LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và trích dẫn trong Luận án là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu của Luận án
không trùng với các công trình khoa học khác đã công bố.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thanh Bình
i
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- DVPPBL : Dịch vụ phân phối bán lẻ
- DVPP : Dịch vụ phân phối
- FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
- NT : Đãi ngộ quốc gia
- ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
- BTA : Hiệp định thương mại song phương Việt
Nam – Hoa Kỳ
- HTPPBLHH : Hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa
- HTPP : Hệ thống phân phối
- HTPPBL : Hệ thống phân phối bán lẻ
- XHCN : Xã hội chủ nghĩa
- TPP : Đối tác xuyên Thái Bình Dương
- CPC : Bảng phân loại sản phẩm trung tâm
- DNTMNN : Doanh nghiệp thương mại Nhà nước
- DNTMTN : Doanh nghiệp thương mại tư nhân
- DNTM : Doanh nghiệp thương mại
- BRIC : Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc
- FTA : Khu vực thương mại tự do
iii
dịch vụ bổ sung là những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn và tăng
thêm sự thuận tiện hơn khi mua hàng. Đồng thời, nó cũng cung cấp cho nhà
sản xuất nhiều thông tin cần thiết từ phía cầu để điều chỉnh những quyết định
1
của họ theo nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó, sự thất bại của ngành DVPP
nói chung, DVPPBL nói riêng trong việc thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng
phân phối của mình có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong hệ thống phân bổ
nguồn lực của xã hội và thiệt hại cho nền kinh tế trong cả ngắn hạn cũng như
trong dài hạn. Cho nên, để tránh cho nền kinh tế vấp phải thất bại đó của thị
trường, nhà nước phải can thiệp điều tiết và quản lý sự phát triển của dịch vụ
phân phối bán lẻ (DVPPBL). Đồng thời phạm vi của lĩnh vực PPBL trong
thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng thông qua đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và việc phát triển những công nghệ mới đặc biệt là công nghệ
thông tin. Trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, phần lớn các nước,
trước hết là những thành viên WTO, đều phải mở cửa thị trường DVPP, thực
hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT), dẫn đến sự phát triển nhanh của mạng
lưới phân phối toàn cầu với chủ thể chính chi phối và lãnh đạo là các tập đoàn
phân phối đa quốc gia. Mặt khác, trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành
sản phẩm, khâu phân phối bán lẻ là khâu có giá trị gia tăng cao, tỷ suất lợi
nhuận cao nên có sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của các nhà phân phối
bán lẻ trong và ngoài nước. Vì thế, sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với
sự phát triển DVPPBL càng trở nên cần thiết để đảm bảo lợi ích quốc gia
trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trong thời đại toàn cầu hóa, sự hình thành và phát triển dịch vụ phân phối
bán lẻ không chỉ luôn gắn với các dịch vụ chính khác (bán buôn, đại lý uỷ
quyền, nhượng quyền ), mà còn luôn gắn với cả các dịch vụ phụ trợ có liên
quan đến hoạt động bán lẻ hàng hoá, không chỉ bao hàm hệ thống phân phối bán
lẻ truyền thống mà còn bao hàm cả hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại.
Đối với Việt Nam, công cuộc Đổi mới đất nước được bắt đầu sớm nhất
và sâu sắc nhất trong lĩnh vực thương mại bán lẻ hàng hoá (bắt đầu tự Nghị
trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá,
gạo, đường và kim loại quí cho nước ngoài; nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt
thép, phân bón, xi măng Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm gia
nhập WTO, hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ của các doanh nghiệp FDI; nhà
phân phối nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh góp vốn nước ngoài
không quá 49% ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên, mức
cam kết đó thấp hơn hiện trạng của Việt Nam ở thời điểm gia nhập WTO. Vì
3
trên thực tế, Việt Nam đã cho phép một số tập đoàn phân phối lớn nước ngoài
thành lập siêu thị 100% vốn nước ngoài mở hàng loạt các siêu thị tại các
thành phố và một số tỉnh ở Việt Nam. Thế nhưng, đến nay, hàng hoá sản xuất
tại Việt Nam và hệ thống phân phối hàng hoá của các doanh nghiệp trong
nước vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và
dịch vụ tiêu dùng. Trong các siêu thị, hàng hoá sản xuất trong nước vẫn chiếm
hơn 70% và hệ thống phân phối bán lẻ của các doanh nghiệp trong nước vẫn
chiếm trên 90% tổng mức lưu chuyển hàng hoá.
