ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
A: Nhóm câu hỏi 4 điểm
CÂu 1: Phân biệt hoạt động quản lý, quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước.
• Quản Lý
Quán lý được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
+ Quản lý là quá trình dẫn dắt của chủ thể quán lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu
trong quản lý.
+ Quản lý là quá trình tác động có chú đích, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu trong quản lý.
+ Quản lý được hiểu là quá trình vận động của thông tin.
+ Quản lý thực chất là việc giải quyết tốt mối quann hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản
lý trong việc thực hiện mục tiêu quản lý.
• Quản lý nhà nước:
+ Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp
luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
+ Pháp luật là phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý
+ Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
• Quản lý hành chính nhà nước
+ Là hoạt động thực thi quyền hành pháp của cơ quan trong hệ thống hành chính từ Trung ương
đến cơ sở, nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá
trình xã hội của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu của
nhân loại.
Câu 2: Bằng lý luận và thực tiễn, hãy làm rõ các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà
nước ở Việt Nam hiện nay.
Như chúng ta đã biết, bản chất của nên hành chính nhà nước là quản lý mọi mặt đời sống quốc
gia ( công vụ quốc gia) hay còn gọi là chính sự của bộ máy hành pháp.
Khái niệm Quản lý hành chính nhà nước Là hoạt động thực thi quyền hành pháp của cơ quan
trong hệ thống hành chính từ Trung ương đến cơ sở, nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh
bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội,
duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu của nhân loại.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, các đạo luật, các
đối với cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật qui định, về mặt vật
chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó phải thực hiện hoặc không được thực
hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá
nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của các cá nhân. Như việc ban hành các quyết định, những
qui định làm cơ sở cho việc ban hành những quyết định cưỡng chế và áp dụng những biện pháp
có tính chất bắt buộc đó
Ở nước ta, xuất phát từ tính nhân dân của nhà nước ta, từ vấn đề cốt lõi của việc nâng cao hiệu
quả quản lí nhà nước, từ yếu tố truyền thống lịch sử dân tộc mà biện pháp thuyết phục được lấy
làm biện pháp chủ yếu được áp dụng trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Nhưng sẽ là
sai lầm nếu cho rằng trong quản lí hành chính nhà nước chúng ta chỉ cần áp dụng các biện pháp
thuyết phục mà thôi. Bởi lẽ trong xã hội, do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn còn tồn tại nhiều
vi phạm pháp luật trong một bộ phận công dân, những nhân viên nhà nước…Hơn nữa cần phải
tính đến những hoạt động phá hoại, thù địch của thế lực phản động đang tìm mọi cách phá hoại
trật tự quản lí nhà nước, xâm hại an ninh quốc gia.Vì vậy, phương pháp thuyết phục và phương
pháp cưỡng chế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có nghĩa là trong quản lí hành chính nhà nước
ở nước ta cần thiết phải có sự kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế. Trong sự kết hợp này cần
phải tuân theo tư tưởng chỉ đạo trước hết phải thuyết phục và luôn luôn lấy thuyết phục làm
chính, còn biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng khi thuyết phục không có hiệu quả
Để chứng minh cho sự cần thiết của việc kết hợp giữa hai phương pháp thuyết phục và
cưỡng chế trong quản lí hành chính nhà nước, chúng ta xem xét mối liên hệ giữa hai
phương pháp này trên các nội dung sau:
Thứ nhất: Để đạt được mục đích cuối cùng là bảo đảm thực hiện những nhiệm vụ quản lí thì
phải sử dụng các phương pháp quản lí tương ứng. Những nhiệm vụ quản lí được thực hiện bằng
cách ban hành những quyết định ở các cấp khác nhau. Những quyết định này được thực hiện
hoặc trên cơ sở khuyến khích hoặc trên cơ sở những chỉ thị có tính chất bắt buộc.
