MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HỘP
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HỘP
BẢNG
Bảng 1.1: Cơ sở và khung khổ chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện hội
nhập quốc tế Error: Reference source not found
Bảng 1.2: Tỷ trọng doanh thu bán lẻ qua hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền thống
của Thái Lan năm 2006 Error: Reference source not found
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn siêu thị của Trung Quốc Error: Reference source not found
Bảng 1.4: Tóm tắt các quy định chính sách áp dụng đối với các cơ sở bán lẻ nước
ngoài tại Indonesia, Malaysia, Thái Lan (2004) Error: Reference source
not found
Bảng 2.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa thời kỳ 1996 – 2010
Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Đóng góp của thương mại trong nước vào GDP tính theo giá so sánh 1994
Error: Reference source not found
Bảng 2.3. Tỷ trọng các loại hình kinh doanh dịch vụ phân phối trong tổng số cơ
sở kinh doanh dịch vụ phân phối tại các vùng trong cả nước năm 2009
Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Tỷ trọng cơ sở kinh doanh DVPP phân theo loại hình kinh doanh và
phân theo thành thị, nông thôn đến năm 2009 Error: Reference source
not found
Bảng 2.5. Quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ thời kỳ 2000 – 2009
Error: Reference source not found
Bảng 2.6. Kết quả rà soát, điều chỉnh quy định chính sách thực hiện cam kết
WTO đối với DVPP của Việt Nam Error: Reference source not found
Bảng 2.7: Vốn FDI đăng ký vào dịch vụ bán buôn, bán lẻ tại Việt Nam giai đoạn
2002 – 2009 Error: Reference source not found
Bảng 2.8: Tổng mức bán lẻ hàng hóa theo giá thực tế thời kỳ 1996-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 3.1. Triển vọng phát triển DVPPBL Việt Nam đến năm 2020 Error:
chính do nhà bán buôn và nhà bán lẻ thực hiện. DVBB bao gồm việc bán hàng cho
những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụng hàng hóa của những ngành công
nghiệp, thương mại, các tổ chức đơn vị chuyên môn hoặc cho người bán buôn khác.
Những người bán lẻ phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình. Nói cách
khác, bán buôn là việc bán hàng hóa (thường là các dịch vụ kèm theo) cho đối
tượng người mua để sản xuất, để bán lại hoặc tiêu dùng vì mục đích sự nghiệp hoặc
kinh doanh; bán lẻ là hoạt động có nghiệp vụ chủ yếu là bán hàng hóa cùng các dịch
vụ kèm theo cho người tiêu dùng cuối cùng, đó là tiêu dùng cá nhân và gia đình,
tiêu dùng không mang tính kinh doanh. Ngày nay dịch vụ bán lẻ đóng góp đáng kể
vào tăng trưởng kinh tế và hướng mạnh mẽ tới người tiêu dùng.
Sự phát triển của DVPPBL theo hướng hiện đại không chỉ gắn với việc cung
cấp các sản phẩm ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của
người tiêu dùng, mà còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung
là những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn và tăng thêm sự thuận tiện
hơn khi mua hàng. Đồng thời, nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin
cần thiết từ phía cầu để điều chỉnh những quyết định của họ theo nhu cầu của người
tiêu dùng. Do đó, sự thất bại của ngành DVPP nói chung, DVPPBL nói riêng trong
việc thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng phân phối của mình có thể dẫn tới những
sai lệch lớn trong hệ thống phân bổ nguồn lực của xã hội và thiệt hại cho nền kinh
1
tế trong cả ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Cho nên, để tránh cho nền kinh tế vấp
phải thất bại đó của thị trường, nhà nước phải can thiệp điều tiết và quản lý sự phát
triển của dịch vụ phân phối bán lẻ (DVPPBL). Đồng thời, phạm vi của lĩnh vực
PPBL trong thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng thông qua đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) và việc phát triển những công nghệ mới đặc biệt là công nghệ
thông tin. Trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, phần lớn các nước, trước hết
là những thành viên WTO, đều phải mở cửa thị trường DVPP, thực hiện nguyên tắc
đãi ngộ quốc gia (NT), dẫn đến sự phát triển nhanh của mạng lưới phân phối toàn
cầu với chủ thể chính chi phối và lãnh đạo là các tập đoàn phân phối đa quốc gia.
