87880km
2
(chiếm 51,60% diện tích lưu vực toàn hệ thống). Các
sông suối trong hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình chảy qua 23 tỉnh, thành phố
ở Bắc Bộ.
1.1.2 Địa hình
Địa thế lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình nói chung dốc nghiêng từ Tây Bắc
xuống Đông Nam và từ Bắc xuống Nam. Địa hình của lưu vực có thể chia làm bốn
miền lớn: Miền Tây Bắc (65.000 km
2
5 6 23146 710372 91,0
6 7 25278 735650 94,3
7 8 12190 747840 95,8
8 9 12455 760295 97,4
Lớn hơn 9 19909 780204 100,0
1.1.3 Địa chất
Vùng núi cao trong hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình được cấu tạo bởi các
loại đá như granit, đá phiến, sa diệp thạch, phiến thạch, sa thạch, cát kết, cuội kết và
đá vôi.
Đồng bằng sông Hồng, từ góc độ địa chất là đơn vị kiến tạo, một trũng dạng
địa hào, một bồn tích tụ trầm tích Kainozoi. Phân bố đất đá có tuổi từ Proterozoi
đến hiện đại, bao gồm các thành tạo biến chất, mắc ma và trầm tích. Các thành tạo
biến chất thuộc loại hệ sông Hồng có tuổi Proterozoi (PR, sh), phân bố dưới dạng
núi sót ở đông nam thị xã Sơn Tây, ở huyện Bình Lục (Hà Nam), ở núi Gôi, huyện
Ý Yên (Nam Định). Các thành tạo biến chất phân bố ở huyện Chí Linh (Hải Dương)
với một diện tích nhỏ thuộc hệ tầng Tấn Mài có tuổi Ocdovie – silua (D-S tm).
Các thành tạo trầm tích lục nguyên – các bon nát phân bố với một diện tích
nhỏ thuộc hệ tầng Xuân Sơn có tuổi Silua – Devon (S
2
– D
1
xs).
5
Đất đá cát kết dạng quaczit thuộc hệ tầng Dưỡng Động, tuổi Devon sớm –
giữa (D
1-2
dđ), phân bố chủ yếu ở Tràng Kênh, Niệm Sơn, Dưỡng Động, thuộc Hải
Phòng.
nk). Tại Chí Linh (Hải Dương) có một diện
tích nhỏ phân bố ryolit, cát kết tuf xen đá phiến sét được giả định xếp vào hệ tầng
Sông Hiến có tuổi Trias giữa (T
2
sh).
Đá sạn kết, cát kết, hàng chục vỉ than, đá phân bố ở Chí Linh (Hải Dương)
thuộc hệ tầng Hòn Gai, có tuổi Triat muộn (T
3
hg). Trong khi đó đá cát kết dạng
quanzit, bột kết màu đỏ cũng phân bố với một diện tích nhỏ ở Chí Linh (Hải
Dương) lại thuộc hệ tầng Mẫu Sơn (T
3
ms).
Đá sét vôi, bột kết chứa các thấu kính đá vôi phân bố ở Ba Vì (Hà Tây) thuộc hệ
tầng Nậm Thẳm, tuổi Trias giữa - muộn (T
2-3
nt). Đá cát kết tủa, phun trào, sét vôi
phân bố ven rìa tây, tây nam vùng đồng bằng thuộc hệ tầng Mường Trại tuổi Trias
giữa – muộn.
6
Đá cát kết, bột kết, cuội kết phân bố thành một dải theo hướng tây bắc - đông
nam ở khu vực Trung Hà – Suối Hai (Hà Tây) thuộc hệ tầng Nà Dương có tuổi
Neogen (Nnd).
Các thành tạo mắc ma phân bố chủ yếu ở dãy núi Ba Vì (Hà Tây) thuộc phía hệ
tầng Ba Vì có tuổi Paleozoi muộn (d
1
bv).
Như vậy, đất đá có tuổi trước Đệ Tứ phân bố chủ yếu ven rìa Đồng bằng sông
Hồng. Các thành tạo trầm tích bở rời có tuổi Đệ tứ phủ khắp đồng bằng sông Hồng.
7
- Đất phù sa sông, suối và đất cát ven biển;
- Đất lầy thụt.
