ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI HẾT MÔN
MÔN: QUẢN LÝ KINH TẾ
*Lưu ý: Qua trao đổi với Thầy Nguyễn Văn Dũng, Thầy nhắc lớp là đối với các câu hỏi thuộc
chuyên đề của Thầy thi lưu ý như sau:
- Trước khi nêu phần giải pháp đối với một vấn đề nào đó (theo yêu cầu của đề thi) thì phải
nêu phần thực trạng (thành tựu và hạn chế). Trong đó, cần tập trung nêu phần hạn chế, còn
phần thành tựu thì chỉ nêu ngắn gọn.
- Khi trình bày thực trạng cả nước (chủ yếu dựa vào Báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ
năm 2014) thì lồng ghép vào thực trạng của tỉnh (chủ yếu dựa vào Báo cáo kinh tế - xã hội của
tỉnh năm 2014). Phần thực trạng của tỉnh được xem như là phần liên hệ thực tiễn.
STT Nội dung câu hỏi Trang
1 Xác định các thách thức đặt ra trong quản lý tài chính
công ở Việt Nam hiện nay? Các giải pháp cải cách
quản lý tài chính công trong thời gian tới.
2 - 7
2 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở
Việt Nam, giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ quản lý kinh tế trong tình hình mới.
8 - 11
3 Trình bày các nội dung chủ yếu của hệ thống các mục
tiêu kinh tế vĩ mô, phân tích mối quan hệ giữa các mục
tiêu kinh tế vĩ mô. Liên hệ thực tiễn, hiện mục tiêu kinh
tế vĩ mô nào được ưu tiên trong phát triển kinh tế-xã
hội tại địa phương?
12 – 18
4 Trình bày vai trò, chức năng QLNN về kinh tế. Liên hệ
thực tiễn ? (cả nước và địa phương - Khái quát những
thành công, hạn chế và đề ra giải pháp để hoàn thiện,
thực hiện các chức năng của QLNN KT trong nền
KTTT đ/hướng XHCN Việt Nam hiện nay)
19 - 28
tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chứa năng vốn có của nhà nước đối với xã hội.
Quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát các
hoạt động thu và chi của nhà nước nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước.
Hiệu quả của quản lý tài chính công vừa phản ảnh năng lực của bộ máy nhà nước, vừa có
tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của các cơ quan trong bộ máy quản lý.
2.2. Nêu quá trình quản lý tài chính công ở Việt Nam:
Cải cách hệ thống thuế góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo môi
trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần, thúc đầy kinh tế tăng trưởng nhanh trong
những năm qua.
Cải cách tổ chức bộ máy quản lý tài chính công với các bộ phận chức năng ngày càng
phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Ban hành và sửa đổi luật Ngân sách nhà nước như: Mở rộng quyền hạn, trách nhiệm
của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định, phân bổ và phê chuẩn
quyết toán ngân sách; đổi mới phân cấp quản lý tài chính – ngân sách dựa trên cơ sở sự thống
nhất của hệ thống tài chính quốc gia; tăng cường phân cấp quản lý chi tiêu công nhiều hơn cho
các bộ ngành và địa phương; cải thiện tính minh bạch trong quản lý chi tiêu công; thực hiện
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính từ năm 2000; tin quản lý tài chính, thực hiện
công khai, minh bạch tài chính ngân sách phù hợp với thông lệ quốc tế.
2.3. Nêu bối cảnh kinh tế - tài chính và tác động tới quản lý tài chính công ở Việt Nam
Bối cảnh kinh tế - tài chính thế giới: Trong hai thập kỷ qua, tình hình kinh tế - tài chính
thế giới có nhiều biến động với những bước phát triển to lớn, song cũng gánh chịu các thất bại
nặng nề, đặc biệt là 2 cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á (bắt đầu từ tháng 7-1997),
2
khủng hoảng tài chính – tiền tệ thế giới năm 2008 và khủng hoảng nợ công đã ảnh hưởng rộng
lớn và sâu sắc trên phạm vi toàn cầu.
Bối cảnh kinh tế - tài chính ở Việt Nam:
Giai đoạn tăng trưởng cao (1991 – 1996), Chính phủ thực hiện một loạt chính sách
chuyển từ cơ chế chỉ huy tập trung sang phát triển theo hướng kinh tế thị trường, làm cho nền
kinh tế khởi sắc, đạt tốc độ tăng trưởng cao.
đến các kết quả đầu ra.
Quản lý ngân sách hiện nay dựa trên phương thức lập ngân sách theo các khoản mục đầu
vào, không chú trọng đến các kết quả đầu ra gắn với mục tiêu chiến lược ưu tiên.
3
Thách thức trong chuyển sang quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra gặp phải lực cản rất
lớn về tư duy và cách làm trong quản lý ngân sách hiện nay.
