BÁO CÁO THỰC TẬP-tìm hiểu công nghệ CNC - Pdf 27

Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 1 Lớp :Cơ-Điện tử
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thực tế cuộc sống hiện nay việc sản xuất ra của cải vật chất
được thay thế bởi máy móc là xu hướng tất yếu của xã hội nhằm giải phóng
sức lao động của con người.
Một hệ thống sản xuất tự động giúp sản phẩm có chất lượng cao, sản
phẩm đồng đều, cho phép thay đổi kiểu dáng sản xuất một cách linh hoạt
phù hợp v
ới nhu cầu của con người là điều tất yếu của cuộc sống, nhưng vẫn
đảm bảo về mặt kinh tế và thời gian chuyển đổi mẫu mã linh hoạt… là một
điều cấp thiết đối với nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
Với mục đích làm quen và tiếp cận với các thiết bị sản xuất tiên
tiến.Nhà trường đã tạ
o điều kiện cho chúng em đi thực tập ở bên trường Đại
Học Bách Khoa trong một thời gian để giúp chúng em hiểu hơn về công
nghệ CNC.
Tuy chỉ có 1 khoảng thời gian ngắn nhưng với sự chỉ dẫn tận tình của
các thầy bên khoa CNC của trường đại học Bách Khoa đã giúp cho chúng
em hiểu hơn về các máy CNC.
Chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tạo điều kiện cho
chúng em và đã nhi
ệt tình chỉ bảo cho chúng em,em xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội ngày 26 tháng 2 năm 2009 Báo Cáo Thực Tập :CNC

(Numerical Control) là các máy công cụ tự động dựa trên tập lệnh được mã
hoá bởi các con số, các chữ cái, các ký tự mà bộ xử lý trung tâm có thể hiểu
được. Những lệnh này được điều chế thành các xung áp hay dòng, theo đó
điều khiển các motor hoặc các cơ cấu chấp hành, tạo thành các thao tác của
máy. Những con số, chữ cái, ký tự trong tập lệnh dùng để biểu thị khoảng
cách, vị trí, chứ
c năng hay trạng thái để máy có thể hiểu và thao tác trên
phôi.

H1.1 – Máy chơi piano dùng bìa đục lỗ.
NC được sớm sử dụng trong cách mạng công nghiệp, vào năm 1725,
khi các máy dệt ở Anh sử dụng các tấm bìa đục lỗ để tạo các hoa văn trên
quần áo. Thậm chí sớm hơn nữa, những chiếc máy đánh chuông tự động
được sử dụng ở nhà thờ lớn châu Âu và một số nhà thờ ở Hoa Kỳ. Năm
1863, máy chơi piano đầu tiên ra đời (H1.1). Nó dùng các cuộn giấy đụ
c lỗ
sẵn, dựa vào các lỗ thủng đó để tự động điều khiển các phím ấn.
Nguyên lý của sản xuất hàng loạt, được phát triển bởi Eli Whitney, đã
chuyển đổi nhiều công đoạn và chức năng thông thường phải dựa trên kĩ
năng của thợ thủ công nay được làm trên máy. Khi nhiều máy chính xác hơn
ra đời, hệ thống sản xuất hàng loạt nhanh chóng được nền công nghiệ
p chấp
nhận và đưa vào để sản xuất một số lượng lớn các chi tiết giống hệt nhau. Ở
nửa sau của thế kỉ 19, một lượng lớn các máy công cụ ra đời dùng trong hoạt
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 4 Lớp :Cơ-Điện tử
động gia công kim loại như máy cắt, máy khoan, máy cán, máy mài. Cùng
với nó, các công nghệ điều khiển bằng thuỷ lực, khí nén, bằng điện cũng
được phát triển, điều khiển chuyển động đòi hỏi sự chính xác trở nên dễ
dàng hơn.