Lát cắt địa chất theo hướng Tây Nam – Đông Bắc và cột địa tầng tổng hợp trầm
tích đệ tứ.
1.1.4 Khí hậu
Khí hậu trong hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình phần lãnh thổ Việt Nam là
khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do tác động của địa hình nên các yếu tố khí hậu
biến đổi mạnh mẽ theo không gian và thời gian.
Nhiệt độ:
Số giờ nắng trung bình biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 giờ ở vùng núi cao
đến hơn 2000 giờ ở các thung lũng trong lưu vực sông Đà.
Nhiệt độ không khí trung bình năm cũng có xu thế giảm dần theo sự gia tăng độ
cao của địa hình. Nhiệt độ không khí trung bình năm giảm xuống dưới 150C ở vùng
núi cao và tăng lên tới 20 - 240C ở vùng trung du và đồng bằng.
Nhiệt độ không khí cũng biến đổi theo mùa. Trong thời kỳ gió mùa hạ, nhiệt độ
không khí trung bình tháng khoảng 15 - 20
0
C ở vùng núi, 20 - 30
0
C ở vùng trung du
và đồng bằng. Trong thời kỳ gió mùa đông, nhiệt độ không khí trung bình tháng
khoảng 10 - 15
0
C ở vùng trung du và đồng bằng.
Độ ẩm:
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm khoảng 80 - 85% và biến đổi
không lớn theo lưu vực. Tuy nhiên độ ẩm không khí lại biến động lớn theo mùa,
tương đối cao trong mùa mưa và thấp trong mùa khô.
1 Mường Tè Lai Châu 573,0 5/VIII/1964
2 Lai Châu Lai Châu 312,6 16/VI/1985
3 Yên Bái Yên Bái 349,0 20/V/1918
4 Bắc Quang Hà Giang 402,1 8/X/1972
5 Tuyên Quang Tuyên Quang 350,0 8/VII/1908
6 Thái Nguyên Thái Nguyên 544,4 25/VI/1959
7 Kỳ Phú Thái Nguyên 496,0 03/X/1978
8 Phú Hộ Vĩnh Phúc 701,2 24/VII/1980
9 Tam Đảo Vĩnh Phúc 700,0 4/X/1978
10 Việt Trì Phú Thọ 508,3 24/VII/1980
11 Sơn Động Bắc Giang 310,6 12/VIII/1962
12 Sơn Tây Hà Tây 508,0 14/VII/1971
13 Ba Vì Hà Tây 554,6 24/VII/1980
9
14 Hà Nội Hà Nội 568,6 VII/1902
15 Hà Đông Hà Tây 318,7 22/IX/1978
16 Hòa Bình Hòa Bình 340,6 21/IX/1975
17 Chi Nê Hòa Bình 393,7 16/IX/1980
18 Lạc Sơn Hòa Bình 379,5 9/XI/1984
19 Hưng Yên Hưng Yên 377,9 27/X/1974
20 Phủ Liễn Hải Phòng 490,5 1927
21 Thái Bình Thái Bình 508,0 9/IX/2003
22 Phủ Lý Hà Nam 333,1 22/IX/1978
23 Văn Lý Nam Định 324,0 10/IX/2003
24 Nam Định Nam Định 382,3 22/IX/1978
25 Ninh Bình Ninh Bình 450,9 22/IX/1978
1.2. Tình hình sạt lở bờ sông Hồng
1.2.1. Thực trạng sạt lở bờ sông miền Bắc nước ta
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng mưa dồi dào cùng với
các hoạt động kinh tế ven sông, ven biển ngày càng phát triển về số lượng và quy
mô không những làm thay đổi chế độ dòng chảy dòng chảy tự nhiên của sông mà
còn làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển và thiệt hại do sạt lở bờ sông, bờ
biển ngày càng lớn.
