MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng, Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam cũng đã không ngừng phát triển và ngày
càng khẳng định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Tuy nhiên,
do chịu ảnh hưởng sâu sắc của khủng hoảng kinh tế trong hai năm 2011 và
2012 nên hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
cũng gặp phải những khó khăn nhất định, kéo theo sự ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế. Do vậy, trong
thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của mình và để đáp ứng cho sự phát
triển chung của hệ thống Ngân hàng thì việc thực hiện các chiến lược nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các
Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nói riêng.
Việc phân tích các yếu tố môi trường vĩ mô, vi mô và các điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức của Ngân hàng Đầu tư và phát triển nhằm đưa ra những
phương hướng chiến lược đúng đắn, hợp lý góp phần phát triển và khẳng định
vị trí của Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, tiểu luận được chia làm 5 phần như sau:
Phần 1: Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Phần 2: Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong của Ngân
hàng BIDV
Phần 3: Phân tích SWOT về BIDV
Phần 4: Đề xuất các chiến lược dựa trên phân tích SWOT về BIDV
Phần 5: Lựa chọn chiến lược phù hợp nhất.
1. Giới thiệu chung về BIDV
Tên đầy đủ: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Joint Stock Commercial Bank for Investment and
Development of Vietnam
Tên gọi tắt: BIDV
Địa chỉ: Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: 04.2220.5544
Singapore), Liên doanh quản lý đầu tư BIDV - Việt Nam Partners (đối tác Mỹ)…
Công nghệ
- Luôn đổi mới và ứng dụng công nghệ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị
điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến.
- Liên tục từ năm 2007 đến nay, BIDV giữ vị trí hàng đầu Vietnam ICT
Index (chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng cộng nghệ thông tin) và nằm
trong TOP 10 CIO (lãnh đạo Công nghệ Thông tin) tiêu biểu của Khu vực Đông
Dương năm 2009 và Khu vực Đông Nam Á năm 2010.
Cam kết
- Với khách hàng: BIDV cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có
chất lượng cao, tiện ích nhất và chịu trách nhiệm cuối cùng về sản phẩm dịch vụ đã
cung cấp
- Với các đối tác chiến lược: Sẵn sàng “Chia sẻ cơ hội, hợp tác thành công”.
- Với Cán bộ Công nhân viên:Luôn coi con người là nhân tố quyết định mọi
thành công theo phương châm “mỗi cán bộ BIDV là một lợi thế trong cạnh
tranh” về cả năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức.
Khách hàng
- Doanh nghiệp: có nền khách hàng doanh nghiệp lớn nhất trong hệ thống
các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam bao gồm các tập đoàn, tổng công ty lớn; các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Định chế tài chính: BIDV là sự lựa chọn tin cậy của các định chế lớn như
World Bank, ADB, JBIC, NIB…
- Cá nhân: Hàng triệu lượt khách hàng cá nhân đã và đang sử dụng dịch vụ
của BIDV
Thương hiệu BIDV
- Là sự lựa chọn, tín nhiệm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và cá
nhân trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính ngân hàng.
- Được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến và ghi nhận như là một
trong những thương hiệu ngân hàng lớn nhất Việt Nam.
- Là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ công nhân viên và của ngành tài
2011). Nhập khẩu ước đạt 82,5 tỷ USD (tăng 5% so cùng kỳ năm 2011). Như vậy
nhập siêu khoảng 0,5 tỷ USD.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký trong 8 tháng đầu năm 2012 đạt 8,5 tỷ
USD, bằng 66,1% cùng kỳ năm 2011. Đầu tư trực tiếp thực hiện 8 tháng đầu năm
2012 đạt 7,28 tỷ USD, bằng 99,7% cùng kỳ năm 2011.
Như vậy, so với mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6 - 6,5% thì năm 2012 sẽ là
năm thứ hai liên tiếp Việt Nam không đạt kế hoạch như đã dự kiến.
b. Phân tích môi trường ngành tài chính hiện tại
Chính sách tiền tệ tại Việt Nam đã được Ngân hàng Nhà nước xác định là
chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, nhằm kiểm soát lạm phát góp phần tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững; tăng trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu đề ra, đi
đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, cụ thể:
Về điều hành lãi suất: Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chính sách lãi suất thả
nổi nhưng có kiểm soát thông qua các cơ chế về lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu, tái
chiết khuất, lãi suất cơ bản…
Nghiệp vụ chiết khấu và tái cấp vốn: hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương
mại bên cạnh nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại
Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và các ngân hàng liên doanh theo hạn
mức chiết khấu để đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng và can thiệp những trường hợp
khủng hoảng thanh toán mang tính hệ thống.