2.4.5. Thách thức về tầm nhìn trong lập và chấp hành ngân sách
Ngân sách thường được lập và chấp hành trong thời hạn một năm, đó là khung thời gian
quá ngắn để đạt mục tiêu đề ra.
Việc chấp hành ngân sách phải đảm bảo chi tiêu hết kinh phí được giao nên đôi lúc chi
tiêu mang tính vội vàng, không quan tâm đến hiệu quả chi tiêu.
2.4.6. Thách thức trong đảm bảo cân đối ngân sách và giảm nợ công
Ở Việt nam thâm hụt ngân sách chủ yếu được bù đắp từ các nguồn vốn vay trong và
ngoài nước hình thành nên nợ công. Thâm hụt ngân sách cao là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
sự gia tăng nợ công.
Trong điều bối cảnh kinh tế phát triển chưa ổn định, nhu cầu chi tiêu ngày một lớn,
nguồn thu lại chậm cải thiện thách thức về giảm bội chi ngân sách và nợ công ngày càng trở
nên nghiêm trọng.
2.4.7. Thách thức trước đòi hỏi gia tăng hỗ trợ người nghèo
Chi tiêu công tập trung vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo thông qua các chương trình mục
tiêu quốc gia ngày tăng lên nhanh chóng. Nhưng, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững,
số hộ nghèo còn cao.
Chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo còn nhiều bất cập: nguồn lực đến đối tượng không trọn
vẹn; một số khoản chi hiệu quả không cao; nguồn vốn bị phân tán.
2.4.8. Thách thức trong mua sắm và sử dụng tài sản công
Tình trạng mua sắm tài sản công còn lãng phí: vượt tiêu chuẩn, định mức; việc đấu thầu,
thẩm định mang tính hình thức, không đúng quy định.
Sử dụng tài sản công kém hiệu quả, nhiều tài sản công sử dụng không hết công suất, sử
dụng sai mục đích.
Thiếu sự ghi chép, đánh giá giá trị và tổng kết tài sản, không theo dõi sự biến động, số
Mở rộng công khai, minh bạch tài chính đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà
nước. Khắc phục việc công khai một cách hình thức, cần có lý giải cụ thể nhiệm vụ chi tiêu,
mức độ đạt được mục tiêu có dữ liệu so sánh, đối chiếu, vá xác định hiệu quả.
*Giải pháp thứ ba: Tăng cường quản lý nợ công
Có kế hoạch tổng thể về huy động vốn của Chính phủ được xây dựng cho từng giai đoạn,
phân định theo từng năm, chi tiết từng loại thời hạn gắn với huy động vốn và được công bố
rộng rãi.
Xác định mức vay nợ nước ngoài để định hướng việc huy động vốn nước ngoài không vượt
quá giới hạn an toàn cho phép. Cần lựa chọn những lĩnh vực phù hợp để vận động ODA nhằm tạo
sự lan tỏa của các chương trình, dự án ODA.
Xác định rõ và công bố công khai các mục tiêu về quản lý nợ, các biện pháp quản lý chi
phí, rủi ro. Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong quản lý nợ công.
Thực hiện công khai minh bạch các thông tin về nợ để chủ động phân tích, đánh giá và
phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra.
Bảo đảm vay và sử dụng có hiệu quả vốn vay. Tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm toán
việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay.
*Giải pháp thứ tư: Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách
Việc phân cấp phải được nghiên cứu và tiến hành thận trọng, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng,
đảm bảo tính hiệu quả và ổn định trong quản lý ngân sách, tạo cơ sở cho thành công cải cách
tài chính.
Thực hiện phân tách rõ ràng giữa các cấp ngân sách, hướng đến xây dựng một hệ thống
ngân sách thật đầy đủ và chính quyền địa phương có sự tự chủ nhiều hơn về ngân sách cấp
mình.
5
Cho phép chính chính quyền địa phương tự chủ ở một mức độ thích hợp trong việc ra các
quyết định chi tiêu theo thứ tự ưu tiên của địa phương, nhưng phải phù hợp với chiến lược và
mục tiêu phát triển quốc gia.
Đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách gắn với việc tăng cường tính minh bạch và trách
nhiệm giải trình về tài chính ở địa phương. Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm
đảm bảo nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý.
việc đạt được các mục tiêu đề ra.
Xây dựng một ngân sách thống nhất, bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên, từ
nguồn lực của Chính phủ, của khu vực tư nhân và của các nhà tài trợ.
Chú trọng đến hiệu quả hoạt động của các ngành, các địa phương và hiệu quả sử dụng
tổng nguồn lực.
Đưa ra một tầm nhìn trung hạn để các bộ ngành và địa phương có thể lập kế hoạch cho
thời kỳ trung hạn đó.
6
*Giải pháp thứ tám: Bảo toàn và phát triển tài sản công
Xây dựng quy chế quản lý, sử dụng tài sản công, khoán mua sắm những tài sản công có
thể và sử dụng theo định mức.