Trên hệ thống sông Mã, sông Cả sạt lở cũng diễn ra rất phức tạp. Đê sông Chu,
sông Mã có chiều cao rất lớn, nhiều khu vực cao đến 12m và đê sát sông nên nguy
cơ hư hỏng rất cao khi xảy ra sạt lở. Các khu vực xung yếu như Lộc Bồi - Đức
Giáo, Vĩnh Thành, khu vực Hàm Rồng trên sông Mã; khu vực Thọ Minh, Thiệu
Toán trên sông Chu; khu vực Hồng Long, Đức Quang trên sông Lam,
Sạt lở bờ sông không chỉ diễn ra trong mùa lũ mà còn diễn ra ngay cả trong mùa
kiệt như sạt lở bờ sông khu vực xã Phong Vân, tỉnh Hà Tây đã phải xử lý khẩn cấp
đầu năm 2004 để chống vỡ đê ngay trong mùa nước cạn và hiện tại đê tả sông Mã
khu vực xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá; đê hữu sông Lô khu vực
xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đang sạt mái đê phía sông nếu không
xử lý kịp thời sẽ gây vỡ đê.
Tốc độ sạt lở trung bình khoảng 5 ÷ 10 mét/năm, nhưng có nơi tới hàng trăm
mét/năm như ở khu vực Thuỵ Vân, Tân Đức, Minh Nông,
Theo số liệu thống kê của các địa phương, đến nay trên các sông Bắc Bộ có 165
điểm sạt lở lớn với chiều dài 252 km, trong đó:
11
- Trên hệ thống sông Hồng hiện có 80 điểm sạt lở với chiều dài 100 km.
- Trên hệ thống sông Thái Bình có 27 điểm sạt lở với chiều dài trên 45km.
- Hệ thống sông Mã - sông Cả có 20 điểm sạt lở với chiều dài 37km.
- Các sông suối miền núi có 23 điểm sạt lở lớn với chiều dài khoảng 30km.
- Dọc bờ biển Bắc Bộ hiện có 15 điểm sạt lở lớn với chiều dài trên 40km.
1.2.2 Thực trạng sạt lở bờ sông Hồng
Hệ thống sông Hồng – Thái Bình thoát lũ ra Biển Đông bởi 34 tuyến sông với 9
cửa sông, chiều dài hơn 2000km. Lòng dẫn thoát lũ trong những năm gần đây đã có
những biến động mạnh: xói sâu, lở bờ, bồi lắng cửa sông, thu hẹp dòng chảy do
1.3. Nguyên nhân gây sạt lở bờ sông
Xói, bồi, sạt lở bờ sông, tiến, thoái của bờ biển là hiện tượng tự nhiên, tuy nhiên
do sự tác động của con người nên tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển càng trở nên
phức tạp và là một vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự. Như vậy, sạt lở bờ sông, bờ
biển do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, có thể tóm tắt như sau:
1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Sạt lở, bồi lắng là hiện tượng tự nhiên, thường xuyên và có thể có tính chu kỳ,
xảy ra do tác động của các yếu tố tự nhiên như dòng chảy trong sông, sóng, dòng
chảy ngầm, lên bờ sông. Sạt lở bờ sông thường do các yếu tố tự nhiên sau:
- Do quy luật vận động tự nhiên của lòng dẫn: Sạt lở, bồi lắng thường xảy ra ở
những đoạn sông cong, các cửa phân lưu, nhập lưu, các cửa sông phân lạch, nơi
giao thoa giữa dòng chảy trong sông và dòng triều, là những nơi dòng chảy không
ổn định. Phía bờ lõm do dòng chảy chủ lưu áp sát bờ, khi vận tốc dòng chảy lớn hơn
vận tốc khởi động của đất cấu tạo bờ sông sẽ gây sạt lở, phạm vi sạt lở thường phát
triển từ thượng lưu về hạ lưu. Ngoài ra, sạt lở cũng có thể xuất hiện dọc theo bờ của
một con sông trong trạng thái cân bằng động.
- Do sóng: Là nguyên nhân trực tiếp gây sạt lở bờ sông, đồng thời cũng là
nguyên nhân chính sinh ra dòng ven bờ vận chuyển bùn cát gây hạ thấp bãi biển.
- Do sự biến động của mực nước: Sự thay đổi mực nước trong sông khi lũ lên,
lũ xuống, ở vùng cửa sông, biển theo chế độ thuỷ triều. Biên độ và tần suất dao
động mực nước càng lớn, sạt lở diễn ra càng mạnh.