c. Phân tích môi trường ngành ngân hàng hiện nay
Môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng bắt đầu khởi động
từ những năm 2001, và thực sự trở nên sôi động từ những năm 2006 khi Việt Nam
gia nhập WTO. Có nhiều ngân hàng nước ngoài được thành lập tại Việt Nam như
HSBC, ANZ, Deutsche Bank Vietnam, Citibank , các ngân hàng liên doanh như
IVB, VRB, SVB Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần mới được thành lập và
nâng cấp như Techcombank, VIB, bắt đầu nâng cao năng lực cạnh tranh để thâm
nhập và mở rộng thị phần thông qua việc mở rộng mạng lưới, đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ, cạnh tranh giá.
Một số ngân hàng nước ngoài như HSBC, ANZ bắt đầu triển khai các sản
nghiêm minh, phát sinh nhiều chi phí do thủ tục tố tụng kéo dài. Ví dụ: Như việc
phát mãi tài sản thế chấp hiện nay, để có thể phát mãi một tài sản thế chấp đòi hỏi
khá nhiều thủ tục, thời gian, chi phí mà ngân hàng phải nhận chịu rủi ro rất nhiều.
Hoặc luật không giải thích một cách đầy đủ gây khó khăn trong việc thực
hiện tạo rủi ro cho ngân hàng. Chẳng hạn, với hợp đồng có tài sản thế chấp, khi
khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng chỉ có quyền nhận lấy tài sản thế chấp
để trừ nợ (gán nợ) hoặc phát mãi tài sản thế chấp để thu nợ, thiếu hay đủ ngân hàng
cũng phải chịu?
Ngoài Pháp lệnh ngân hàng và các văn bản liên quan, việc thực hiện và giải
quyết các hợp đồng tín dụng khi đáo hạn còn chịu sự chi phối của Bộ Luật dân sự,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (26.03.94), Pháp lệnh thi hành án
(17.04.93), Luật Phá sản Doanh nghiệp Do đó khi nợ đáo hạn, nếu con nợ mất khả
năng chi trả hoặc cố tình trốn tránh thanh toán nợ thì ngân hàng chỉ có con đường
hợp pháp duy nhất là khởi kiện trước tòa án có thẩm quyền. Vấn đề tố tụng trước
tòa án hiện nay thường kéo dài qua nhiều giai đoạn làm mất nhiều thời gian, dễ
dàng tạo điều kiện thuận lợi cho con nợ có ý đồ, đồng thời gây thiệt hại lớn cho
ngân hàng. Thời gian tố tụng kể từ khi khởi kiện cho đến khi có quyết định của tòa
án có hiệu lực thi hành rồi đến khi phát mãi được tài sản thu hồi được nợ thường
kéo dài gần một năm, chưa kể trường hợp tòa có quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án theo điều 38 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Tình trạng này
thường làm cho ngân hàng phải chịu đọng vốn trong lúc ngân hàng phải chịu lãi
suất cho người gửi. Đây là một thiệt hại lớn cho ngân hàng chưa kể các chi phí phát
sinh trong thủ tục tố tụng.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đặc biệt là chính sách lãi suất,
chính sách tín dụng đều có liên quan và ảnh hưởng mạnh đến hoạt động ngân hàng.
Khi ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất có thể dẫn đến các ngân hàng thương mại
không thu hút được vốn tiền mặt và có thể mất khả năng thanh toán.
Trong các tháng đầu năm 2012, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp,
khủng hoảng nợ công tại Châu Âu tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế cả
nước nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Tăng trưởng kinh tế trong 3 tháng
phát triển của ngành ngân hàng.
Yếu tố nguồn nhân lực của xã hội
Nguồn nhân lực ở Việt Nam có xu hướng được cải thiện cả về chất lượng và
số lượng. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, dự báo Việt Nam vẫn sẽ thiếu
nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này chắc chắn có tác động trực tiếp đến ngành
ngân hàng.
3. Phân tích các yếu tố môi trường bên trong Ngân hàng BIDV
a. Phân tích nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực ở Việt Nam có xu hướng được cải thiện cả về chất lượng và
số lượng. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, dự báo Việt Nam vẫn sẽ thiếu
nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này chắc chắn có tác động trực tiếp đến ngành
ngân hàng.