Tăng cường tính công khai minh bạch trong mua sắm tài sản công. Gắn việc mua sắm tài
sản công với kết quả đầu ra trong sử dụng tài sản công đó.
Phân cấp QL đi đôi với kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLTSC.
Thực hiện nghiêm chế độ theo dõi, ghi chép biến động, đánh giá, báo cáo tài sản công.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.
Tăng cường kiểm tra, giám sát trong mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công; xử lý
nghiêm vi phạm. Qui trách nhiệm cá nhân về thất thoát, lãng phí, đặc biệt là trách nhiệm
người đứng đầu.
3. Kết luận: Cá nhân tự viết.
Câu 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở Việt Nam, giải pháp cơ
bản nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong tình hình mới.
Bài làm
1. Mở bài:
(Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc.
Trọng điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, vai trò của cán bộ
ngày càng được nâng cao, đặc biệt là cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế.)
2. Thân bài:
Khái niệm: Cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế là tất cả các cá nhân thực hiện những
chức năng quản lý nhất định trong bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế của quốc gia.
kỹ thuật và quản lý cần thiết cho công việc, đặc biệt là quản lý, thể hiện được khả năng vận
dụng hiểu biết lý luận vào thực tiễn, biến lý luận thành hành động thực tiễn.
Nội dung cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm:
Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ; Quy hoạch cán bộ; Bầu cử, tuyển dụng và bổ nhiệm
cán bộ; Đánh giá cán bộ; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Thực hiện chính sách đối với cán bộ.
Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế
(Lưu ý: Trong phần này, các đồng chí nêu thêm thực tế ở địa phương, cố gắng có
liên quan đến phần giải pháp phía dưới, như vậy bài làm logic hơn.)
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện qua các nội dung của công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ từ xây dựng tiêu chuẩn, chức danh đến thực hiện chính sách đối với
cán bộ. Cụ thể như sau:
1. Về chuẩn chức danh: đã được định hình theo ba nhóm (cán bộ, công chức, viên chức) với
các chức danh cụ thể. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa bao quát, mới tiến hành ở một
số cấp, khâu. Trong nhiều đơn vị chưa phân định rõ nhóm cán bộ (cán bộ, công chức, viên
chức), đặc biệt là trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Phần lớn các tiêu chuẩn đối với cán bộ
còn chung chung, nặng về tiêu chí định tính, rất khó đánh giá, khó xác định.
2. Về quy hoạch: Công tác quy hoạch cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế mới được triển khai
thực hiện từ khi có nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII và đặc là nghị quyết số 42-
NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị, đến nay công tác này được tiến hành trong hệ
thống bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế trên cả nước. Tuy nhiên, còn hạn chế trong nhận
thức về công tác quy hoạch, quy hoạch còn mang tính hình thức, chiếu lệ, không phát huy tác
dụng của công cụ này. Ở cấp cao, quy hoạch cán bộ mới được triển khai từ khi có chủ trương
của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.
3. Công tác đánh giá: được duy trì và thực hiện hàng năm (chủ yếu là tự phê bình và phê
bình, theo tiêu chí thi đua). Tuy nhiên, Trong công tác đánh giá cán bộ, tình trạng nể nang,
“Dĩ hòa vi quý” vẫn còn tồn tại; tiêu chí đánh giá chưa rõ ràng, phương pháp còn nặng tính
chủ quan, cảm tính.
4. Tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ: từng bước thực hiện theo quy định của pháp luật; tổ
chức công khai, dân chủ; việc bổ nhiệm, bố trí và sử dụng cán bộ dần đi vào nề nếp. Tuy
nhiên, việc tuyển dụng còn thiếu khách quan, thậm chí trá hình, vi phạm pháp luật. Ở một số
bạch, khách quan, toàn diện, công tâm; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm
thước đo chính; coi trọng và phát huy trách nhiệm của người đứng đầu, người trực tiếp quản
lý, sử dụng cán bộ trong các cơ quan, tổ chức đơn vị kinh tế.
4. Hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ theo hướng nâng cao chất lượng, chủ động, có tầm
nhìn xa, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Triển khai quy hoạch đồng ở các cấp, khâu;
tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành, địa phương trong công tác quy hoạch.
5. Đổi mới tuyển dụng, bố trí sử dụng cán bộ đảm bảo đúng người, đúng việc. Việc tuyển
dụng và bố trí sử dụng cán bộ cần gắn với cơ chế trách nhiệm cao, trách nhiệm của người
đứng đầu.
6. Tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu
chuẩn chứa danh cán bộ. Chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo phù hợp, thiết
thực, gắn với thực tiễn.