- Do dòng thấm: Thường xảy ra khi mực nước phía ngoài khối đất hạ thấp đột
ngột, vận tốc dòng chảy ngầm lớn lôi kéo các hạt đất, cát ở chân các khối đất cấu
tạo bờ sông, bờ biển tạo thành hàm ếch gây mất cân bằng sinh ra ra sạt lở. Hiện nay,
tình hình thời tiết diễn biến bất thường theo chiều hướng ngày càng cực đoan, thiên
tai bão, lũ xảy ra trái quy luật, mùa khô mực nước kiệt xuống thấp hơn mức bình
thường, nên hiện tượng sạt lở bờ do xói ngầm ngày càng gia tăng.
- Do mất cân bằng bùn cát: Mất cân bằng bùn cát gây nên sự bồi, xói cho từng
khu vực.
thác trái phép, sai phép vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi làm thay đổi chế độ dòng
chảy, thay đổi hàm lượng bùn cát, đặc biệt có nơi việc khai thác cát trái phép ngay
tại khu vực chân kè bảo vệ bờ sông gây sạt lở. Điển hình như khai thác cát trái phép
gây sạt lở bờ hữu sông Thương tại khu vực kè Liên Chung (tỉnh Bắc Giang), sông
Đá Bạch khu vực kè Hợp Thành (tp Hải Phòng), trên sông Lô khu vực Hải Lựu
14
(Vĩnh Phúc), trên sông Cầu khu vực Sóc Sơn (Hà Nội), trên sông Tiền giữa hai tỉnh
An Giang và Đồng Tháp tại khu vực thị trấn Tân Châu,
- Do ảnh hưởng của các hoạt động giao thông thuỷ: Sóng do tàu thuyền, sự đào
bới lòng sông của chân vịt tàu, thuyền, neo đậu tàu thuyền không đúng nơi quy
định, xây dựng công trình không hợp lý, là một trong các nguyên nhân trực tiếp
làm gia tăng diễn biến sạt lở, đặc biệt là trên hệ thống sông đồng bằng Nam Bộ.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, giao thông thuỷ đang ngày càng
phát triển nhanh và mạnh cả về số lượng, tải trọng và tốc độ của tầu thuyền, nếu
không kịp thời có các biện pháp quản lý hữu hiệu, ảnh hưởng của giao thông thuỷ
tới diễn biến sạt lở bờ sông, bờ biển sẽ ngày càng nghiêm trọng, khó lường.
- Do việc xây dựng không hợp lý các công trình: Một số loại công trình như
giao thông, thủy lợi, an ninh quốc phòng cần xây dựng ven sông (được phép theo
Pháp lệnh đê điều), tuy nhiên nhiều công trình thiết kế, xây dựng chưa hợp lý như
đắp đường dẫn dài trên bãi sông (cầu Phù Đổng, đường dẫn phía Hưng Yên của bến
phà Yên Lệnh), bố trí trụ cầu không phù hợp làm thay đổi hướng dòng chảy (cầu
Trung Hà, cầu Thanh Trì), làm tăng nguy cơ gây sạt lở bờ.
1.3.3 Những nguyên nhân đặc thù riêng của hệ thống sông Hồng
- Mực nước hạ lưu sông Hồng chịu tác động trực tiếp của quá trình điều tiết hồ
Hoà Bình, mực nước thay đổi đột ngột không tuân theo qui luật tự nhiên, sự thay
đổi tỷ lệ lưu lượng của các nhánh sông tại khu vực nhập lưu, sự thay đổi hàm lượng
phù sa, sức tải bùn cát của lòng dẫn, tác động mạnh đến sạt lở.
- Sự phát triển của các đê bối: Các đê bối, các đường dẫn thường được xây dựng
phía bờ lồi là nơi bãi sông phát triển mạnh. Việc tôn cao các đê bối, đắp đường dẫn
16 Hình 1.1: các loại kè gia cố bờ điển hình trên sông vùng ĐBBB
17
Bảng 1-3: Hiện trạng các công trình gia cố bờ dọc tuyến hữu hồng – ngành Thủy lợi
TT Tên kè Vị trí K Sông Thời gian xây dựng Đánh giá hiện trạng
Lát
mái
Bắt
đầu
Các năm củng
cố
ổn
định
Sửa
chữa