Sau trên 15 năm từng bước mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, hệ
thống phân phối bán lẻ hàng hoá ở Việt Nam đã từng bước phát triển theo
hướng hiện đại, kết nối giữa hệ thống trong nước với các kênh xuất, nhập
khẩu hàng hoá, giữa các trung tâm phân phối lớn với các cửa hàng tiện lợi,
bám sát khu dân cư, giữa các hình thức phân phối truyền thống với các hình
thức mới hiện đại, đáp ứng nhu cầu hàng hoá ngày càng đa dạng của các tầng
lớp dân cư. Tính đến 31/12/2008, cả nước đã có 8.413 chợ các loại, 439 siêu
thị, 181 trung tâm thương mại, 139 cửa hàng tiện lợi và trên 0,9 triệu cửa
hàng kinh doanh bán lẻ truyền thống. Cơ cấu bán lẻ đã chuyển dần qua hệ
thống thương mại hiện đại : Tỷ trọng bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ
hiện đại đã tăng từ 4% năm 2001 lên khoảng 16% năm 2008 và khoảng 18%
năm 2010, qua hệ thống chợ giảm từ 45% xuống 38% và 36% trong thời gian
tương ứng, qua cửa hàng bán lẻ giảm từ 50% năm 2001 xuống 42% năm 2010
, còn lại là do các nhà sản xuất trực tiếp bán ra thị trường chiếm 4 - 6%. Tuy
thống phân phối còn mỏng manh dễ bị tổn thương trước các tác động giá cả
thị trường thế giới và quan hệ cung – cầu trong nước. Kết cấu hạ tầng thương
mại tuy đã có bước cải thiện đáng kể nhưng xét về tổng thể vẫn còn lạc hậu,
thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh của thương
mại trong nước. Cơ sở hậu cần phân phối logistics (cảng, kho, vận chuyển )
vừa ít, vừa yếu và thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo hỗ trợ và phục vụ tốt cho
khâu bán buôn, bán lẻ. Các phương thức kinh doanh tiến bộ, hiện đại như liên
kết “chuỗi”, trung tâm mua sắm, chuỗi siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi, bán
hàng qua mạng, chợ “ảo” chỉ mới manh nha hình thành, chưa nhiều và
chứa mạnh. Cơ cấu kênh phân phối hàng hoá nói chung và các mặt hàng quan
trọng, đặc thù nói riêng còn mang nặng tính tự phát, thiếu tính chuyên nghiệp.