7. Cải cách hệ thống chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế: chế độ
tiền lương, thu nhập, chế độ nhà ở công vụ, …. Đảm bảo đồng bộ, thống nhất, công bằng. Cải
9
cách công tác thi đua, khen thưởng để tạo động lực thúc đẩy phong trao thi đua yêu nước một
cách thực chất, tránh hình thức, lãng phí.
8. Đổi mới công tác quản lý cán bộ: nội dung, phương thức quản lý, tăng cường kiểm tra,
kiểm soát, nâng cao trình độ của cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế ở tất cả các cấp, ngành, tổ
chức kinh tế.
3. Kết luận
(Tóm lại, trong điều kiện phát triển đất nước hiện nay, với việc coi phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH, thì cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế càng có
vai trò, vị trí quan trọng nhưng cũng gánh chịu nhiều trách nhiệm nặng nề, Đây là bộ phận cán
bộ thuộc những ngành, lĩnh vực gắn với lợi ích vật chất, nắm giữ và quản lý khối tài sản lớn
của quốc gia, rất dễ phát sinh, tiêu cực, tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Do đó, việc xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế vững mạnh là một trong những vấn đề “hệ
trọng” của quốc gia.)
10
của quốc gia.
Hai là, quản lý kinh tế vĩ mô góp phần phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Ba là, quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.
Bốn là, quản lý kinh tế vĩ mô còn thống nhất sức mạnh quốc gia, tạo dựng năng lực cạnh
tranh của quốc gia trên thị trường thế giới.
2.2. Về nội dung hệ thống các mục tiêu KTVM
Hệ thống các mục tiêu KTVM là thước đo phản ánh lợi ích chung của quốc gia và trạng
thái của nền kinh tế quốc gia mà chủ thể quản lý KTVM (nhà nước) mong muốn đạt tới sau
một thời gian dự kiến trên cơ sở đánh giá, phân tích các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnh
hưởng đến nền kinh tế. Bao gồm các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu sau đây:
11
Một là, mục tiêu giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
Mục tiêu này là nhằm nổ lực tạo ra nhiều việc làm hơn nữa để giảm đến mức thấp nhất số
người thất nghiệp, hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế bằng cách sử
dụng với hiệu quả cao nhất nguồn lực lao động của quốc gia.
Thực tế cho thấy lực lượng lao động của quốc gia là nguồn lực quan trọng đóng góp phần
lớn vào tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế quốc gia. Việc giải quyết việc làm cho lực
lượng lao động có ý nghĩa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa tạo điều kiện công bằng trong
tiếp cận nguồn lực của mọi người dân có khả năng và nhu cầu lao động, đồng thời góp phần
ổn định xã hội và cho phép một quốc gia có khả năng tiến tới mức sản lượng lớn nhất có thể
có (sản lượng tiềm năng) của nền kinh tế.
Các chỉ tiêu đo lường cho mục tiêu này như: Tỷ lệ thất nghiệp (là tỷ lệ phần trăm giữa số
người thất nghiệp và lực lượng lao động xã hội ở thời điểm tính toán); số lượng việc làm mới
mà nền kinh tế đã tạo ra trong một thời kỳ kế hoạch; và một số chỉ tiêu khác nhu: Tỷ lệ thất
nghiệp theo lứa tuổi, tỷ lệ thất nghiệp theo giới, theo ngành nghề, tỷ lệ thất nghiệp do cơ cấu
lại nền kinh tế, số người làm việc không theo đúng chuyên môn đào tạo
Mục tiêu giải quyết việc làm được xác định căn cứ vào nhu cầu việc làm tăng thêm của
lực lượng lao động và nhu cầu sử dụng lao động của các khu vực kinh tế do đầu tư và sản xuất
gia tăng.
Hai là, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức vừa phải
1 đơn vị đồng nội tệ
Ý nghĩa kinh tế của tỷ giá hối đoái nhằm so sánh sức mua giữa các đồng tiền, đóng vai
trò kích thích và điều chỉnh xuất nhập khẩu đồng thời điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh
tế đối ngoại; ngoài ra, tỷ giá còn là công cụ sử dụng trong cạnh tranh thương mại, giành giật
thị trường tiêu thụ hàng hóa, khai thác nguyên liệu của nước khác với giá rẻ.
Cùng với mục tiêu khống chế, kiểm soát lạm phát, việc duy trì và ổn định tỷ giá hối đoái
thực tế trên thị trường còn là yếu tố quan trọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ
phát triển kinh tế quốc gia.
Các biện pháp chủ yếu thường dùng để điều chỉnh TGHĐ là: Chính sách chiết khấu,
chính sách hối đoái, lập quỹ bình ổn hối đoái, vay nợ và phá giá hay nâng giá tiền tệ để điều
chỉnh tỷ giá hối đoái.