Thứ hai: Để thi hành quyết định quản lí nào đó có thể sử dụng những phương tiện cưỡng chế
nhưng trên thực tế, không phải lúc nào người ta cũng sử dụng những phương tiện cưỡng chế để
thi hành một quyết định hành chính tương ứng nào đó. Việc sử dụng phương tiện cưỡng chế
không có ý nghĩa khi có khả năng đảm bảo thực hiện quyết định thông qua thuyết phục. Do đó,
không thể chỉ áp dụng riêng mỗi biện pháp cưỡng chế trong việc thi hành một quyết định quản lí
xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí
thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam
được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức : Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Viên chức: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại
đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Khái niệm
Cán bộ Công chức Viên chức
Tiêu chí cơ
bản
1. Tính chất
- Vận hành quyền lực nhà
nước, làm nhiệm vụ quản
lý; nhân danh quyền lực
chính trị, quyền lực công.
chính của công chức
- Xét tuyển, ký hợp đồng
làm việc.
- Trách nhiệm trước cơ
quan, người đứng đầu
tổ chức, cơ quan xét
tuyển, ký hợp đồng.
3. Chế độ
lương
Hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, theo vị trí,
chức danh.
Hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, theo
ngạch bậc.
Lương hưởng một phần
từ ngân sách, còn lại là
nguồn thu sự nghiệp.
4. Nơi làm
việc
Cơ quan của Đảng cộng
sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội.
Cơ quan Đảng, nhà
nước, tổ chức CT-XH,
Quân đội, Công an,
Toà án, Viện kiểm sát.
Đơn vị sự nghiệp nhà
nước, các tổ chức xã
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Hạ bậc lương;
- Giáng chức;
- Cách chức;
- Buộc thôi việc.
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Cách chức;
- Buộc thôi việc.
Câu 5: Hãy trình bày chế định hưu trí, thôi việc và xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và viên
chức theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam hiện nay.
• Đối vối cán bộ, công chức:
Thôi việc
1. cán bộ, Công chức được hưởng chế độ thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Do sắp xếp tổ chức;
b) Theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý;
c) Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật này.
2. Cán bộ, Công chức xin thôi việc theo nguyện vọng thì phải làm đơn gửi cơ quan, tổ chức, đơn
vị có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, cơ quan, tổ
chức, đơn vị có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản, nếu không đồng ý cho thôi việc thì phải
nêu rõ lý do; trường hợp chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà tự ý bỏ
việc thì không được hưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo
quy định của pháp luật.
3. Không giải quyết thôi việc đối với cán bộ, công chức đang trong thời gian xem xét kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Không giải quyết thôi việc đối với cán bộ, công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới
36 tháng tuổi, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng.
Nghỉ hưu
1. Công chức được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động.
4. Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý
kỷ luật đối với công chức.
* Đối với viên chức:
Chế độ thôi việc
1. Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc
làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về
bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Bị buộc thôi việc;
b) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều
29 của Luật này;
c) Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật này.
Chế độ hưu trí
1. Viên chức được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về
bảo hiểm xã hội.
2. Trước 06 tháng, tính đến ngày viên chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý viên chức
phải thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày viên chức
nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý viên chức ra quyết định nghỉ hưu.
3. Đơn vị sự nghiệp công lập có thể ký hợp đồng vụ, việc với người hưởng chế độ hưu trí nếu
đơn vị có nhu cầu và người hưởng chế độ hưu trí có nguyện vọng; trong thời gian hợp đồng,
ngoài khoản thù lao theo hợp đồng, người đó được hưởng một số chế độ, chính sách cụ thể về cơ
chế quản lý bảo đảm điều kiện cho hoạt động chuyên môn do Chính phủ quy định.
Các hình thức kỷ luật đối với viên chức
1. Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm
vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Cách chức;
d) Buộc thôi việc.
2. Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này còn có thể bị
- xuất phát từ lý do và yêu cầu xác thực, đúng đắn và cần thiết của nền công vụ, không
xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể ra quyết định.
- phải ban hành đúng thể thức và nội dung quy định, tức là phải phù hợp với quy định của
pháp luật cả về hình thức pháp lý và hình thức thể hiện. Những sai sót về hình thức cũng
làm cho quyết định không hợp pháp, nhưng nhìn chung có thể sửa chữa được vì sai sót
này thường do nguyên nhân kỹ thuật.