Mặt khác, trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản phẩm, khâu phân phối bán
giữa các hình thức phân phối truyền thống với các hình thức mới hiện đại, đáp ứng
nhu cầu hàng hoá ngày càng đa dạng của các tầng lớp dân cư. Việt Nam đang trở
thành thị trường bán lẻ đầy tiềm năng, có sức hấp dẫn cao với các nhà đầu tư nước
ngoài. Đây vừa là thời cơ vừa là nguy cơ đối với các doanh nghiệp phân phối Việt
Nam trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, các tập đoàn phân phối
lớn của nước ngoài đang không ngừng tăng cường thế lực để mở rộng thị phần bán
lẻ ở Việt Nam, nhất là trên các đô thị lớn.
Quy mô thị trường bán lẻ ngày càng lớn. Năm 2010 tổng mức lưu chuyển
hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội (LCHHBL&DTDVXH) đạt trên
1.561,6 ngàn tỷ đồng, gấp khoảng 6 lần năm 2001, nâng mức bình quân đầu người
từ 2,54 triệu đồng năm 2001 lên 17,7 triệu đồng năm 2010. Trong giai đoạn 2006-
2010 quy mô thị trường bán lẻ đã bằng khoảng 65% GDP trong cùng giai đoạn,
phản ánh DVPPBL có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam (bán buôn, bán lẻ, đại lý uỷ quyền và
nhượng quyền thương mại) đã từng bước mở cửa theo các cam kết quốc tế đa
phương, song phương, bắt đầu từ sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (Tháng
7/1995). Từ khi gia nhập WTO (Tháng 11/2006), nhất là từ sau 1/1/2009, thị trường
dịch vụ phân phối Việt Nam về cơ bản đã mở cửa như cam kết của Việt Nam với
Hoa Kỳ trong Hiệp định thương mại song phương (BTA). Trong đó, từ 1/1/2009
cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tương tự như BTA, Việt
Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí,
băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quí cho nước ngoài; nhiều sản phẩm
nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3
năm gia nhập WTO, hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ của các doanh nghiệp FDI;
nhà phân phối nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh góp vốn nước ngoài không
quá 49% ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO
3
Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng thị trường bán lẻ và
hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước đang bộc lộ những
yếu kém không nhỏ. Thị trường phát triển không bền vững, các hệ thống phân phối
4
trong khi lại chưa có người “nhạc trưởng” …v v
Bối cảnh, đặc điểm và xu hướng nêu trên đặt ra những yêu cầu mới trong công
tác quản lý Nhà nước đối với quá trình hình thành, phát triển DVPPBL trên thị
trường trong nước, trước hết là trong xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển
dịch vụ dịch vụ bán lẻ. Trong đó, đối tượng và phạm vi tác động của chính sách
phát triển DVPPBL không chỉ gồm dịch vụ chính là hoạt động bán lẻ, được gắn kết
với các dịch vụ phân phối chính khác (bán buôn, đại lý uỷ quyền, nhượng quyền
thương mại) mà còn bao gồm cả các dịch vụ phụ trợ có liên quan đến hoạt động bán
lẻ hàng hoá.
Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung 2011), trong đó đã xác định
rõ:”Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng
vật chất…”. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 vừa được Đại hội XI
của Đảng thông qua cũng đã đề ra định hướng “Phát triển khu vực dịch vụ đạt tốc
độ tăng trưởng cao hơn các khu vực sản xuất và tăng mức độ cao hơn GDP…; mở
rộng thị trường nội địa, phát triển thương mại trong nước…; chủ động tham gia
vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi
thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt
nam…; phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo
đảm ổn định kinh tế vĩ mô”….”Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp,
đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính tiền tệ nhằm nâng cao chất lượng tăng
trưởng đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế”.