Bốn là, mục tiêu cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế được hiểu một cách khái quát là cân bằng tích cực
giữa thu và chi ngoại tệ của cả nền kinh tế phù hợp với xu hướng phát triển tích cực của nền
kinh tế quốc gia, bao gồm hai bộ phận:
Thứ nhất, cán cân vãng lai bao gồm các khoản mục phải cân đối như: cán cân thương
mại, cán cân dịch vụ, thu nhập đầu tư ròng, chuyển nhượng hiện hành…
Thứ hai, cán cân vốn và tài chính bao gồm các bộ phận: Chuyển nhượng vốn, Đầu tư trực
tiếp, Đầu tư vào giấy tờ có giá, Đầu tư khác, tín dụng ngắn hạn, thay đổi tài sản có nước ngoài
ròng của hệ thống ngân hàng…
Trong điều kiện kinh tế mở, mục tiêu cân bằng cán cân thanh toán quốc tế rất qua trọng,
nó phản ánh năng lực cạnh tranh, tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, quy mô và mức độ mở
cửa, hội nhập và khả năng hấp thụ, tiếp nhận các hoạt động trao đổi hàng hóa và đầu tư với
nước ngoài của nền KT.
Trong quản lý kinh tế vĩ mô, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế có tác động tích cực tới
các hoạt động kinh tế trong nước, tránh cho nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng bất lợi
như phụ thuộc quá lớn vào nước ngoài, vỡ nợ, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, và làm cơ sở
thiết lập các chính sách tiền tệ, thương mại và ngân sách
Để duy trì tình trạng cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, Nhà nước thường thi hành các
chính sách như: Khuyến khích xuất khẩu; khuyến khích đầu tư nước ngoài; kiểm soát nhập
quốc gia này có thể thu hẹp khoảng cách lạc hậu với các nước phát triển. Bên cạnh đó, tăng
trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế không những phải ở mức
cao nhất có thể đạt được mà còn phải bảo đảm sự ổn định của quá trình tăng trưởng, tức là tốc
độ tăng trưởng phải ổn định liên tục trong một thời kỳ dài, đồng thời bảo đảm sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực sản xuất, bảo vệ môi trường, tái tạo được các nguồn lực tự nhiên đi đôi với
chi phí thỏa đáng cho thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
Các chỉ tiêu đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sản
phẩm quốc nội (GDP), mức GDP bình quân tính trên đầu người; tốc độ tăng trưởng của các
ngành sx chính.
Đối với các chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển bền vững, việc đo lường các chỉ tiêu trên
được đặt trong mqh với các chỉ tiêu đo lường mức độ công bằng, tiến bộ xh và bảo vệ môi
trường.
Ngoài ra, việc đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế được
xem xét thông qua chỉ tiêu năng suất tổng hợp của các yếu tố đầu vào (TFP), hệ số gia tăng tư
bản – đầu tư (ICOR), đây là 2 chỉ tiêu quan trọng và các chỉ tiêu khác như: tốc độ đổi mới
công nghệ, mức độ ô nhiễm môi trường,…
14
2.3. Phân tích mối quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Về tổng thể, các mục tiêu kinh tế vĩ mô phản ánh mong muốn của Nhà nước muốn nền
kinh tế quốc gia đạt được trong một thời kỳ nhất định. Các mục tiêu này và các chỉ số đo
lường chúng hợp thành một hệ thống thống nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau, chế định lẫn
nhau, thậm chí có thể đánh đổi cho nhau (ví dụ mục tiêu công bằng và hiệu quả, mục tiêu
kiểm soát lạm phát và giải quyết việc làm…). Trong kinh tế vĩ mô, điều cần chú ý là xác định
thứ tự ưu tiên của các mục tiêu cần đạt được phù hợp với đk cụ thể trong từng gđ phát triển
đất nước. Trên cơ sở đó, Nhà nước xây dựng các chiến lược phát triển kt-xh nhằm sử dụng tốt
nhất nguồn lực của đất nước để hoàn thành các mục tiêu đề ra.
Một ví dụ tiêu biểu là mqh giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng,
tiến bộ xh, hai mục tiêu này, vừa có mqh thống nhất vừa mâu thuẫn nhau, cụ thể:
Đối với mặt thống nhất,
Trước tiên, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cơ bản và tiên quyết tạo ra của cải vật chất
Như vậy, điều kiện đủ để thực hiện được công bằng xã hội là phải có sự điều tiết của Nhà
nước và sự tham gia của cộng đồng dân cư. Trong đó, điều tiết của Nhà nước được thực hiện
bằng cách phân phối lại thu nhập thông qua 3 công cụ: Chính sách thuế; trợ cấp chính phủ:
tăng thu nhập người nghèo bằng những phương thức thích hợp và phúc lợi xã hội.
Hai là, nếu tập trung vào giải quyết công bằng xã hội thái quá - thiên về đảm bảo phúc
lợi xã hội thì sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn để có ngân sách cho đảm bảo phúc
lợi xã hội thì phải tăng sự điều tiết của Nhà nước và của dân cư.