Yêu cầu hợp lý.
- Phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, công dân, không được tách rời giữa lợi ích
của nhà nước và nguyện vọng của công dân. Đây là yêu cầu pháp chế đặc biệt bởi vì có
thể có nhiều quyết định quản lý hành chính nhà nước mâu thuẫn với lợi ích của Nhà
nước, công dân nhưng không phải là phạm luật bởi lý do pháp luật không thể dự liệu
được toàn bộ các vấn đề nảy sinh trong xã hội.
- Phải cụ thể, phù hợp với từng điều kiện, từng vấn đề và tính cần thiết.
- Phải đảm bảo tính thống nhất toàn diện ( chính trị- kinh tế- văn hóa- xã hội; trước mắt.
lâu dài. Điều kiện khả năng, phương tiện thực hiện…) Quyết định quản lý hành chính nhà
nước ngoài việc giải quyết các nhiệm vụ hiện tại còn phải có tính dự báo cho tương lai.
- Đảm bảo về văn phong và ngôn ngữ trongn sáng, rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, ngôn ngữ sử
dụng trong văn phong pháp luật phải chính xác, không đa nghĩa.
Kết luận :Quyết định quản lý hành chính nhà nước muốn đem lại hiệu quả cao thì phải đáp ứng
những yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý. Nếu chỉ đảm bảo được tính hợp pháp mà không hợp lý
thì quyết định đó khó thực hiện được hoặc không thực hiện được. Ngược lại, nếu đảm bảo tính
hợp lý mà không đảm bảo được tính hợp pháp thì quyết định quản lý hành chính nhà nước đó sẽ
bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ theo quy định của pháp luật.
Câu7: Hãy trình bày các loại và các giai đoạn của thủ tục hành chính? Cho ví dụ minh họa.
Khái niệm thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính
nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công
việc của Nhà nước, các kiến nghị yêu cầu chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi
hành nghĩa vụ hành chính, đảm bảo công cụ nhà nước và phục vụ nhân dân.
Dựa trên quan hệ công tác, thủ tục hành chính được chia làm 3 loại sau :
mang tính chất thủ tục diễn ra theo trình tự thời gian, vì vậy có thể chia chúng ra làm những giai
đoạn.
Thủ tục giải quyết các vụ việc hành chính cá biệt cụ thể có thể chia thành những giai đoạn chính
sau:
- Khởi sướng vụ việc giai đoạn bắt đầu thủ tục
- Giai đoạn trung tâm của thủ tục hành chính là xem xét và quyết định giải quyết vụ việc.
- Thi hành quyết định có thể là giai đoạn kết thúc thủ tục nếu nó tiến hành bình thường khi
mà các chủ thể tuân thủ nghiêm chỉnh yêu cầu của pháp luật, quyết định ra phù hợp và
không bị khiếu nại.
- Khiếu nại và xem xét lại quyết định đã ban hành là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng bảo
đảm pháp chế, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân trong giải quyết các vụ việc
theo thủ tục hành chish.
Lấy ví dụ về trình tự giải quyết thủ tục ly hôn.
B. Nhóm câu hỏi 6 điểm
Câu 8: Hãy làm rõ các hình thức quản lý hành chính nhà nước và liên hệ thực tiễn về việc
thực hiện các hình thức này.
Khái niệm hình thức quản lý hành chính nhà nước: là những biểu hiện ra bên ngoài mang tính
chất tổ chức- pháp lú cỉa những hoạt động cụ thể cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức
tác động do các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thực hiện đối với tổ chức, cá nhân
thuộc đối tượng quản lý.
−
HT QLHCNN đƯỢc phân loại thành :những hình thức pháo lý và những hình thức không
pháp lý.Các chủ thể QLHCNN kết hợp sử dụng cả những hình thức pháp lý lẫn không pháp lý
trong hoạt động của mình.