5
Lực lượng thương nhân trên thị trường bán lẻ Việt Nam tuy tăng nhanh về số
lượng và biến đổi mạnh về cơ cấu trong quá trình hội nhập, nhưng thiếu
những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu mạnh, có tính chuyên nghiệp cao;
quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực của doanh nghiệp bán lẻ nhìn chung
diễn ra chậm. Xu hướng chung là các doanh nghiệp thương mại có vốn cổ
phần của Nhà nước là tập trung bán buôn một số mặt hàng trọng yếu tại
những thị trường trọng điểm và thu hẹp dần qui mô bán lẻ, ngược lại các chủ
thể thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, khu vực FDI ngày một phát
triển chiếm tỷ trọng cao trong khâu bán lẻ. Trong giai đoạn 1996 - 2008, tốc
độ tăng trưởng bán lẻ của khu vực FDI đã tăng nhanh nhất từ 17,9%/năm
trong giai đoạn 1996 - 2000 lên 46%/năm trong giai đoạn 2002 - 2005 và
khoảng 60%/năm trong giai đoạn 2006 - 2008. Thị phần bán lẻ của khu vực
FDI cũng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng đáng kể trên thị trường bán lẻ Việt
Nam (năm 1996 chiếm 1,2%, năm 2000 chiếm 1,6%, năm 2005 chiếm 3,7%
và năm 2009 chiếm 5%). Đến nay, có khoảng 10 hệ thống phân phối đa quốc
gia đang hoạt động trên địa bàn toàn quốc (trong đó có những tập đoàn lớn
như : BourBon, Parkson, Metro Cash&Carry, Lotteria, Medicare ), chỉ
chiếm 10% tổng số siêu thị và trung tâm thương mại nhưng lại chiếm tới 50%
lược có tầm nhìn xa về phát triển dịch vụ phân phối trong điều kiện hội nhập
quốc tế của Việt Nam chậm được xây dựng, thì chất lượng và hiệu lực của các
qui hoạch phát triển hệ thống phân phối bán lẻ (chợ, siêu thị, trung tâm
thương mại ) cũng như các qui hoạch phát triển thương mại nói chung còn
thấp. Vừa qua Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tổng thể phát
triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến 2020, nhưng đó chỉ là chiến lược
khung để làm khung khổ định hướng phát triển cho toàn bộ khu vực dịch vụ,
làm cơ sở cho các ngành dịch vụ riêng biệt xây dựng hoặc điều chỉnh chiến
lược phát triển từng ngành. Đến nay Bộ Công Thương cũng chưa triển khai
xây dựng chiến lược phát triển DVPP đến năm 2020. Các văn bản pháp luật
hiện có mới chỉ điều chỉnh những khía cạnh riêng lẻ, thiếu đồng bộ, chưa có
tính hệ thống, ý nghĩa và giá trị pháp lý thấp. Đến nay nước ta cũng chưa xây
dựng được Luật phân phối để điều tiết sự phát triển của DVPP trên thị trường
trong nước, điều tiết sự phát triển của Thương nhân trên thị trường DVPPBL.
Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích để củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng
7
cho phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ còn rất ít, thiếu tính liên tục, nhất quán
và đồng bộ. Hầu như chưa có chính sách ưu đãi (thuế, đất đai, tín dụng ) cho
đầu tư dịch vụ phân phối bán lẻ. Phân công và qui định chức năng, nhiệm vụ
quản lý Nhà nước về thị trường bán lẻ còn có những bất hợp lý, thiếu rành
mạch, chồng chéo giữa các cơ quan, đơn vị, trong khi lại chưa có người “nhạc
trưởng” …v v
Bối cảnh, đặc điểm và xu hướng nêu trên đặt ra những yêu cầu mới trong
công tác quản lý Nhà nước đối với quá trình hình thành, phát triển DVPPBL
trên thị trường trong nước, trước hết là trong xây dựng và hoàn thiện cơ chế,
chính sách. Trong đó, đối tượng và phạm vi tác động của cơ chế quản lý,
chính sách phát triển DVPPBL không chỉ gồm dịch vụ chính là hoạt động bán
lẻ, được gắn kết với các dịch vụ phân phối chính khác (bán buôn, đại lý uỷ
quyền, nhượng quyền thương mại) mà còn bao gồm cả các dịch vụ phụ trợ có
liên quan đến hoạt động bán lẻ hàng hoá.
Tập đoàn phân phối bán lẻ nước ngoài trên thị trường bán lẻ Việt Nam trong
điều kiện tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo
khớp nối linh hoạt giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng thì yêu cầu bức
thiết đang đặt ra là phải tăng cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ
phân phối bán lẻ. Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát
triển DVPPBL ở thị trường trong nước.