- Điều tiết của Nhà nước: thuế cao sẽ làm giảm đầu tư, mất động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
- Điều tiết của cộng đồng dân cư: thông qua các phong trào đền ơn đáp nghĩa, quỹ cộng
đồng. Nếu huy động quá mức sức dân cũng ảnh hưởng đến đầu tư cho tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, sự điều tiết của Nhà nước và của dân cư phải luôn quan tâm thoả đáng đến cả 2
mục tiêu: tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Trong điều kiện nước ta hiện nay phải coi
tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết để thực hiện công bằng xã hội.
2.4. Liên hệ thực tiễn
{Các bạn liên hệ thực tiễn theo nội dung mục 3 bài 2 trong giáo trình hoặc theo Báo
cáo tình hình KT-XH An Giang 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015 hoặc kết hợp cả hai}
3. Kết luận
16
Câu 4: Trình bày vai trò, chức năng QLNN về kinh tế. Liên hệ thực tiễn ? (cả nước và
địa phương - Khái quát những thành công, hạn chế và đề ra giải pháp để hoàn thiện,
thực hiện các chức năng của QLNN KT trong nền KTTT đ/hướng XHCN Việt Nam
hiện nay)
Bài làm
1. Mở bài (tự làm)
2. Thân bài
Khái niệm QLNN về KT
Để thực thi quyền lực, nhà nước phải tiến hành quản lý mọi lãnh vực của đời sống xã hội,
trong đó có lĩnh vực quản lý kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân.
QLNN về KT là sự tác động và điều khiển có mục đích của các chủ thể quản lý (các cơ
nước phải thực hiện để đạt mục tiêu đã đề ra, trả lời câu hỏi: Nhà nước phải làm những gì?
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa do bản chất của Nhà nước, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và do
tình hình kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử quy định. Trong những điều kiện cụ thể,
do mục tiêu và những điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì vai trò và thứ tự ưu tiên của các
chức năng có thể có sự thay đổi nhất định, tuy nhiên tên gọi của các chức năng ít thay đổi.
* Những chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể khái quát thành 5 chức năng quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay như sau:
tạo môi trường thuận lợi cho toàn bộ nền kinh tế thị trường hoạt động; định hướng và hướng dẫn
sự phát triển của nền kinh tế; tổ chức và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; điều tiết nền
kinh tế; kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hoạt động của các chủ thể kinh tế. Tùy theo yêu cầu
phục vụ nhiệm vụ chính trị và kinh tế - xã hội của từng giai đoạn mà việc sắp xếp thứ tự ưu tiên
và nội dung cụ thể của các các chức năng có thể thay đổi.
1. Tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế hoạt động
Các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế chỉ có thể hoạt động tốt khi có môi trường
thuận lợi. Bằng quyền lực và sức mạnh kinh tế của mình, Nhà nước có trách nhiệm chính
trong việc xây dựng và bảo đảm môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh, đồng thời còn bảo đảm môi trường phù hợp cho chính cơ chế mới đang hình thành,
phát triển và phát huy tác dụng. Nhà nước cần tạo lập nhiều loại môi trường, trong đó có các
môi trường chính sau đây:
Một là, xây dựng môi trường chính trị ổn định, thật sự phát huy các nguồn lực và sức
sáng tạo của nhân dân của các doanh nghiệp.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế vận động và phát triển
thuận lợi.
Ba là, xây dựng môi trường văn hóa xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường, xã hội
ngày càng tôn trọng và tôn vinh nghề kinh doanh và người kinh doanh.
Bốn là, bảo đảm môi trường an ninh trật tự, kỷ luật, kỷ cương, mọi cá nhân và tổ chức
đều phải tuân thủ pháp luật.
Năm là, xây dựng và hoàn thiện môi trường thông tin.
Trong khi điều hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước vừa phải tuân
thủ và vận dụng các quy luật khách quan của thị trường, phát huy mặt tích cực, hạn chế những
tiêu cực của thị trường, vừa điều tiết sự hoạt động của thị trường theo định hướng của Nhà
nước, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định, công bằng và có hiệu quả. Để điều tiết, Nhà
nước phải sử dụng các chính sách, các công cụ như: tài chính, tiền tệ, thuế, tín dụng, lãi
suất ,các nguồn lực mạnh để điều tiết nền kinh tế thị trường.
5. Kiểm tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm của các chủ thể tham gia thị trường
Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm nhằm thiết lập trật
tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp
luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân, góp phần tăng
trưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mới phát triển, thậm chí còn sơ khai như ở nước
ta: tình trạng rối loạn, tự phát, vô tổ chức và các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến, có nơi,
có lúc rất trầm trọng và phức tạp, càng cần phải đề cao chức năng của Nhà nước kiểm tra,
kiểm soát, xử lý vi phạm đối với các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, đồng thời cũng kiểm
tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của chính các cơ quan và các cán bộ, công chức quản lý kinh tế
của Nhà nước.