Đặc biệt, hiện nay, BIDV đã xây dựng trường đào tạo nghiệp vụ ngân hàng
cho cán bộ ngân hàng của BIDV nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng
thời nâng cao chất lượng dịch vụ của BIDV.
b. Phân tích khả năng tài chính
Nhu cầu vốn của BIDV qua các giai đoạn tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh,
mức vốn hiện có. Kế hoạch tăng vốn của BIDV sẽ gắn với nhu cầu vốn cần thiết
đảm bảo hoạt động kinh doanh ngân hàng theo thông lệ khu vực và quốc tế, cụ thể:
đảm bảo hệ số vốn cấp 1/TTSCRR trên 8% (theo thông lệ quốc tế). Đến
31/12/2010, hệ số CAR theo chuẩn mực quốc tế là 8,27%.
Theo quyết định 2124/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 v/v phê duyệt phương án Cổ
phần hóa BIDV:
Vốn điều lệ làm căn cứ phát hành: 28.251.382 triệu đồng.
Phát hành năm 2012:
o Sau khi IPO và bán ưu đãi cho cán bộ công nhân viên, công đoàn: 7%
(IPO tối thiểu 3%, bán ưu đãi cán bộ công nhân viên 1%, bán cho tổ chức công
đoàn tối đa 3%). Vốn điều lệ sau IPO tăng khoảng 2.000 tỷ.
o Sau khi bán cho nhà đầu tư chiến lược 15%: dự kiến phát hành cho nhà
đầu tư chiến lược vào cuối năm 2012, khi đó vốn điều lệ tăng thêm khoảng 4.237 tỷ.
đến và ghi nhận như là một trong những thương hiệu ngân hàng lớn nhất Việt Nam,
được chứng nhận bảo hộ thương hiệu tại Mỹ, nhận giải thưởng Sao vàng Đất Việt
cho thương hiệu mạnh… và nhiều giải thưởng hàng năm của các tổ chức, định chế
tài chính trong và ngoài nước.
Giai đoạn 2006-2011 của BIDV đã “Hoàn thành cơ bản mục tiêu phát triển
mạng lưới truyền thống và hiện đại rộng khắp, phủ kín 63 tỉnh, thành phố trong cả
nước, trong đó tập trung tại 2 địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; góp phần
nâng cao giá trị thương hiệu BIDV, tăng khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị
phần, là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh doanh của
hệ thống, là tiền đề vững chắc cho các giai đoạn phát triển tiếp theo”.
Đến 30/9/2011, cùng với Ngân hàng Nông nghiệp, BIDV là một trong 2
ngân hàng đã phủ sóng mạng lưới trên cả 63 tỉnh/thành phố của cả nước, là ngân
hàng đứng thứ 3/42 Ngân hàng thương mại về số lượng mạng lưới, với 629 điểm
mạng lưới (114 chi nhánh/sở giao dịch, 373 phòng giao dịch và 142 quỹ tiết kiệm),
1.295 ATM và 5.768 POS (Số liệu theo bản cáo bạch công bố thông tin IPO)
Chính vì vậy, BIDV là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ nhân viên và của
ngành tài chính ngân hàng trong 50 năm qua với nghề nghiệp truyền thống phục vụ
đầu tư phát triển Đất nước.
d. Phân tích chất lượng dịch vụ
Hiện tại, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV hoạt động trong
các lĩnh vực dịch vụ như sau:
Ngân hàng: Cung cấp đầy đủ, trọn gói các dịch vụ ngân hàng truyền thống và
hiện đại
Bảo hiểm: Bảo hiểm, tái bảo hiểm tất cả các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ
Chứng khoán: Môi giới chứng khoán; Lưu ký chứng khoán; Tư vấn đầu tư
(doanh nghiệp, cá nhân); Bảo lãnh, phát hành; Quản lý danh mục đầu tư
Đầu tư Tài chính:
o Chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu…)
o Góp vốn thành lập doanh nghiệp để đầu tư các dự án.
o Chất lượng tín dụng dù đã được cải thiện, tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu vẫn còn
cao hơn trung bình ngành.
Cơ hội trong thời điểm kinh tế xã hội hiện nay
Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế bao gồm tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước,
tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu đầu tư công dự kiến sẽ diễn ra mạnh mẽ
trong những năm tới. Quá trình này vừa là thách thức những cũng tạo ra không ít cơ
hội cho việc thâu tóm tài sản giá rẻ, đa dạng hóa đầu tư của các ngân hàng có tình
hình tài chính lành mạnh. Thách thức bị mua bán sáp nhập của ngân hàng yếu kém
cũng chính là cơ hội cho các ngân hàng lớn trong nước tham gia thâu tóm các ngân
hàng khác để nâng cao tiềm lực tài chính và nhanh chóng mở rộng mạng lưới hoạt
động, quy mô khách hàng.
