PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC
ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9-
Bài 24 Bài 24-Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945-
1946)
1. Hình . Cử tri Sài Gòn bỏ phiếu Quốc hội khoá I
*Nội dung:
Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan mọi sự xuyên tạc của kẻ thù. Chính
phủ lâm thời quyết định tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 6/1/1946 để bầu Quốc hội, lập
Chính phủ chính thức và xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.
Trước ngày bầu cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bảo cả nước: “Ngày mai là
một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng quyền dân chủ
của mình. Ngày mai nhân dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt quân
sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù, về mặt chính trị thì nhân dân dùng
lá phiếu có sức lực như một viên đạn”.
Ngay mai quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân ta đã:
- Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ.
- Kiên quyết chống bọn thực dân.
- Kiên quyết tranh quyền độc lập.
Ngày 6/1/1946, toàn dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương đã nô nức đi bỏ phiếu
bầu cử. Đây thực sự là cuộc đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt bởi vì kẻ thù bên trong
và giặc ngoài đang tìm mọi cách lật đổ chính quyền cách mạng của nhân dân ta. ở miền
bắc, dưới sự che chở của quân Tưởng, bọn Việt quốc, Viết cách điên cuồng chống phá ở
miền Nam, cuộc bầu cử thực sự có đổ máu, 42 cán bộ đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ
vận động tuyển cử. ở một số nơi như Tân An, Khánh Hoà đồng bào đã bị sát hại vì máy
bay của địch ném bom nơi bỏ phiếu.
Mặc dù trong điều kiện khó khăn đó, tỷ lệ người đi bỏ phiếu rất cao, trung bình 85%,
nhiều nơi đạt 100%. Những đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu ra tranh cử để
GV cho HS quan sát bức tranh và tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi sau:
Hãy cho biết cuộc vận động tiết kiệm, kệu gọi đồng bào nhừng cơm sẻ áo diễn ra
như thế nào?
ý nghĩa của cuộc vận động đó?
Sau khi HS trả lời câu hỏi GV nhận xét và chốt ý như nội dung trên.
3.Hình. Lớp bình dân học vụ Lớp Bình dân học vụ
*Nội dung:
Ngày 3/9/1945, một ngày sau khi thành lập nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã triệu tập phiên họp đầu tiên của hội đồng Chính phủ và nêu rõ 6 nhiệm vụ cấp bách
cần làm ngay. Trong đó nạn mù chữ được coi là một thứ giặc nguy hại không kém gì giặc
đói và giặc ngoại xâm.
Trong bài “chống nạn thất học”, viết một tháng sau ngày độc lập, công bố ngày
4/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết:
“Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh, nước giàu.
Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có
kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải
biết đọc, biết chữ Quốc ngữ.
Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ. Những người chưa
biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. Vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết thì
anh bảo, cha mẹ không biết chữ thì con bảo… phụ nữ lại càng cần phải học”.
Một tuần lễ sau ngày độc lập, ngày 8/9/1945, Nha Bình dân học vụ được thành lập. Với
truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam, cả dân tộc đã lao vào cuộc chiến đấu gian
khổ chống lại ngu dốt, chống lại chính sách ngu dân của chính quyền thực dân trước đây.
Chỉ trong một thời gian ngắn, các lớp bình dân học vụ đã được tổ chức ở khắp nơi, lôi
cuốn từ những em nhỏ đến các cụ già 80 tuổi. Sau một năm, đã có 2.500.000 người được
cuốn từ em nhỏ đến các cụ già. Khẩu hiệu “đi học là kháng chiến”, “mỗi lớp học làm tổ
tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các đường phố, xóm làng.
Sau hơn 1 năm thực hiện chiến dịch chống giặc dốt, cả nước đã có 2,5 triệu người thoát
nạn mù chữ. Hệ giáo dục phổ thông và Đại học cũng được xây dựng và từng bước phát
triển theo 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học. Tiếng Việt được dùng trong các
văn bản chính thức của nhà nước và trong việc học tập, giảng dạy ở các trường.
Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống giặc dốt ngoài ý nghĩa lớn về văn hoá còn là một
thắng lợi lớn về chính trị; tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước và phát
huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng và bào vệ tổ quốc.
(Theo: Hậu phương chiến tranh nhân dân ViệtNam 1954-1975, NXB Quân đội nhân dân,
H.1997)
5.CẢ NƯỚC CỨU ĐÓI.
Sản xuất lương thực để cứu đói và nuôi dưỡng quân đội và công việc bức thiết mà chính
quyền cách mạng phải quan tâm, lãnh đạo nhân dân thực hiện. Ngày 3/9/1945, trong
phiên họp đầu tiên của hội đồng chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động một
phong trào “tăng gia sản xuất để chống nạn đói”, thực hiện “tất đất, tất vàng”. Người kêu
gọi đồng bào cả nước nhường cơm sẻ áo cho nhau, lập “Hũ gạo tíêt kiệm”. 10 ngày một
lần, tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người nghèo.
Chính chủ tịch Hồ Chí Minh nêu gương thực hiện đầu tiên.
Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước hưởng ứng. Mọi người nô
lức tăng gia sản xuất, chống đói như chống giặc ngoại xâm. Tính đến cuối năm 1945,
nhân dân ta đã bỏ ra 4 triệu ngày công, đào đắp 2,72 triệu m
3
đất bổ trợ cho đê điều, đẩy
lùi nạn lụt, diện tích trồng lúa được mở rộng gấp rưỡi, diện tích trồng khoai lang tăng gấp
3, số khoai lang thu hoạch tăng gấp 4 lần so với năm 1943.
Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, giá gạo ở Bắc bộ hạ từ 700 đồng xuống 200 đồng
một tạ. Cách mạng đã chiến thắng nạn đói ngay từ những ngày đầu chế độ mới. Kết quả
đó không những chỉ bồi dưỡng sức dân mà còn góp phần quyết định vào việc xây dựng
Đoàn thị Hồng Điệp sưu tầm và tổng hợp.