Như thế, để phát triển DVPPBL ở Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả,
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao với các Tập đoàn
phân phối bán lẻ nước ngoài trên thị trường bán lẻ Việt Nam trong điều kiện tự do
hoá thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo khớp nối linh hoạt giữa
nhà sản xuất và người tiêu dùng thì yêu cầu bức thiết đang đặt ra là phải tăng
cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ. Trong đó, cần tiếp
• Sách chuyên khảo “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do TS. Lê Trịnh Minh Châu cùng tập thể
tác giả biên soạn trên cơ sở bổ sung, nâng cấp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ nêu
trên, NXB Lý luận chính trị ,Hà Nội phát hành năm 2004
• Đề tài cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của
6
nước ta hiện nay” do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì năm 2005, TS. Nguyễn
Thị Nhiễu làm chủ nhiệm đề tài. Trong đó, chỉ nghiên cứu sâu về hệ thống siêu thị
và đề ra giải pháp phát triển cho loại hình này, chưa nghiên cứu toàn diện về dịch
vụ bán lẻ và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này.
• Sách chuyên khảo “Siêu thị - phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở
Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Nhiễu cùng tập thể tác giả biên soạn, NXB Lao động
– xã hội Hà nội phát hành năm 2006. Trong đó đã bổ sung, nâng cấp kết quả nghiên
cứu đề tài Khoa học cấp Bộ nêu trên.
• Đề tài cấp Bộ “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân
phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta” do Viện nghiên cứu Thương mại chủ trì
thực hiện năm 2006, PGS.TS. Đinh Văn Thành làm chủ nhiệm. Trong đó đi sâu
nghiên cứu về kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu (rau quả, thịt, hàng may
mặc, sắt thép, phân bón, xi măng…), chưa nghiên cứu phân phối và dịch vụ phân
phối đối với tất cả các nhóm hàng để đề xuất cơ chế, chính sách quản lý các kênh
phân phối hàng hóa.
• Đề tài cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận doanh theo
chuỗi ở Việt Nam đến năm 2010” do Trường cán bộ Thương mại Trung ương chủ
trì thực hiện năm 2005. Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về cửa hàng tiện lợi và đề
xuất giải pháp phát triển, chưa nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ và
đề xuất cơ chế, chính sách quản lý sự phát triển đó
• Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng thương mại (hệ thống chợ)” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì thực hiện
năm 2005, CN. Phạm Hồng Tú là chủ nhiệm. Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về đầu
tư cho phát triển kết cấu hạ tầng hệ thống chợ, chưa nghiên cứu cơ chế, chính sách
Văn Nam là chủ nhiệm dự án. Trong đó chủ yếu thu thập thông tin về thương nhân và
chính sách phát triển thương nhân, chưa đề cập đến các vấn đề về cơ chế, chính sách
đối với toàn bộ lĩnh vực bán lẻ ở trong nước.
• Đề tài cấp Bộ “Giải pháp phát triển hộ kinh doanh thương mại thích ứng
với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu
thương mại Chủ trì thực hiện năm 2008, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà là chủ nhiệm
trong đó mới chỉ đề cập đến giải pháp phát triển hộ kinh doanh bán lẻ từ góc độ
chính sách thương nhân, chưa đề ra chính sách phát triển thương nhân trong lĩnh
vực bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu kinh nghiệm các nước về tập đoàn bán lẻ và bài
8
học cho Việt Nam" do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì năm 2008, TS. Nguyễn
Văn Long làm chủ nhiệm. Trong đó, chủ yếu giới thiệu một số mô hình tập đoàn phân
phối bán lẻ lớn của nước ngoài, chưa nghiên cứu kinh nghiệm của Chính phủ các nước
về chính sách và cơ chế quản lý sự phát triển của thương nhân trong lĩnh vực phân phối
bán lẻ để rút ra bài học cho Việt Nam
• Luận văn Thạc sỹ kinh tế “ Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ của Tổng
công ty thương mại Hà Nội” của Nguyễn Văn Tuấn thực hiện tại Trường Đại học
kinh tế quốc dân năm 2008. Trong đó chỉ đề cập đến quản lý hệ thống bán lẻ ở cấp
độ vi mô, chưa đề cập quản lý phân phối bán lẻ ở cấp độ vĩ mô.