−
HT pháp lý HT ko pháp lý
1. KN
Là những hoạt động quản lý mà PL
quy định rõ trình tự,thủ tục,nội dung
Là những hoạt động QL mà PL chỉ
thể quản ý hành chính nhà nước nhằm hoàn thiện chắc năng, nhiệm vụ của mình.
+ Văn bản pháp luật được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực nhất định.
+ Ban hành các văn bản quy phạm PLHC, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước tiến
hành:
Ban hành những quy định có tính chất chung hoặc ngành hoặc liên ngành nhằm tác động
đến hành vi xử sự của các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội
cũng như công dân.
Quy định nhnxg nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia quann
hệ quản lý hành chính nhà nước.
Quy định những mối quan hệ chủ yếu giữa các bộ phậm của hệ thống cơ quan quản lý
hành chính nhà nước.
Quy định những hạn chế và những điểm ngăn cấm trong hoạt động quản lý nhà nước
Thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật và đăht ra những bảo đảm pháp lý cho trật tự quant
lý hành chính nhà nước.
- Ban hành VB ADQPPL: là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà
nước, áp dụng một hay nhiều quy phạm pháp luật vào giải quyết những vụ việc cụ thể.
Các vb áp dụng QPPL chia làm 2 nhóm :
+ Những VB chấp hành pháp luật
+ Những văn bản bảo vệ pháp luật
- AD những biện pháp tổ chức trực tiếp: Là một trong những hình thức pháp lý quan trọng
của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. tiến hành khi phát sinh những điều kiện
tương ứng được định trước trong quy phạm PL nhưng không cần ban hành vb áp dụng
QPPL. Bao gồm các hđ:
+ áp dụng nhiều hình thức nhằm ngăn chặn và phòng ngừa vppl
+ Đăng kí những sự kiện nhất định như khai sihh, khai tử
+ Lập và lấy 1 số giấy tờ nhất định
+ Công chứng
- Thực hiện những tác động về nghiệp vụ-kỹ thuật
- Thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý.
Câu 9: Bằng lý luận và thực tiễn hãy làm rõ các yếu tố cấu hành thể chế hành chính nhà
Thứ 2: Môi trường kinh tế - xã hội: các quy định điều tiết hoạt động của các đối tượng trong xã
hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò và mức độ điều tiết của Nhà
nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội diễn ra ở các nước khác nhau không giống nhau. Sự
thay đổi trong môi trường kinh tế - xã hội buộc hệ thống thể chế hành chính nhà nước phải thay
đổi theo, thích ứng với những thay đổi trong xã hội để có thể quản lý xã hội một cách hiệu quả
nhất.
Thứ 3: Lịch sự phát triển của quốc gia và truyền thống, văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc trải qua quá
trình hình thành và phát triển lâu dài đều có những đặc điểm truyền thống, văn hóa riêng, không
giống với các dân tộc khác. Do đặc tính này mà mọi quy định để điều tiết hành vi của các đối
tượng trong xã hội phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực chung được thừa nhận trong
truyền thống , văn hóa. Một hệ thống thể chế chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát huy
được những ưu điểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải loại bỏ đi những
nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư duy bảo thủ
Thứ tư : Các yếu tố quốc tế: Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn phát
triển không thể nằm ngoài mối liên hệ với các quốc gia khác. Sự giao thoa văn hóa, tri thức và
các giá trị chung của văn minh nhân loại cũng tác động không nhỏ tới sự hình thành và phát
triển của hệ thống thể chế hành chính nhà nước. Sự ràng buộc pháp lý đối với một quốc gia chấp
nhận khi tham gia các cấu trúc quốc tế có ảnh hưởng to lớn tới hệ thống thể chế của quốc gia đó.
Ví dụ, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có ảnh hưởng lớn tới hệ
thống các quy định về thuế nhập khẩu: chúng ta không thể tự mình quyết định tỷ lệ đánh thuế
như trước đây mà phải căn cứ vào các hiệp định đa phương được thừa nhận chung trongWTO và
những thỏa thuận chúng ta ký kết khi tham gia tổ chức này.