Với cách đặt vấn đề và lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu :
“Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng
hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” làm đề tài Luận án Tiến sĩ kinh tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1. Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong nước
Đến nay ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu ở các góc độ
khác nhau về bán buôn, bán lẻ, về dịch vụ bán lẻ, về hệ thống phân phối hàng
hóa và về từng loại hình dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa (Chợ, siêu thị,
trung tâm thương mại…). Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học
nào đi sâu nghiên cứu trực diện, có tính hệ thống về cơ chế, chính sách phát
triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa, về đổi mới và hoàn thiện cơ chế,
chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện hội nhập quốc tế. Một số công
trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án này gồm :
9
- Một số công trình nghiên cứu về hệ thống phân phối, lưu thông hàng
hóa, về dịch vụ bán buôn, bán lẻ, về các loại hình tổ chức hoạt động phân
phối bán lẻ :
• Đề tài Khoa học cấp Bộ “Các loại hình kinh doanh văn minh hiện
đại, định hướng quản lý nhà nước đối với siêu thị ở Việt Nam”do Vụ chính
sách thị trường trong nước (Bộ Thương mại) chủ trì thực hiện năm 2001.
Trong đó, chỉ tập trung nghiên cứu sâu về loại hình kinh doanh bán lẻ văn
mình, hiện đại và đề ra định hướng quản lý nhà nước loại hình này, chưa đề
cập đến quàn lý nhà nước toàn bộ lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam
phối bán lẻ và đề xuất cơ chế, chính sách quản lý sự phát triển đó
• Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng thương mại (hệ thống chợ)” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ
trì thực hiện năm 2005, CN. Phạm Hồng Tú là chủ nhiệm. Trong đó chỉ đi sâu
nghiên cứu về đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng hệ thống chợ, chưa nghiên
cứu cơ chế, chính sách quản lý sự phát triển chợ nói riêng, lĩnh vực phân phối
bán lẻ nói chung.
• Dự án cấp Bộ “Điều tra thực trạng hệ thống mua bán, lưu thông
phân phố các ngành hàng xi măng, phân bón, sắt thép ở nước ta trong thời kỳ
2000-2005 và đề xuất các kiến nghị giải pháp phát triển đến năm 2010” do
Viện nghiên cứu Thương mại chủ trì thực hiện năm 2006. PGS.TS. Nguyễn
Văn Nam làm chủ nhiệm dự án. Trong đó, phạm vi vấn đề được điều tra khá
rộng, thu nhận được cả thông tin phản hồi từ doanh nghiệp và địa phương về
chính sách và cơ chế quản lý lưu thông phân phối nhưng chỉ tập trung vào 3
mặt hàng, chưa đủ tính đại diện cho tất cả lĩnh vực lưu thông phân phối và
mua bán hàng hóa.
• Sách chuyên khảo “Giải pháp phát triển hệ thống phân phối liên kết
dọc các nhóm hàng lương thực thực phẩm” do PGS.TS. Lê Trịnh Minh Châu
cùng tập thể tác giả biên soạn, NXB Thế giới phát hành năm 2006. Trong đó
đã đề xuất một số giải pháp vĩ mô, nâng cao vai trò của chính phủ để phát
triển hệ thống phân phối liên kết dọc bao gồm cả khâu bán lẻ nhưng chỉ giới
hạn vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm.
• Đề tài cấp Bộ “ Một số giải pháp phát triển hệ thống siêu thị trên địa
bàn Hà nội” do trường Đại học Thương mại chủ trì thực hiện năm 2006,
11
PGS.TS Trần Hùng làm chủ nhiệm. Trong đó, chỉ đề cập đến các giải pháp
trung mô để phát triển siêu thị ở Hà Nội, chưa nghiên cứu chính sách, cơ chế
quản lý siêu thị trên địa bàn cả nước.