• Luận án Tiến sỹ kinh tế “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ
văn minh, hiện đại ở Việt Nam” của Phạm Hữu Thìn thực hiện tại Viện Nghiên cứu
thương mại năm 2008. Trong đó, chỉ đề cập đến quản lý nhà nước đối với Siêu thị,
trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi. Chưa đi sâu đề xuất hoàn thiện cơ chế,
chính sách quản lý lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ
bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì thực hiện
năm 2009, TS. Từ Thanh Thủy làm chủ nhiệm. Trong đó, đã nghiên cứu tổng quan
về dịch vụ bán buôn, buôn lẻ ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất hoàn thiện
môi trường kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ này theo một số tiêu chí chủ yếu từ góc
nghiên cứu thể chế môi trường kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa để đề
ra các giải pháp cụ thể về hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý sự phát triển lĩnh
vực dịch vụ phân phối bán lẻ.
• Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng chỉ số mức độ hài lòng của khách
hàng đối với doanh nghiệp thương mại Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương
mại chủ trì thực hiện năm 2010, ThS. Lê Huy Khôi làm chủ nhiệm. Trong đó,
chủ yếu nghiên cứu đánh giá cảm nhận của khách hàng đối với doanh nghiệp
thương mại, trong đó có người tiêu dùng đối với doanh nghiệp bán lẻ, chưa
nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước – nhà bán lẻ - người tiêu dùng.
• Nhiệm vụ nhà nước về bảo vệ môi trường “Điều tra, khảo sát tình hình
quản lý môi trường tại Chợ của Việt Nam; xây dựng dự thảo quy chế bảo vệ môi
trường của các loại hình và cấp độ chợ” do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì
thực hiện năm 2010. KS. Doãn Công Khánh làm chủ nhiệm. Trong đó, đã thu thập
thông tin và đánh giá tình hình môi trường chợ từ góc độ phát triển thương mại bền
vững, chưa nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển chợ và các loại hình kinh
doanh bán lẻ khác.
10
- Một số dự án, đề án nghiên cứu từ góc độ quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
phân phối hàng hóa trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
• Đề án nghiên cứu “Phát triển thương mại trong nước đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020” do Vụ chính sách thị trường trong nước (Bộ thương
mại) chủ trì thực hiện năm 2007 (Sau đó được thủ tướng chính phủ phê duyệt tại
Nghị quyết số 27/2007/QĐ-TTg). Trong đó, đã nghiên cứu đề ra định hướng tổng
thể phát triển thương mại trong nước, quản lý thương mại trong nước, bao gồm cả
quản lý sự phát triển của thương mại bán lẻ nhưng chưa đi sâu nghiên cứu đề ra cơ
chế, chính sách cụ thể về quản lý dịch vụ phân phối bán lẻ cùng các thiết chế quản
lý cụ thể để điều tiết hoạt động của thương nhân, điều tiết tương quan giữa phát
triển các loại hình bán lẻ truyền thống với các loại hình bán lẻ hiện đại.
• Dự án nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam
giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến năm 2030” do Viện nghiên cứu thương
sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ. Một số công trình tiêu biểu là
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ
• American Heritage , Dictionary of the English language, Fourth Edition
Copyright 2000 by Houghton Mifflin Company. Updated in 2003. Published by
Houghton Mifflin Company. Theo từ điển Tiếng Anh này của Hoa kỳ thì bán lẻ
được định nghĩa “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng, thường là với khối lượng
nhỏ và không bán lại”
• Francis Kwong (2002) A retail – Led distribution Model (Mô hình bán lẻ
hàng đầu), China Resourcer Enterprise Ltd.