m 1965, hệ thống thay dao tự động được đưa vào sử dụng, năm
1975 thì hệ thống CAD – CAM – CNC ra đời. Năm 1984 thì đồ họa máy
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 5 Lớp :Cơ-Điện tử
tính phát triển, được ứng dụng để mô phỏng quá trình gia công trên máy
công cụ điều khiển số.
Năm 1994, Hệ NURBS (Not uniforme rational B-Spline) giao diện
phần mề CAD cho phép mô phỏng được xác bề mặt nội suy phức tạp trên
màn hình, đồng thời nó cho phép tính toán và đưa ra các phương trình toán
học mô phỏng các bề mặt phức tạp, từ đó tính toán chính xác đường nội suy
với độ mịn, độ sắc nét cao.
Cho đến ngày nay, người ta còn ứng dụng công nghệ
nano vào hệ
thống điều khiển máy CNC. Năm 2001 hãng FANUC đã chế tạo hệ điều
khiển nano cho máy CNC, mở ra một trang mới về công nghệ chế tạo máy
công cụ.
II.Phân loại và công dụng
Với những chiếc máy công cụ trước đây, luôn phải có người đứng bên
máy để điều khiển các hoạt động của máy. Những loại này đã mất dần ưu
thế khi máy NC ra đờ
i, người điều khiển không còn phải điều khiển các
chuyển động của máy nữa. Ở các máy công cụ truyền thống, chỉ có 20%
thời gian hoạt động là để gia công vật liệu. Khi thêm phần điều khiển điện tử
thì thời gian gia công đã tăng lên 80%, thậm chí cao hơn. Đồng thời cũng
giảm bớt thời gian để dịch chuyển đầu cắt đến vị trí yêu c
ầu.
Trước đây, các máy công cụ được sản xuất sao cho càng đơn giản
càng tốt để giảm giá thành. Cũng bởi giá nhân công tăng lên, những chiếc
máy tốt hơn với bố điều khiển điện tử ra đời, khiến cho nên công nghiệp có
thể cho ra những sản phẩm tốt hơn với giá cả phải chăng hơn nhằm cạnh

SVTH:Vũ Thị Hồng 7 Lớp :Cơ-Điện tử

H1.3 – Máy phay đứng.
Trung tâm gia công tiện:
Trung tâm gia công tiện (Turning Center) ra đời vào giữa thập niên 60
sau khi nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng 40% các loại gia công kim loại là được
làm bằng phương pháp tiện. Chiếc máy NC này có khả năng làm việc với độ
chính xác cao hơn, hiệu suất cao hơn so với chiếc máy tiện thông thường.
Trung tâm gia công tiện cơ bản chỉ thao tác trên 2 trục:
a) Trục X điều khiển chuyển động ngang của mâm cặp.
b) Trục Z
điều khiển chuyển động dọc của mâm cặp.
Trung tâm cơ khí đa năng:
Cỗ máy này cũng ra đời cũng vào thập niên 60. Được tích hợp nhiều
tính năng tại cùng một địa điểm. Nhiều thao tác gia công khác nhau trên
mẫu vật có thể thực hiện chỉ với một lần cài đặt duy nhất. Nhờ vậy mà tốc
độ, năng suất máy tăng lên đáng kể so với những máy đ
iều khiển số thông
thường.
III.Những khái niệm cơ bản và phân loại hệ điều khiển
1.Khái niệm cơ bản
a.Khái niệm CNC
CNC (Computer Numerical Control) là một dạng máy NC điều khiển
tự động có sự trợ giúp của máy tính, mà trong đó các bộ phận tự động được
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 8 Lớp :Cơ-Điện tử
lập trình để hoạt động theo các sự kiện nối tiếp nhau với một tốc độ được
xác định trước để có thể tạo ra được mẫu vật với hình dạng và kích thước
yêu cầu.
b.Trục máy CNC