• Đề tài cấp Bộ “ Nghiên cứu dịch vụ bán buôn, bán lẻ của một số
nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương mại
bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam” của Phạm Hữu Thìn thực hiện tại Viện
Nghiên cứu thương mại năm 2008. Trong đó, chỉ đề cập đến quản lý nhà nước
đối với Siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi. Chưa đi sâu đề xuất
hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển
dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ
trì thực hiện năm 2009, TS. Từ Thanh Thủy làm chủ nhiệm. Trong đó, đã
nghiên cứu tổng quan về dịch vụ bán buôn, buôn lẻ ở Việt Nam, đánh giá
thực trạng và đề xuất hoàn thiện môi trường kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ
này theo một số tiêu chí chủ yếu từ góc độ thuận lợi hóa thương mại cho
thương nhân, chưa đi sâu nghiên cứu dịch vụ bán lẻ từ các góc độ cơ cầu dịch
vụ phân phối bán lẻ, chính sách mặt hàng, chính sách và cơ chế quản lý giá
cả, quản lý thị trường theo địa bàn lãnh thổ và các thiết chế quản lý đối với
lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán lẻ
hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam thời kỳ 2010-2020” do Viện Nghiên
cứu thương mại chủ trì thực hiện năm 2010, CN. Phạm Hồng Tú làm chủ
nhiệm. Trong đó, chủ yếu đi sâu nghiên cứu về thị trường bán lẻ hàng tiêu
dùng ở nông thôn Việt Nam từ góc độ cấu trúc thị trường và thương mại,
chưa đi sâu nghiên cứu từ góc độ quản lý nhà nước đối với sự phát triển dịch
vụ phân phối bán lẻ ở thị trường nông thôn.
• Đề tài cấp Bộ “Kinh doanh bán lẻ trên mạng” do Viện nghiên cứu
thương mại chủ trì thực hiện năm 2009, Nguyễn Thị Thanh Hà làm chủ
nhiệm. Trong đó đã đề cập đến môi trường pháp lý cho kinh doanh bán lẻ trên
mạng, nhưng chưa nghiên cứ để xuất cơ chế, chính sách cụ thể để quản lý sự
phát triển kinh doanh bán lẻ trên mạng nói riêng, quản lý sự phát triển hệ
thống phân phối bán lẻ nói chung.
• Đề tài cấp Bộ “Đánh giá chiến lược đối với quy hoạch tổng thể phát
triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2015, định hướng đến 2025” do
13
vực phân phối hàng hóa trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
14
• Đề án nghiên cứu “Phát triển thương mại trong nước đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020” do Vụ chính sách thị trường trong nước (Bộ
thương mại) chủ trì thực hiện năm 2007 (Sau đó được thủ tướng chính phủ
phê duyệt tại Nghị quyết số 27/2007/QĐ-TTg). Trong đó, đã nghiên cứu đề ra
định hướng tổng thể phát triển thương mại trong nước, quản lý thương mại
trong nước, bao gồm cả quản lý sự phát triển của thương mại bán lẻ nhưng
chưa đi sâu nghiên cứu đề ra cơ chế, chính sách cụ thể về quản lý dịch vụ
phân phối bán lẻ cùng các thiết chế quản lý cụ thể để điều tiết hoạt động của
thương nhân, điều tiết tương quan giữa phát triển các loại hình bán lẻ truyền
thống với các loại hình bán lẻ hiện đại.
• Dự án nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt
Nam đến năm 2020” do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì thực hiện năm
2010, PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch làm chủ nhiệm (đang chuẩn bị trình thủ
tướng Chính phủ phê duyệt), chưa công bố.
• Dự án “Nghiên cứu xây dựng khung khổ pháp lý cho hệ thống phân
phối” do Bộ thương mại và GTZ phối hợp chủ trì thực hiện năm 2005. Trong
đó đã xây dựng một số chuyên đề nghiên cứu.