Ngoài ra, những nhân tố khác như hoàn cảnh địa lý của một quốc gia, những thay đổi kinh tế,
chính trị diễn ra trên thế giới ở những mức độ khác nhau cũng gây ảnh hưởng tới các đặc điểm
của thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
Câu 10: Bằng lý luận và thực tiễn, hãy làm rõ tổ chức và hoạt đông của các cơ quan hành
chính nhà nước ở trung ương Việt Nam hiện nay
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước: Là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực
thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong phạm vi quyền
hạn của mình, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước nhân danh quyền lực nhà
+ các vụ
+ Thanh tra
+ văn phòng
- Một số bộ đc tổ chức tổng cục, cục có chức năng quản lý chuyên ngành
+ Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ
- CÁc cơ quan nghiên cứu khoa học như các Viện nghiên cứu thuộc bộ
- Các cơ sở giáo dục đào tạo
- Các cơ sở chữa bệnh như các bệnh viện thuộc bộ.
Câu 11: Bằng lý luận và thực tiễn, hãy làm rõ tổ chức và hoạt đông của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương Việt Nam hiện nay
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước: Là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực
thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong phạm vi quyền
hạn của mình, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước nhân danh quyền lực nhà
nước.
• Cơ cấu tổ chức
Cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương là các Ủy ban Nhân dân. Tương ứng với mỗi cấp
địa phương có một cấp Ủy ban Nhân dân:
- Ủy ban Nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương.
- Ủy ban Nhân dân huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã.
- Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn.
Các cơ quan hành chính theo ngành tại địa phương bao gồm các cơ quan chuyên môn của Ủy
ban Nhân dân và cơ quan đại diện của các bộ tại địa phương:
- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: các sở, ban, cục.
- Tại huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: các phòng, chi cục.
- Tại các xã, phường, thị trấn: các đội.
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhan dân bầu ra gồm có chủ tịch, phó chủ tích và ủy viên.
• Hình thức hoạt động
- UBND họp ít nhất 1 lần / tháng
- Hiệu quả hoạt động của UBND được bảo đảm bằng hiệu quả của tập thể UBND, chủ tịch
UBND, các thành viên khác, cơ quan chuyên môn.
được dự kiến trước trong các quyết định quy phạm hoặc để thực hiện các quan hệ pháp
luật cụ thể đã phát sinh trên cơ sở quyết định cá biệt. Bản thân các hành động đó không
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
3. Quyết định QLHCNN với quyết định pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Hội đồng nhân dân
Phân biệt Luật, Nghị quyết của Quốc hội có tính quy phạm, Pháp lệnh của Ủy ban thường
vụ Quốc hội; Lệnh, Nghị quyết của hội đồng nhân dân với quyết định quản lý hành chính
nhà nước ở tính chất, phạm vi quan hệ xã hội được điều chỉnh trong các quyết định tương
ứng, ở cơ quan, trình tự ban hành và hình thức thể hiện.
4. Quyết định QLHC NN với bản án, Quyết định pháp luật của Tòa án
Bản án, quyết định pháp luật của Tòa án thường mang tính chất cá biệt cụ thể, là kết quả
của hoạt động xét xử vi phạm pháp luật hoặc liên quan trực tiếp tới hoạt động xét xử
nhằm áp dụng các chế tài của quy phạm PL trong QL nhà nước. Trong khi đó, quyết định
quản lý hành chính nhà nước chủ yếu để tổ chức hoạt động tiisch cực trong quản lý hành
chính nhà nước chứ không chỉ áp dụng các chế tài pháp lý và về tính chất pháp lý có thể
được thể hiện dưới dạng quyết định chủ đạp, quyết định quy phạm pháp luật và quyết
định cá biệt. Ngoài ra quyết định quản lý hành chính nhà nước có thể là căn cứ, chứng cứ
cho công tác xét xử của Tòa án, bằng quyết định pháp luật của tòa án có thể bãi bỏ quyết
định quản lý hành chính nhà nước.