• AT Kearney, “Những cánh cửa hy vọng cho bán lẻ toàn cầu – chỉ số phát
triển bán lẻ toàn cầu 2009” AT Kearney 2009
• Tạp chí phố Wall (Mỹ) và quỹ Heritage: Index of Economic Freedom –
IEF (chỉ số tự do kinh tế)
• Harvard University and WEF:”Chỉ số thuận lợi thương mại”
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
dịch vụ phân phối bán lẻ
L.T Abankin “Phép biện chứng của kinh tế xã hội chủ nghĩa” Nhà xuất
bản Tư tưởng (Tiếng Nga), Matxcơva 1981. Theo tác giả: Cơ chế kinh tế xuất hiện
12
như là phân hệ của quan hệ sản xuất được hợp thức hóa nhất định, hơn nữa còn là
lớp bên ngoài (trên bề mặt) của quan hệ sản xuất được phân bổ trong lĩnh vực hoạt
động và các mối liên hệ kinh tế cụ thể . Cơ chế quản lý kinh tế là một hệ thống đặc
biệt, hoàn chỉnh bao gồm khâu cơ cấu và những nhân tố riêng biệt tương đối độc lập
nhưng đồng thời cũng tác động lẫn nhau một cách chặt chẽ. Chẳng hạn như kế
hoạch hóa, hạch toán kinh tế, kích thích hình thành giá cả. Cơ chế quản lý kinh tế có
một cơ cấu quản lý phức tạp với những mặt cắt cơ bản; 1) Những bộ phận cơ cấu cơ
bản của cơ chế kinh tế (kế hoạch hóa, tổ chức tiền lương, kích thích, hạch toán kinh
tế, hình thành giá cả…); 2) Cơ cấu chức năng của cơ chế quản lý kinh tế nói lên
phương thức tác động của nó đến việc thực hiện chức năng kinh tế quan trọng nhất:
phối hợp sản xuất với tiêu dùng, đảm bảo tính cân đối trong nền kinh tế quốc dân,
Trương Tuệ Mẫn “Đại từ điển kinh tế thị trường” của Trung Quốc, trong
các nghiên cứu về lưu thông phân phối hàng hóa đã xác định 4 khâu cơ bản của quá
trình lưu thông hàng hóa từ sản xuất tới tiêu dùng (thu mua, vận tải, tồn trữ và tiêu
thụ). Trương Tuệ Mẫn không sử dụng khái niệm “hệ thống phân phối bán lẻ” mà
dùng khái niệm “mạng lưới thương nghiệp bán lẻ” là sự phân bố các hình thức tổ
chức thương nghiệp bán lẻ để bán hàng trực tiếp cho cư dân, cơ quan đoàn thể và xí
nghiệp công nghiệp ở thành thị và nông thôn, là mạng lưới thương nghiệp trực tiếp
phục vụ người tiêu dùng. Dựa theo hình thức phục vụ phân ra mạng lưới bán lẻ cố
định; phân theo quy mô có siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm
mua sắm, chợ, cửa hàng chuyên doanh, siêu thị chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp,
siêu thị tổng hợp… Thể chế lưu thông hàng hóa gồm hai loại lớn là thể chế kinh
doanh và thể chế quản lý.
Như vậy, đến nay ở cả trong nước và ở nước ngoài chưa có công trình khoa
học nào đã công bố về đề tài Chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng
hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận án
3.1. Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng luận cứ Khoa học cho việc hoàn thiện
chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong
điều kiện hội nhập quốc tế thời kỳ tới năm 2020
3.2. Nhiệm vụ của Luận án:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa
ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển
14
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa thời kỳ tới năm 2020
4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là Chính sách phát triển dịch
vụ phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
thống kê – so sánh và quy nạp để đánh giá tiến trình đổi mới chính sách của Nhà
nước ta đối với phân phối bán lẻ hàng hóa từ khi tiến hành hội nhập quốc tế đến
nay; phát hiện những khiếm khuyết cần điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách
phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ tới.