Môi trường pháp lý cho phát triển dịch vụ phân phối ở Việt Nam
(tháng 11/2005)
Thực trạng và phương hướng hoàn chỉnh các văn bản pháp luật và
kinh doanh hàng hóa – dịch vụ trong nước (tháng 12/2005)
Đánh giá thực trạng tổ chức phân phối hàng hóa ở Việt Nam hiện nay
(tháng 12/2005)
Các chuyên đề nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến khía cạnh pháp lý và
môi trường pháp lý cho hoạt động phân phối trong đó có dịch vụ phân phối
bán lẻ ở Việt Nam, chưa đi sâu nghiên cứu về cơ chế, chính sách quản lý sự
phát triển DVPPBL ở Việt nam
• Đề án Nghiên cứu “Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ
• Harvard University and WEF :”Chỉ số thuận lợi thương mại”
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực dịch vụ phân phối bán lẻ
L.T Abankin “Phép biện chứng của kinh tế xã hội chủ nghĩa” Nhà
xuất bản Tư tưởng (Tiếng Nga), Matxcơva 1981. Theo tác giả : Cơ chế kinh
16
tế xuất hiện như là phân hệ của quan hệ sản xuất được hợp thức hóa nhất
định, hơn nữa còn là lớp bên ngoài (trên bề mặt) của quan hệ sản xuất được
phân bổ trong lĩnh vực hoạt động và các mối liên hệ kinh tế cụ thể . Nhưng nó
là phương thức có nhiều bình diện và đa dạng, cơ chế kinh tế không chỉ bó
hẹp trong phạm vi quan hệ sản xuất. Nó không những liên kết quan hệ hạ tầng
cơ sở mà còn liên kết cả những nhân tố nhất định của lực lượng sản xuất và
kiến trúc thượng tầng. Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tổ chức nền
kinh tế cùng với những mối quan hệ vốn có của nó, những hình thức và
phương pháp tác động đến sản xuất và tái sản xuất xã hội, đến cơ cấu tổ chức
của quản lý và những điều kiện thu hút con người vào lao động; toàn bộ
những quy tắc do nhà nước và xã hội quy định một cách tự giác (điều kiện,
tiêu chuẩn, chỉ tiêu, định mức, mối liên hệ giữa những người sản xuất) và
những cơ cấu tổ chức mà trong phạm vi những cơ cấu đó, tái sản xuất mở
rộng xã hội được thực hiện và nảy sinh những yêu cầu của các quy luật kinh
tế trong quá trình hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý kinh tế
điều chỉnh hoạt động của tất cả các chủ thể kinh tế, quan hệ giữa họ với nhau
về mặt sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng ; nó có nhiệm vụ bảo đảm
tạo ra những điều kiện nhằm thúc đẩy hoạt động có hiểu quả của tất cả các
chủ thể kinh tế, bảo đảm trình độ cao của sự kết hợp lợi ích xã hội, lợi ích tập
thể và lợi ích cá nhân. Cơ chế quản lý kinh tế là một hệ thống đặc biệt, hoàn
chỉnh bao gồm khâu cơ cấu và những nhân tố riêng biệt tương đối độc lập
nhưng đồng thời cũng tác động lẫn nhau một cách chặt chẽ. Chẳng hạn như
kế hoạch hóa, hạch toán kinh tế, kích thích hình thành giá cả. Cơ chế quản lý
kinh tế có một cơ cấu quản lý phức tạp với những mặt cắt cơ bản; 1) Những
thời là những phạm trù kinh tế khách quan, những công cụ quản lý kinh tế,
các đòn bẩy quản lý, những hình thức vận động của quy luật kinh tế của Chủ
nghĩa xã hội.