trục đặc biệt nào đó.
2.Hệ điều khiển của máy CNC
Về mặt tổng quát, các máy CNC trong công nghiệp đều được điều
khiển theo một nguyên tắc nhất định. Dữ liệu điều khiển được đọc vào từ
các vật mang tin (băng từ
, đĩa từ, băng đục lỗ…) hoặc từ chương trình có
sẵn trên máy hoặc do chính người sử dụng nhập vào từ giao tiếp bàn phím.
Các dữ liệu này được giải mã và hệ thống điều khiển xuất ra các tập lệnh để
điều khiển các cơ cấu chấp hành thực hiện các lệnh theo yêu cầu của người
sử dụng. Trong khi các cơ cấu chấp hành thực hiện các lệ
nh đó, kết quả về
việc tực hiện được mã hóa ngược lại và phản hồi về hệ điều khiển máy, các
kết quả này được so sánh với các tập lệnh được gửi đi. Sau đó hệ thống điều
khiển có nhiệm vụ bù lại các sai lệch và tiếp tục gửi đến các cơ cấu chấp
hành cho đến khi thông tin về kết quả thực hi
ện phản hồi trở lại “khớp” với
thông tin được gửi đi.
Như vậy, ta có thể nói hệ điều khiển máy CNC trong công nghiệp là
một hệ điều khiển kín (dữ liệu lưu thông theo một vòng kín).

Để tiện cho việc trình bày, hệ thống điều khiển máy CNC có thể được
chia ra là hai phần: phần cứng và phần mềm.

Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 10 Lớp :Cơ-Điện tử
H1.6 - Truyền dữ liệu trong vòng kín.
a
. Phần cứng hệ điều khiển máy CNC
* Bộ xử lý trung tâm (CPU)
Bộ xử lý trung tâm (CPU) là một máy tính nhỏ hoặc là thành phần

chương trình, dữ liệu. Chúng có dung lượng có thể mở rộng từ 16 đến 500
Kbytes.
Nếu cần những chức năng chuyên dụng thì thường có những card
riêng được cắm vào các khe mở rộng của bộ điều khiển và được liên kết
bằng bus.
* Hệ thống truyền dẫn( BUS)
Hệ thống CNC đòi hỏi sự liên hệ giữ
a CPU và các bộ phận khác trong
hệ thống. Thiết bị truyền dẫn của CNC chính là BUS. Có thể hiểu BUS là hệ
thống các đường giao thông làm nhiệm vụ truyền dẫn thông tin từ CPU đến
các bộ phận khác và ngược lại.
Dưới đây là sơ đồ khối thể hiện vị trí vai trò của BUS trong hệ thống
điều khiển CNC (hình 1.8)
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 12 Lớp :Cơ-Điện tử

Hình 1.8: Hệ thống liên lạc BUS
* Truyền dẫn Servo

Hình 1.9 : Điều khiển ServoHệ điều khiển máy công cụ, cần thiết biến đổi xung điều khiển được
tạo ra từ cụm điều khiển thành các tính hiệu cho động cơ các trục. Nhiệm vụ
này được thực hiện nhờ hai mạch: Mạch điều khiển servo và mạch phản hồi
(hình 1.9).
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 13 Lớp :Cơ-Điện tử
Trên đây là các phần cứng chủ yếu của máy CNC, ngoài ra còn có các
phần cứng cơ bản của một máy điều khiển số thông thường như: điều khiển

Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 14 Lớp :Cơ-Điện tử
* Phần mềm ứng dụng
Đây có thể coi là phần mềm để ta có thể giao tiếp được với máy CNC.
Nó bao gồm chương trình mã G (G code) và chương trình tham số.
IV.Cơ sở hình học cho gia công CNC
Cơ sở hình học cho gia công CNC bao gồm các hệ toạ độ đêcac, hệ toạ độ
cực ,các điểm chuẩn :0 của máy ,0 của phôi ,các dạng điều khiển CNC: điều
khiển điểm, điề
u khiển đoạn thẳng, điều khiển Công tua, đặc điểm của vận
hành DNC (Direct Numerical Control),Sự hiệu chỉnh (bù) chiều dài và bù
bán kính dụng cụ cắt khi tiện, khi phay, Hệ thống đo hành trình và phương
pháp đo hành trình cắt khi gia công: đo hành trình trực tiêp / gián tiếp, đo
hành trình tuyệt đối/gia số.
1.Nguyên tắc xác định hệ trục toạ độ của máy CNC
Để xác định các trục toạ độ ta dựa trên quy tắc bàn tay phả
i, bao gồm
ngón giữa, ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải (H1.4). Ngón cái xác định
hướng của trục X, ngón trỏ chỉ trục Y, và ngón giữa chỉ trục Z.