- Phương pháp thống kê – so sánh và diễn dịch được sử dụng chủ yếu kết hợp
với phương pháp phân tích chứng minh để làm rõ những tác động của chính sách
của Nhà nước đối với sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ nói chung, các loại
hình kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại trong tương quan với các loại
hình bán lẻ truyền thống, các hệ thống phân phối của các nhà bán lẻ nước ngoài với
hệ thống phân phối của các nhà bán lẻ Việt Nam trên thị trường trong nước.
- Sử dụng kết quả điều tra, khảo sát của một số dự án điều tra về thương nhân, về
lĩnh vực phân phối và tiêu dùng ở Việt Nam đã được các tổ chức trong và ngoài nước
Công bố, trước hết là các dự án điều tra do Viện Nghiên cứu thương mại thực hiện.
6. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
- Xác lập được khung khổ lý thuyết cơ bản về hoàn thiện chính sách phát triển
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
- Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới chính sách của nhà nước ta đối với lĩnh
vực dịch vụ phân phối bán lẻ sau khi hội nhập quốc tế (1995) một cách toàn diện, có
tình hệ thống để từ đó rút ra các nhận định khoa học và một số bài học kinh nghiệm
cho thời kỳ tới.
- Đề xuất được khuôn khổ tổng thể về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam thời kỳ đến năm 2020, từ quan điểm,
phương hướng đến các chính sách cụ thể như: Chính sách hội nhập quốc tế và mở
cửa thị trường dịch vụ phân phối, Chính sách phát triển mặt hàng và thị trường dịch
vụ phân phối bán lẻ, Chính sách phát triển thương nhân bán lẻ, Chính sách phát
triển kết cấu hạ tầng dịch vụ phân phối bán lẻ, Chính sách đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực cho lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ, Chính sách phát triển các
loại hình kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ, Chính sách phát triển khách hàng
dịch vụ phân phối bán lẻ và chính sách bảo vệ người tiêu dùng trong phát triển dịch
16
sản xuất tới tiêu dùng thường phải qua 4 khâu chủ yếu: Khâu thu mua, khâu vận tải,
khâu tồn giữ, khâu tiêu thụ. Nếu như thông qua khâu thu mua, sản phẩm của người
sản xuất chuyển thành hàng hoá và thoát ly khỏi khu vực sản xuất đi vào lĩnh vực
lưu thông, thì ở khâu tiêu thụ, hàng hoá được chuyển từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh
vực tiêu dùng; đó là cách thức để thoả mãn nhu cầu của sản xuất và cũng là điều
kiện tất yếu của sản xuất hàng hoá.
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực phân phối là sự kết nối
sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Hoạt động của lĩnh vực này ảnh
hưởng mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng. Hiệu quả và tính cạnh tranh tăng
trong hệ thống phân phối có thể dẫn đến việc giảm giá, đặc biệt khi chiết khấu phân
phối chiếm phần đáng kể trong giá bán của các sản phẩm cuối cùng, và giảm được
sự méo mó trong cơ cấu giá. Hơn nữa, việc cung cấp sản phẩm cũng ngày càng
18
phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, lĩnh vực phân
phối không chỉ đơn thuần là người giao hàng hay chỉ có một vai trò duy nhất. Hoạt
động phân phối còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung (địa
điểm thuận lợi, đảm bảo về giao hàng, các thông tin và môi trường kinh doanh) là
những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn, và tăng thêm sự thuận tiện hơn
khi mua hàng. Đồng thời, nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần
thiết để điều chỉnh những quyết định của họ theo nhu cầu của người tiêu dùng. Sự
thất bại của ngành phân phối trong việc thực hiện đầy đủ vai trò của mình có thể
dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực và thiệt hại về kinh tế, như