Mặt khác, quá trình tái cơ cấu cũng có thể là yếu tố tích cực với các ngân
hàng nhỏ nếu xét trên khía cạnh Ngân hàng Nhà nước đưa họ trở về đúng thị trường
và lĩnh vực kinh doanh mà họ có vốn lợi thế. Thị trường hiện nay ít có sự phân biệt
rõ ràng giữa các ngân hàng yếu kém và ngân hàng nhỏ. Do đó, khi các ngân hàng
nhỏ thực sự phát huy được thế mạnh trong đúng lĩnh vực kinh doanh của mình thay
vì đầu tư dàn trải chạy đua phát triển những sản phẩm tương tự nhau như trên thị
trường, thì đây chính là cơ hội để khẳng định tên tuổi và trụ vững trong cuộc chiến
tái cơ cấu toàn hệ thống của các ngân hàng này.
Thách thức BIDV phải đối mặt hiện nay
o Nợ xấu: Hiện nay là bên cạnh một số ngân hàng mạnh với trình độ quản
lý chuyên nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế thì vẫn còn có một vài ngân hàng nhỏ và
yếu không đủ năng lực quản lý dẫn đến nợ xấu cao. Một vài ngân hàng lại có hình
thức sở hữu chéo giữa ngân hàng và các công ty liên quan và không được trang bị
đầy đủ chính sách quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Bên cạnh đó, một số ngân hàng
lại lệ thuộc thái quá vào tài sản thế chấp là bất động sản khi cho vay. Điều này góp
phần kéo tỷ lệ nợ xấu cao tại các ngân hàng nói riêng và của cả toàn hệ thống nói
chung.
o Áp lực tái cơ cấu: Nhiều bất cập của hệ thống ngân hàng được bộc lộ
trong thời gian qua, thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao có nguy cơ
hàng chuyên nghiệp. Dịch vụ ngân hàng còn tương đối mới chưa được người dân
nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Đồng thời, các sản phẩm ngân hàng như quản lý tài
sản cá nhân chưa thực sự phát triển tại Việt Nam. Dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam
còn tương đối thấp so với các quốc gia khác như Indonesia, Malaysia, hay Thái
Lan.
b. Đề xuất chiến lược
SWOT Cơ hội (Opportunities)
- Phân chia lại thị phần
trong thị trường tài chính
- Cơ hội khẳng định
thương hiệu của các ngân
hàng vừa và nhỏ
Thách thức (Threads)
- Giải quyết tình trạng nợ
xấu
- Áp lực tái cơ cấu
- Áp lực nâng cao năng
lực tài chính
- Thiếu hụt sản phẩm
dịch vụ và nguồn nhân lực
chất lượng cao
Điểm mạnh (Strengths)
- Ngân hàng lâu đời uy
tín với khách hàng
- Năng lực tài chính cao
- Chất lượng nguồn
nhân lực cao và ổn định,
kết hợp với trường đào
tạo cán bộ công nhân
viên riêng của BIDV
hút nhân lực chưa cạnh
tranh
- Đây là cơ hội để mở
rộng thị trường cho các
ngân hàng lớn như BIDV,
- Cần có chiến lược tập
trung vào đào tạo nguồn
nhân lực hiện có chuyên
- Phát triển thương hiệu
chỉ tập trung tại các thành
phố lớn
- Hình thức sản phẩm
dịch vụ chưa khác biệt
- Tình trạng nợ xấu vẫn
cao so với trung bình
ngành
và thời điểm này, BIDV
nên khai thác thị trường ở
các khu vực khác nhau
mà trước đây chưa nhắm
tới.
sâu hơn về chất lượng
nghiệp vụ ngân hàng.
- Nghiên cứu và phát
triển sản phẩm dịch vụ
nhằm đa dạng hóa sản
phẩm dịch vụ.
5. Lựa chọn chiến lược phù hợp nhất
a. Chiến lược trong ngắn hạn
Trong thời điểm hiện tại, các ngân hàng cần phải đặt vấn đề xử lý nợ xấu lên
nhân viên của Ngân hàng là những chiến lược then chốt giúp Ngân hàng đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, giữ vững thị phần, tăng lợi nhuận và khẳng
định vị trí của mình trên thị trường.