19
Liên hệ thực tiễn ở nước ta:
Những thành công của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, môi trường
thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển.
Thứ hai, đã phát huy vai trò tích cực của các chủ thể kinh tế.
Thứ ba, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa đã
hình thành, phát huy tác dụng.
Thứ tư, hệ thống thị trường ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Những hạn chế, yếu kém của quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Có thể khẳng định mọi thành công của nền kinh tế đều là kết quả lãnh đạo đúng đắn của
khách quan như: nước ta đang trong quá trình đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.94
20
hướng xã hội chủ nghĩa là công việc mới mẻ, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, nhưng chủ
yếu do các nguyên nhân chủ quan. Đại hội XI của Đảng đã nêu các nguyên nhân hạn chế, yếu
kém sau đây:
- Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới;
- Bệnh thành tích còn nặng;
- Hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, thực thi chưa nghiêm;
- Quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém;
- Tổ chức bộ máy cồng kềnh, một bộ phận cán bộ, công chức yếu cả về năng lực và phẩm
chất;
- Tổ chức thực hiện kém hiệu quả;
- Chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những khâu đột phá, then chốt
và những vấn đề xã hội bức xúc;
- Quyền làm chủ của nhân dân chưa được phát huy đầy đủ;
- Kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm;
- Tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi
2
.
Giải pháp hoàn thiện và thực hiện tốt các chức năng QLNN về KT
1. Nhận thức lại các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, thực hiện tốt việc phân
công, phân cấp trong thực hiện các chức năng
2. Xử lý tốt mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng với quản lý nhà nước về kinh tế,
giữa quản lý của nhà nước với quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
3. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước về kinh tế. Thể
hiện trên hai nội dung chủ yếu sau đây:
Nâng cao hiệu lực quản lý thống nhất của Nhà nước trung ương đi đôi với phân cấp quản
lý cho chính quyền địa phương.
tiếp tục vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế cần làm tốt
những nội dung chủ yếu sau:
Một là tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt phù hợp với diễn biến
kinh tế vĩ mô nhằm vừa bảo đảm thanh khoản, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển, vừa giữ ổn định vĩ mô. Tích cực xử lý nợ xấu trên cơ sở phân loại
nợ của các doanh nghiệp, nhất là nợ của doanh nghiệp Nhà nước. Tháo gỡ kịp thời những
vướng mắc đang tồn tại trong khâu cung ứng vốn nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho doanh
nghiệp tiếp cận vốn phát triển sản xuất kinh doanh.
Hai là nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đây là một trong các nhân tố quan
trọng quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh năm 2015 nước ta
là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN và thực hiện các hiệp định mới được ký. Các
doanh nghiệp cần nâng cao thương hiệu sản phẩm; xây dựng năng lực tài chính đáp ứng yêu
cầu phát triển sản xuất quy mô lớn. Ngoài ra, phải giải quyết kịp thời và hiệu quả những bất
cập về thủ tục hành chính trong môi trường đầu tư, kinh doanh.
Ba là, nâng cao năng suất lao động, phương thức quan trọng nhất để nâng cao năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế. Chính phủ có chính sách tăng cường đầu tư quy trình sản xuất
trang thiết bị hiện đại cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế; tập trung đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ và kiến thức cao trong xu thế hội nhập ngày càng sâu, tạo sự phù
hợp hơn giữa kỹ năng sản xuất và yêu cầu công việc. Đổi mới thể chế kinh tế nhằm tăng năng
suất các nhân tố tổng hợp (TFP), trong đó tập trung khuyến khích khu vực doanh nghiệp nâng
cao khả năng xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh cũng như năng lực quản trị. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp phải tập trung đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (RD), chủ động
tiếp thu và ứng dụng tri thức mới, đồng thời tăng khả năng sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.
Các Bộ, ngành, lĩnh vực và địa phương cần tăng tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý điều
hành.
Bốn là, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa theo hướng đa dạng. Đẩy nhanh tốc
độ chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm qua chế biến,
giảm dần tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp để đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế ngày càng sâu. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng phụ trợ, tạo liên kết
giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đáp ứng nguyên liệu phụ trợ và hạn chế nhập khẩu
Hội đồng nhân dân tỉnh, đã thực hiện đạt và vượt 16 chỉ tiêu (chiếm 66,7% tổng chỉ tiêu), còn
lại 08 chỉ tiêu không đạt nghị quyết đề ra, chủ yếu là các chỉ tiêu về kinh tế, cụ thể: tăng
trưởng GDP chỉ đạt 5,1%, GDP bình quân đầu người chỉ đạt 29 triệu đồng/năm, kim ngạch
xuất khẩu chưa đạt kế hoạch đề ra, nhập siêu, thu ngân sách nhà nước không đạt dự toán
UBND tỉnh giao
Kinh tế thế giới phục hồi và tiếp tục tăng trưởng tích cực hơn năm 2014, đây là điều kiện
để các doanh nghiệp trong tỉnh đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và tìm kiếm thị trường mới.