đã xảy ra ở nhiều nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Việc thừa nhận rằng chính sự cạnh tranh ngày càng tăng, cả ở thị trường trong
và ngoài nước, có thể cải thiện hoạt động của lĩnh vực phân phối sẽ đưa đến việc
giảm bớt các qui định và tăng cường tự do hoá trong lĩnh vực này. Đồng thời, phạm
vi của lĩnh vực phân phối trong thương mại quốc tế đã được phát triển nhanh chóng
thông qua việc mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc phát triển các công nghệ
mới, đặc biệt là công nghệ thông tin. Các cuộc đàm phán về dịch vụ phân phối của
vòng Urugoay đã phản ánh cố gắng đầu tiên để củng cố xu hướng mở cửa thị
Trong thực tế, sự phân phối giữa các nhóm nhà phân phối có thể không rõ
ràng. Nhiều doanh nghiệp thực hiện một vài chức năng, hoặc nhà sản xuất cũng
có thể tự mình thực hiện chức năng phân phối. Hơn nữa, định nghĩa về dịch vụ
phân phối có thể chưa thực sự phản ánh đầy đủ vai trò ngày càng rộng của nhiều
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Ví dụ, sự thay đổi trong lĩnh vực sản
xuất hướng tới các kỹ thuật sản xuất được kiểm soát chặt chẽ đã khiến hệ thống
phân phối trở nên phức tạp. Bên cạnh những hoạt động mà danh mục CPC phần
nào đã tiên lượng trước như bảo quản lưu kho, quảng cáo và đóng gói, các nhà
phân phối phải thực hiện thêm một số chức năng như đặt cọc trước, kiểm soát và
quản lý chất lượng.
20
Sơ đồ 1.1. Các kênh lưu thông hàng hoá và các cấp trung gian
thương mại trong nền kinh tế thị trường [57;5]
- “Bán buôn” theo cơ quan Thống kê của Liên Hợp quốc (UNSTATS) là việc
bán lại (bán mà không có chế biến) hàng mới và hàng đã qua sử dụng, cho các nhà
bán lẻ, các nhà công nghiệp, thương mại, các đối tượng sử dụng chuyên nghiệp, hay
các tổ chức, hay các nhà buôn khác, gồm cả các đại lý và môi giới mua hoặc bán
hàng cho các đối tượng kể trên. Theo Từ điển kinh tế thị trường( tra cứu trực tuyến)
thì bán buôn được định nghĩa là hình thức “bán hàng của người sở hữu hàng hoá
cho người sản xuất để chế biến ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc chế biến lại nhằm
nâng cao phẩm chất, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, hoặc bán cho
thương nhân khác để bán lẻ cho người tiêu dùng”. Trong lĩnh vực bán buôn, hàng
hoá chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng cá nhân mà còn nằm trong lĩnh vực lưu thông
hoặc đi vào một quá trình sản xuất mới để trở lại lưu thông dưới hình thái hàng hoá
khác. Hoạt động bán buôn là một công đoạn của quá trình lưu thông hàng hoá và
thường chi phối công đoạn bán lẻ. Bán buôn thường thực hiện với số lượng lớn và
giá cả thấp hơn giá bán lẻ, tức là giá trị đầy đủ của hàng hoá. Người bán buôn
không phải là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hay sở hữu sản phẩm. Người bán
21
Người sản
Người
sản xuất/
Nhập
khẩu
Đại lý,
môi
giới
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
tiêu
dùng
buôn đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến
người bán lẻ.
- “Bán lẻ” theo từ điển kinh tế thị trường(tra cứu trực tuyến) là hình thức “bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ, từ đây
hàng hoá kết thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng cá nhân; giá trị
hàng hoá được thực hiện đầy đủ”.
Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức “bán từng cái, từng ít một
trực tiếp cho người tiêu dùng”. [25;95]
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120
(W/120) của vòng đàm phán Uruguay của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và
danh mục sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC) định nghĩa: “Bán lẻ
là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa
điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ
phụ liên quan”. [42;2]