H1.4 – Quy tắc bàn tay phải.
Trục quay được xác định theo các trục thẳng mà dao cắt quay trên đó.
A là trục quay trên trục X, B là trục quay trên trục Y, C là trục quay trên trục
Z (H1.5). Khi nhìn theo chiều (+) của các trục chính thì chiều kim đồng hồ
là chiều (+) của các trục quay.
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 15 Lớp :Cơ-Điện tử

H1.5 – Ba trục quay A,B,C.
Xác định các trục toạ độ của máy NC thông qua nguyên tắc này, đầu

ủa điểm chuẩn này được tính
toán chính xác từ trước bởi một cữ chặn lắp trên bàn trượt và các công tắc
giới hạn hành trình. Do độ chính xác vị trí của các máy CNC là rất cao
(thường với hệ thống đo là hệ Met thì giá trị của nó là 0,001mm và hệ Inch
là 0,0001 inch). Khi dịch chuyển về điểm chuẩn của các trục, lúc đầu tốc độ
chạy nhanh, sau khi đến gần vị trí chuẩn thì tốc độ chậm l
ại để có thể định vị
một cách chính xác.
b. Điểm gốc của phôi W, điểm gốc chương trình P và điểm gá đặt C
Khi bắt đầu gia công, cần phải tiến hành xác định tọa độ điểm gốc của
chi tiết hay gốc của chương trình so với điểm M để xác định và hiệu chỉnh
hệ thống đo lường dịch chuyển.

Hình 1.26 : Ví dụ về điểm W và điểm P trên máy tiện
Điểm gốc của phôi W: Còn gọi là điểm zero của phôi (Workpiece
zero point), ký hiệu là W xác định hệ tọa độ của phôi trong quan hệ với
điểm zero của máy (M). Điểm W của phôi được chọn bởi người lập trình và
được đưa vào hệ điều khiển của CNC trong quá trình đặt số liệu máy trước
khi gia công.
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 17 Lớp :Cơ-Điện tử
Điểm W của phôi được chọn tùy ý bởi người lập trình trong phạm vi
không gian làm việc của máy và của chi tiết. Tuy vậy, nên chọn W nên chọn
là một điểm nằm trên phôi để thuận tiện khi xác định các thông số giữa W
và M. Giả sử với chi tiết tiện, người ta chọn điểm W đặt dọc theo trục quay
(tâm trục chính máy tiện) và có thể chọn đầu mút trái hay đầu mút phải của
phôi. Đối với chi ti
ết phay nên lấy một điểm nằm ở góc làm điểm W của
phôi, góc đó thường là ở bên trái, trên mặt phôi và ở phía ngoài.
Điểm gốc chương trình P:

Các điểm gốc của dao (điểm gá đặt dao)
Các dao được sử dụng thông thường có hai lo
ại cán dao (Tool holder)
là loại chuôi trụ và loại chuôi côn theo tiêu chuẩn.
Đối với chuôi dao có điểm đặt dụng cụ E, trên lỗ gá dao có điểm gá
dụng cụ N. Khi chuôi dao lắp vào lỗ dao thì hai điểm N và E trùng nhau.
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 19 Lớp :Cơ-Điện tử
Hình1.29 : Các điểm gốc của dụng cụ
Trên cơ sở điểm chuẩn này người ta có thể xác định các kích thước để
đưa vào bộ nhớ lượng bù dao. Các kích thước này có thể bao gồm chiều dài
của dao tiện theo phương X và Z (điểm mũi dao) hay chiều dài của dao phay
và bán kính của nó. Các kích thước này có thể được xác định từ trước bằng
cách đo trên các thiết bị đo chuyên dùng hay xác định ngay trên máy rồi đưa
vào hệ
điều khiển của máy CNC để thực hiện việc bù dao.
Điểm thay dao
Trong quá trình gia công thường phải sử dụng một số loại dao và số
lượng dao khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của bề mặt gia công, vì thế phải
thực hiện việc thay dao. Trên các máy CNC có cơ cấu thay dao tự động, khi
thay dao yêu cầu không được để chạm vào phôi hoặc máy. Vì vậy cần phải
có điểm thay dao. Đối với máy phay hoặc các trung tâm gia công thì thường
bàn máy ph
ải chạy về điểm chuẩn, còn với máy tiện, thường các dao nằm
trên đầu Rơ vôn ve nên không cần phải chạy đến điểm chuẩn để thay dao mà
có thể đến một vị trí nào đó đảm bảo an toàn để quay đầu Rơ vôn ve là có
thể thay dao nhằm giảm thời gian phụ.
3.Các dạng điều khiển CNC
Điều khiển điểm - điểm
Với các lo

SVTH:Vũ Thị Hồng 22 Lớp :Cơ-Điện tử
dụng cụ cắt chuyển động song song với trục Y hoặc trục X (hình vẽ). dụng
cụ cắt chuyển động độc lập theo từng trục.
Điều khiển theo biên dạng (contour)

Hình 1.32 : Điều khiển contour trên máy tiện (a) và máy phay (b).
Điều khiển theo biên dạng cho phép thực hiện chạy dao trên nhiều
trục cùng lúc. Các chuyển động theo các trục có sự quan hệ hàm số ràng
buộc với nhau. Dạng điều khiển này được áp dụng trên máy tiện, máy phay
và các trung tâm gia công.
Có 3 dạng điều khiển : điều khiển contour 2D, 2
1
/
2
D và điều khiển 3D
(D là chiều).

Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 23 Lớp :Cơ-Điện tử
- Điều khiển contour 2D: Cho phép thực hiện chạy dao theo 2 trục
đồng thời trong 1 mặt phẳng gia công (ví dụ mặt phẳng XZ, XY). Trục thứ 3
được điều khiển hoàn toàn độc lập với các trục kia.

Hình 1.33 : Điều khiển contour 3D
- Điều khiển contour 2
1
/
2
D: điều khiển contour 2
1

+ Tự động thay dao
+ Tự động điều chỉnh quá trình cắt gọt.
+ Tự động bôi trơn vùng cắt gọt và hệ thống máy
+ Tự động bảo vệ an toàn khi máy làm việc
Báo Cáo Thực Tập :CNC
SVTH:Vũ Thị Hồng 25 Lớp :Cơ-Điện tử
+ Tự động hiển thị vị trí gia công, toạ độ gia công (x, y, z)
+ Tự động báo lỗi
- Tốc độ cắt rất lớn ( Từ 1000 – trên 8000 vg/ph)
+ Độ chính xác kích thước gia công đạt tới 0,001mm
+ Năng suất gia công gấp 3 lần so với máy thông thường.
+ Tính linh hoạt cao, thích nghi với nhiều loại sản xuất.
CÁC BỘ PHẬN CHÍNH TRÊN MÁY CNC.
+ Ụ tĩnh hay hộp tốc độ trục chính
+Ổ tích dao
+Gía đỡ ổ tích dao
+Bảng đi
ều khiển
+Cửa đóng mở khu vực gia công
+Ụ động
+Mâm cặp
1.Ụ tĩnh (Hộp tốc độ trục chính): Tạo ra các tốc độ cắt gọt khác nhau
- Kết cấu: Gồm trục chính, đầu trục chính lắp với mâm cặp được dẫn
động bởi động cơ Secvo.
- Được điều chỉnh và thay đổi tốc độ, chiều quay tuỳ theo yêu cầu,
phía sau trục chính là hệ
thống truyền động thuỷ lực để đóng mở hoặc kẹp
chi tiết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status