Các chính sách về cánh đồng lớn và tái cơ cấu kinh tế, các chính sách về ứng dụng công nghệ
cao sẽ tạo điều kiện để tỉnh ta phát triển trong năm 2015 và những năm tiếp theo.
hai mặt hàng chủ lực của tỉnh là lúa và cá vẫn chưa thể sớm phục hồi trong thời gian
trước mắt, những tồn tại trong sản xuất nông nghiệp Chính phủ chưa có giải pháp căn cơ để
tháo gỡ để mang lại lợi ích lâu dài cho nông dân; các chính sách cho nông nghiệp chưa đủ
mạnh để giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này (lĩnh vực chịu nhiều tác
động của thiên nhiên và thị trường thế giới); bảo hộ thương mại đang có xu hướng ngày càng
gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Chất lượng nguồn lao động chưa đáp ứng nhu cầu phát triển
của tỉnh; các công trình giao thông của chính phủ mới xây dựng chưa phát huy tác dụng trong
thời gian ngắn; hạ tầng giao thông tuy được quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung còn thiếu đồng
bộ sẽ ảnh hưởng đến việc kêu gọi đầu tư của tỉnh; Chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà
nước còn rời rạc, bị cắt khúc và thiếu đồng bộ; chậm hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Giải pháp
- Từng bước triển khai có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; Tăng cường
mời gọi đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp ưu tiên các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao
23
động địa phương thông qua các kênh xúc tiến thương mại - đầu tư, các ấn phẩm nhanh chóng
giao mặt bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai dự án; rà soát, nâng cao
hiệu quả các khu, cụm công nghiệp, bảo đảm an toàn, an ninh cho các doanh nghiệp hoạt
động; Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các công trình khu, cụm công nghiệp
gắn với lợi thế vùng kinh tế trọng điểm nhất là tạo sự gắn kết với thành phố Cần Thơ, phát
huy tối đa lợi thế khu vực biên giới và thuận lợi giao thông thủy bộ.
- Thường xuyên kiểm tra tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm. Tạo
Câu 5: Trình bày khái quát bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế. Phương hướng, giải
pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống BMQLNN về KT ở nước ta.
Bài làm
1. Mở bài: Các đ/c tự làm
2. Thân bài:
24
• K/n: BMQLNN về KT là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu tổ chức quyền lực
NN, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan hệ, ràng buộc và phụ thuộc lẫn
nhau, được bố trí thành cấp và khâu để thực hiện chức năng nhất định của QLNN về KT nhằm
đạt mục tiêu đã đặt ra. Trong k/n này chúng ta cần hiểu rõ:
- Chỉnh thể các bộ phận hợp thành bộ máy: Số lượng các bộ phận của BMQL vừa đủ,
không thừa, không thiếu xét theo cả quan hệ dọc và quan hệ ngang.
• Chức năng quản lý là những hoạt động tất yếu nảy sinh và là kết quả của phân công
lao động trong quá trình quản lý, được xác định cho từng bộ phận của BMQL nói chung,
BMQLNN về KT nói riêng. Chức năng của BMQL nói chung là nhiệm vụ cơ bản, xuyên suốt
vốn có của một tổ chức, một đơn vị mà từ đó bộ máy quản lý được hình thành, hiện hữu và
vận động vì tổ chức, vì đơn vị đó. . chức năng của BMQLNN về KT cũng vậy.
Vấn đề quan trọng là chỉ ra chức năng khách quan, vốn có và xác định các chức năng đó
cho bộ phận nào của BMQLNN về KT.
Các quyền hạn, nhiệm vụ được xác định tương ứng cho từng bộ phận trong bộ máy quản
lý nhà nước về kinh tế.
Quyền hạn luôn gắn với mỗi chủ thể nhất định, có thể theo cấp, có thể theo khâu của bộ
máy quản lý nhà nước về kinh tế.
Quyền hạn của chủ thể quản lý là hệ thống các quy phạm pháp luật về hành vi tạo khả
năng thực hiện các chức năng, các nhiệm vụ quản lý đã được xác định.
Quyền hạn của chủ thể quản lý có liên quan chặt chẽ với trách nhiệm thực hiện các
nhiệm vụ quản lý được giao. Quyền hạn lớn mà trách nhiệm nhỏ dễ tạo khả năng cho bệnh
độc đoán hành chính, duy ý chí, chủ quan và những quyết định quản lý thiếu thận trọng.
Ngược lại, nhiệm vụ to lớn với trách nhiệm nặng nề, quan trọng mà quyền hạn nhỏ sẽ ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động của bộ máy quản lý.