5. Quyết định QLHCNN vối cáo trạng, Kháng nghị của viện kiểm soát.
Tương tự như phân biệt quyết định quản lý hành chính nhà nước với Bản án, quyết định
của tòa án ngoài ra sự khác biệt giữa quyết định quản lý hành chính nhà nước vối Cáo
trạng, Kháng nghị của Viện kiểm sát còn thể hiện Viện kiểm sát không có quyền sửa đổi,
bãi bỏ các quyết địunh quản lý hành chính nhà nước mà chỉ có quyền yêu cầu, kiến nghị,
kháng nghị với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm quyền đó.
Câu 13: Bằng lý luận và thực tiễn, hãy làm rõ đặc điểm của thủ tục hành chính và phân
biệt thủ tục hành chính với thủ tục tố tụng tư pháp.
Khái niệm thủ tục hành chính là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành
chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết
các công việc của nhà nước, các kiến nghị yêu cầu chính đáng của công dân hoặc tổ chức
- có quy phạm vật chất và quy phạm thủ tục hành chính phù hợp với nó
- Có sự kiện pháp lý làm cơ sở cho sự hiện diện của quan hệ vật chất hành chính.
- Tồn tại năng lực pháp lý thủ tục hành hcisnh của các chủ thể, riêng đối với công dân thì
phải có cả năng lực hành vi thủ tục hành chính.
Đặc điểm của quan hệ thủ tục hành chính:
- Quan hệ thủ tục hành chính hình thành tỏng quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành
chính nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành)
- Các chủ thể tham gia thủ tục hành hcisnh một bên phải là chủ thể bắt buộc đại diện cho
quyền lực nhàn ước thực hiện hoạt động thủ tục hành chính, có quyền ra quyết định đơn
phương trên cơ sở của phát luật trong quá trình thực hiện hoạt động đó.
- Quan hệ thủ tục hành chính hình thành trong quá trình giải quyết những vụ việc cá biệt cụ
thể xuất hiện theo sáng kiến của bất ỳ bên nào mà sự đồng ý của phía chủ thể kia không
phải là điều kiện bắt buộc.
Nội dung quan hệ thủ tục hành chình là tổng thể các quyền và nghĩa vụ qua lại quy định lẫn nhau
của các chủ thể thủ tục hành chính do quy phạm thủ tục hành chính xác định. Quy phạm thủ tục
hành chính còn quy định trình tự, cách thức thực hiện các hành động cụ thể để giải quyết công
việc. Quyền và nghĩa vụ về mặt thủ tục của các bên cũng như các hành động được tiến hành từng
bước theo trình tự thời gian do quy phạm thủ tục hành chính quy định và các quan hệ thủ tục
hành chính xuất hiện trên cơ sở thực hiện các quy phạm ấy đề nhằm mục đích là đảm bảo thực
hiện yêu cẩu của quy phạm vật chất.
Câu 15: từ thực tiễn cải cách hành hcisnh hiện nay, hãy chỉ rõ nội dung cải cách nền hành
chính ở nước ta?
Khái niệm cải cách hành chính là quá trình thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện thể chế
của nền hành chính; cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp và đội
ngũ công chức hành chính để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của nền
Cải cách thể chế, bao gồm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm
1992 được sửa đổi, bổ sung; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật; Tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi
mới, của phát triển kinh tế - xã hội; Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn
phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu
quả; xây dựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp; hoàn thiện cơ chế
phân cấp để đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng
ngành; tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ
quan hành chính nhà nước để bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của
cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020; cải cách và triển khai trên diện
rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, nâng cao chất
lượng dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức hài lòng của người dân trên 80%
vào năm 2020.
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bao gồm xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ, năng lực và phẩm
chất thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; xây dựng,
bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của
cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý; xây dựng cơ cấu cán
bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ của từng cơ quan, đơn vị; hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công
nhiệm vụ công chức, viên chức; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi
tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương
(ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống; Xây dựng và thực hiện
quy định pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm
vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi
phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức,
viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi
phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới nội dung và
chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng
theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch
công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng
bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm; tập trung
nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có
công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm
hiện đại, tập trung ở những nơi có điều kiện