Fels, Allan “Quản lý bán lẻ - bài học từ các quốc gia đang phát
triển”, Asia Pacific Business Review, quyển 15, số 1 năm 2009
Mutebi, Alex M “Những thay đổi về quản lý đối với bán lẻ xuyên
quốc gia quy mô lớn ở các thành phố Đông Nam Á”, Nghiên cứu đô thị, số 44
kỳ 2 năm 2007
Trương Tuệ Mẫn “Đại từ điển kinh tế thị trường” của Trung Quốc,
18
trong các nghiên cứu về lưu thông phân phối hàng hóa đã xác định 4 khâu cơ
bản của quá trình lưu thông hàng hóa từ sản xuất tới tiêu dùng (thu mua, vận
tải, tồn trữ và tiêu thụ”. Ở khâu tiêu thụ hàng hóa được chuyển từ lĩnh vực lưu
thông vào lĩnh vực tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Hoạt động kinh doanh ở khâu lưu thông tiêu thụ hàng hóa là hoạt động
thương nghiệp. Thương nghiệp là một ngành kinh tế độc lập chuyên về tổ
chức lưu thông hàng hóa. Trong quá trình phát triển thương nghiệp, bán buôn
được phân hóa trong thương nhân làm cho nội bộ thương nghiệp phân hóa
thành hai ngành lớn là bán buôn và bán lẻ, đó là kết quả tất yếu trong quá
trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Sự phân hóa bán lẻ là kết quả
của sự phát triển thương nghiệp. Tiêu thụ hàng bán lẻ bao gồm : hàng bán cho
người tiêu thụ dùng cho cá nhân, hàng bán cho tập thể tiêu dùng (cơ quan,
trường học…), hàng bán cho cá nhân các hộ sản xuất nông – công nghiệp.
Trương Tuệ Mẫn không sử dụng khái niệm “hệ thống phân phối bán lẻ” mà
dùng khái niệm “mạng lưới thương nghiệp bán lẻ” là sự phân bố các hình
thức tổ chức thương nghiệp bán lẻ để bán hàng trực tiếp cho cư dân, cơ quan
đoàn thể và xí nghiệp công nghiệp ở thành thị và nông thôn, là mạng lưới
thương nghiệp trực tiếp phục vụ người tiêu dùng. Dựa theo hình thức phục vụ
phân ra mạng lưới bán lẻ cố định; phân theo quy mô có siêu thị, đại siêu thị,
trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, chợ, cửa hàng chuyên doanh, siêu
vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế
- Đề xuất quan điểm, phương hướng hoàn thiện cơ chế quản lý và chính
sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa phù hợp với các cam kết
hội nhập quốc tế tới năm 2020
4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là lĩnh vực dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam và cơ chế, chính sách đối với sự phát triển
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án
- Về nội dung : Nghiên cứu đối tượng ở tầm vĩ mô toàn nền kinh tế bao
gồm cả các loại hình kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ truyền thống và
hiện đại nhưng không nghiên cứu đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách từng
20
loại hình. Chỉ nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán
lẻ ở thị trường trong nước, không nghiên cứu dịch vụ phân phối bán lẻ hàng
hóa của Việt Nam ở thị trường nước ngoài (tức là mạng lưới bán lẻ hàng xuất
khẩu của Việt Nam ở các thị trường xuất khẩu). Đối tượng và phạm vi điều
chỉnh của cơ chế, chính sách được nghiên cứu, đề xuất là tất cả các chủ thể
kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ
phân phối bán lẻ trên thị trường Việt Nam; đối tượng kinh doanh bán lẻ là tất
cả hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam, bao gồm cả hàng sản xuất
trong nước và hàng nhập khẩu vào Việt Nam được tiêu thụ tại thị trường
trong nước. Tuy nhiên, trọng tâm nghiên cứu của đề tài luận án là cơ chế,
chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam ở thị
trường trong nước, tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất với nhà bán lẻ và
người tiêu dùng Việt Nam theo tinh thần cuộc vận động lớn “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Đồng thời luận án cũng chú trọng đề xuất cơ
chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà phân phối bán lẻ
Việt Nam phát triển kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và chiếm giữ