Lời nói đầu
Việt Nam chúng ta là một trong những nớc có nền kinh tế đang phát
triển, trong những năm gần đây thì Việt Nam đợc coi là một nớc có bớc
nhảy lớn về phơng diện phát triển kinh tế so với các nớc Đông Nam á và
Châu á. Có đợc sự tăng trởng mạnh mẽ đó phải kể đến chiến dịch xuất
khẩu của nớc mình đặc biệt là hàng dệt may ở Việt Nam xuất khẩu sang n-
ớc ngoài nó chiếm một phần không nhỏ vào thu nhập của nớc ta điều đó
cũng nhờ vào các chính sách mở cửa của nớc mình hoà nhập vào sự phát
triển của toàn nhân loại. Từ thập niên 90 Nhà nớc ta bắt đầu thúc đẩy quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và mở rộng mối quan hệ ngoại
giao với các nớc trong khu vực và trên thế giới chính điều này đã khiến
kinh tế nớc ta phát triển vợt bậc so với thập niên trớc.
Trong những năm gần đây mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và
các nớc trên thế giới ngày càng khăng khít, thân thiện hơn tạo điều kiện
cho Việt Nam thu hút đầu t nớc ngoài cũng nh hoạt động xuất khẩu hàng
hoá của Việt Nam sang các nớc ngày càng nhiều đây ta một hớng đi tốt
của nớc ta.
ở hội nghị Triển khai nghị quyết 01 và tiếp tục thực hiện nghị quyết
12 của bộ chính trị tại thành phố Hồ Chí Minh đầu tháng 3/1997 chiến l-
ợc hớng mạnh về xuất khẩu đợc coi là một yêu cầu bức xúc trớc xuất phát
điểm thấp của Việt Nam về kim ngạch xuất khẩu.
Để thực hiện nghị quyết đó Bộ Thơng mại đã đề nghị phấn đấu đạt
mức tăng trởng xuất khẩu hàng năm là 35% để nâng tổng kim ngạch xuất
khẩu trong các năm tới.
1
Vậy để nghiên cứu sự tác động của môi trờng Luật pháp chính trị có
ảnh hởng đến hoạt động Marketing xuất nhập khẩu của nớc nhà nói chung
và nớc sở tại.
I. Môi trờng chủ nhà
Môi trờng nớc ta có ảnh hởng đối với biện pháp quốc tế của các công
ty xuất khẩu thông qua việc tạo cơ hội xuất khẩu
thuộc nhóm 2 để giao cho các doanh nghiệp ký hợp đồng trực tiếp với
khách hàng là nhà công nghiệp Châu Âu.
Các doanh nghiệp ký hợp đồng hạn ngạch công nghiệp phải đảm bảo
tỷ lệ tối thiểu là 305 hạn ngạch đợc giao chính thức. Các doanh nghiệp đợc
giao với số lợng hạn ngạch chính thức dới 50.000 sản phẩm đối với các mặt
hàng cat 4, 5, 8 và 31 dới 3000 sản phẩm đối với mặt hàng (cat) 6,7,29 và
73 dới 30.00 sản phẩm đối với mặt hàng (cat) 15 và dới 30 tấn đối với cat
78 và 83 không bắt buộc phải ký hạn ngạch CN
Đó là những chính sách mà chính phủ ta đề ra để thúc đẩy xuất
khẩu do đó hiện nay dệt may chiếm vị trí quan trọng và chiếm khoảng
15% kim ngạch xuất nhập khẩu và là một trong 10 mặt hàng chủ lực có
nhiều tiềm năng có giá trị xuất khẩu cao cụ thể chiếm 60-70% giá trị xuất
khẩu CN. Hàng dệ may là nhóm mặt hàng có tốc độ tăng trởng nhanh thứ 2
3
so với các hàng xuất khẩu khác. Năm 1999 tăng hơn 7 lần so với năm 1993
tỷ trọng hàng dệt may chiếm 72% tổng giá trị xuất khẩu hàng CN nhẹ, và
tiểu thủ công nghiệp (năm 1993 chỉ có 50%) sản phẩm dệt may của ta đã
xuất sang 46 nớc trong đó có EU chiếm 50% hiện nay nớc ta có trên 300
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng dệt may thu hút ngót 400 ngàn lao
động với hơn 60 ngàn đơn vị máy mà đốii với một số mặt hàng dệt may
thông dụng nh Sơ mi, Jacket, quần...
Nhng điều dễ thấy nhất là nhà xuất khẩu có thể tự do xuất khẩu
những mặt hàng Việt Nam có năng lực sản xuất và có khả năng cạnh tranh,
không bị giới hạn về số lợng theo các hiệp định thơng mại song phơng.
Từ năm 1993 với hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam-EU (đ-
ợc ký ngày 15/12/1992) EU đã trở thành một trong những thị trờng xuất
khẩu hàng dệt may lớn nhất.
Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 250 triệu USD năm 1993
tăng lên 450 triệu USD năm 1997 chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
- Kiểmm soát nhập khẩu: thuế, giấy phép
- Điều tiết hành vi kinh doanh quốc tế.
5