LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài luận văn: “Phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty
cổ phần chứng khoán An Bình” là kết quả sau một thời gian tự nghiên cứu, phân
tích đánh giá của bản thân. Các số liệu đều có nguồn trích dẫn cụ thể, dựa trên các
tạp chí chuyên ngành, được cung cấp từ các phòng ban của Công ty Cổ phần Chứng
khoán An Bình”.
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2011
Học viên thực hiện
Vũ Hải Linh
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Cô giáo PGS.TS. Phan Tố Uyên đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi luận văn được
hoàn thành. Đồng thời, em gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa
học Khoa Thương mại và Kinh tế Quốc tế, các bạn đồng nghiệp làm việc tại Công
ty Cổ phần Chứng khoán An Bình đã hỗ trợ em trong suốt quá trình làm luận văn
tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2011
Học viên thực hiện
Vũ Hải Linh
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ viết tắt tiếng Việt
1 CTCK Công ty Chứng Khoán
2 NHNN Ngân hàng nhà nước
3 NHTM Ngân hàng thương mại
4 TMCP Thương mại cổ phẩn
5 TTCK Thị trường Chứng Khoán
6 TTLK CK Trung tâm lưu ký Chứng Khoán
7 TTGD CK Trung tâm giao dịch Chứng Khoán
lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh. Song mặt khác quan trọng hơn, nó giúp
người có nhu cầu bán chứng khoán và người có nhu cầu mua chứng khoán có thể
mua bán, trao đổi với nhau một cách dễ dàng nhất với chi phí thấp nhất, qua đó giúp
TTCK hoàn thành các chứng năng: huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế và đảm
bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán. Chính vì vậy, sự phát triển kinh doanh
các dịch vụ của Công ty chứng khoán là điều cần thiết và tất yếu không chỉ đối với
sự tồn tại và phát triển của các Công ty chứng khoán mà còn đối với sự hình thành
và phát triển của TTCK Việt Nam. Xuất phát từ những vấn đề trên, em đã chọn đề
tài “ Phát triển kinh doanh dịch vụ của công ty cổ phần chứng khoán An Bình” làm
luận văn thạc sỹ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh doanh
dịch vụ và phát triển của CTCK, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của CTCK.
Từ đó, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ
phần chứng khoán An Bình. Trên cơ sở lý luận phân tích thực trạng phát triển kinh
doanh dịch vụ của Công ty cổ phần chứng khoán An Bình, đề tài đưa ra giải pháp
và kiến nghị nhằm phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần chứng khoán
An Bình.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp
nghiên cứu các tài liệu về lý thuyết và thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ. Áp
dụng phương pháp mô tả, so sánh, đối chiếu, phân tích logic và hệ thống, phân tích
quy nạp tổng hợp để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên cứu. Dựa trên các
số liệu được tổng hợp từ các báo cáo của Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình,
SGDCK TP.HCM, SGDCK HN và một số nguồn khác để phân tích, so sánh làm
sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
i
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tác giả nghiên cứu thực trạng phát triển kinh
doanh dịch vụ trong 5 năm từ 2007 đến 2011 của Công ty cổ phần chứng khoán An
Bình, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần
chứng khoán An Bình đến năm 2015.
Bên cạnh phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính của luận văn gồm:
Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên cung - cầu dịch vụ không
thể tách rời nhau mà phải tiến hành song song với nhau.
Dịch vụ không thể cất giữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu
cầu thị trường như các sản phẩm vật chất khác…
1.1.2 Phân loại dịch vụ của các công ty chứng khoán
* Dịch vụ môi giới chứng khoán
iii
Môi giới chứng khoán là một dịch vụ kinh doanh chứng khoán trong đó công
ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC, Upcom mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
* Dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động dịch vụ các công ty chứng khoán
cung cấp cho khách hàng các thông tin đã được thu thập và phân tích về các loại
chứng khoán, về tình hình thị trường và xu hướng biến động của thị trường chứng
khoán giúp cho khách hàng quyết định thời điểm mua, bán chứng khoán, loại chứng
khoán mua bán và thời gian nắm giữ chứng khoán.
* Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc CTCK giúp cho tổ chức bảo lãnh thực hiện các thủ
tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp
bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Như vậy bảo lãnh
phát hành bao gồm cả việc tư vấn tài chính và phân phối chứng khoán.
* Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là dịch vụ quản lý vốn ủy thác của khách hàng để
đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư đáp ứng tốt nhất nhu cầu để
đầu tư của khách hàng.
* Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tiến hành các giao dịch mua bán các loại
chứng khoán cho chính mình. Khi thực hiện dịch vụ tự doanh, CTCK có nhiều mục
tiêu khác nhau. Nó có thế là hưởng chệnh lệch giá, đầu tư nắm quyền kiểm soát, bình
Đánh giá và lựa chọn ý tưởng thiết kế
Triển khai và kiểm định
Thực hiện cung cấp dịch vụ trên thị trường
Lập danh mục khách hàng theo nhóm dịch vụ
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh doanh dịch vụ của các công ty chứng
khoán
Nhóm chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng của các sản phẩm dịch vụ
- Tổng doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ
v
- Tổng số lượng các tài khoản mở tại CTCK
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tỷ trọng sản phẩm dịch vụ
- Tỷ trọng doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ trên tổng doanh thu
- Tỷ trọng lợi nhuận từ các sản phẩm dịch vụ trên tổng lợi nhuận
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ
- Thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ trên vốn điều lệ (vốn được cấp).
- Thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ trên tổng nguồn vốn kinh doanh
1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh dịch vụ của một số công ty chứng
khoán lớn trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh doanh dịch vụ của một số công ty
chứng khoán lớn trên thế giới
Thực tế cho thấy, phần lớn các thị trường chứng khoán sau khi thành lập muốn
phát triển một cách nhanh chóng ổn định và bền vững phải có sự chuẩn bị chu đáo
về mọi mặt: hàng hóa, luật pháp, con người, bộ máy quản lý giám sát…Song có một
số thị trường chứng khoán trục trặc ngay từ đầu như: thị trường chứng khoán Thái
Lan, Indonesia, hoạt động trì trệ trong thời gian dài do thiếu hàng hóa và do sự
không quan tâm đúng mức như: thị trường chứng khoán Philippin hoạt động kém
hiệu quả do sự phối hợp không tốt giữa hai sở giao dịch…
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho các công ty chứng khoán Việt Nam
Thứ nhất là về hoạt động cung cấp dịch vụ margin cho nhà đầu tư còn nhiều
rủi ro và bất cập
Năm 2010, với sự cố gắng nỗ lực, Công ty đã đạt được mức lợi nhuận là
36.969 tỷ đồng. là năm có doanh thu từ dịch vụ môi giới và dịch vụ tư vấn tương
đối cao so với các năm trước đấy.
2.2 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011
và ảnh hưởng của nó đến Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua những giai đoạn sau: Giai đoạn
bùng phát, giá các loại chứng khoán tăng liên tục (từ tháng giêng 2007 tới trung
vii
tuần tháng 3 năm 2007); giai đoạn kết thúc tăng trưởng, thị trường chuyển sang điều
chỉnh giảm (từ trung tuần tháng 3 năm 2007 tới hạ tuần tháng 4 năm 2007); giai
đoạn không ổn định, tăng giảm xen kẽ (từ hạ tuần tháng 4 năm 2007 tới nay). Sự
biến động này gây nhiều quan ngại cho các nhà đầu tư nhất là trong thời gian tới
diễn biến của thị trường này như thế nào? Điều này đang được xã hội quan tâm
2.3 Phân tích thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ
phần chứng khoán An Bình
2.3.1 Thực trạng các nguồn lực để phát triển kinh doanh dịch vụ của Công
ty cổ phần chứng khoán An Bình
Về con người
Về Hạ tầng kỹ thuật
Về cơ sở pháp lý
2.3.2 Phân tích thực trạng phát triển kinh doanh các dịch vụ tại công ty cổ
phần chứng khoán An Bình
2.3.2.1 Dịch vụ môi giới
2.3.2.2 Dịch vụ tư vấn
2.3.2.3 Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và đại lý phát hành
2.3.2.4 Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
2.4 Đánh giá thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ
phần chứng khoán An Bình
2.4.1 Những kết quả đạt được
Thứ nhất, việc không ngừng phát triển nâng cao chất lượng các dịch vụ đã đem
Thứ sáu, dịch vụ môi giới kinh doanh chứng khoán của Công ty chủ yếu là
trung gian thực hiện lệnh và truyền lệnh mua bán chứng khoán cho khách hàng để
nhận hoa hồng.
Thứ bảy, chưa chú trọng công tác makerting, việc tự quảng bá hình ảnh còn
mang tính hình thức chưa gây được sự chú ý, hấp dẫn các khách hàng mới; công tác
tiếp thị các dịch vụ chưa phát triển so với các CTCK khác; các sản phẩm dịch vụ
chưa thực sự đem lại nhiều tiện ích hơn và không đa dạng bằng.
Thứ tám, Công ty bỏ qua khu vực bao gồm các nhà đầu tư tổ chức, các nhà đầu tư
ix
bận rộn không thể đến Công ty để trực tiếp giao dịch và các nhà đầu tư ở các tỉnh vùng xa.
Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất: TTCK Việt Nam còn non trẻ, không thể phủ nhận những cố gắng
của các cơ quan có thẩm quyền và công chúng đầu tư nhưng thực tế TTCK Việt
Nam vẫn còn trong quá trình thực nghiệm, và rõ ràng những biến động qua các năm
2000 đến 2005 và từ 2005 đến 2010 đã cho mọi người một cái nhìn cụ thẻ hơn rất
nhiều về tiến trình phát triển của thị trường.
Thứ hai, Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ, nghị định 48/1998/NĐ -
CP, hay nghị định 144/2003/NĐ - CP được chính phủ ban hành là văn bản pháp lý
cao nhất hiện nay về chứng khoán và TTCK.
Thứ ba, sự chồng chéo của các cơ quan có thẩm quyền khiến cho các văn bản
hướng dẫn chậm trễ và quá trình điều tiết thị trường trở nên phức tạp.
Thứ tư, việc thiếu chuyên gia và nhân tài trong lĩnh vực TTCK là một trong
những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của thị trường, không thể ngày một ngày
hai chúng ta có được đội ngũ những chuyên gia những người làm chứng khoán giỏi.
Thứ năm, Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường tài chính nói chung
và TTCK nói riêng. Đón đầu tư thế hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường của
Đảng và Nhà nước ta, trong thời gian vừa qua các tổ chức tài chính nói chung cũng
như các CTCK nói riêng đã tiến hành cơ cấu, sắp xếp và cải tiến nhằm nâng cao
năng lực hoạt động của mình.
3.1.2 Dự báo tình hình kinh tế trong nước ảnh hưởng đến các công ty
chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015
Bức tranh dự báo này kém tươi sáng, cho thấy sự giảm tốc xa hơn của kinh tế
thế giới do ảnh hưởng bất lợi từ các biện pháp cắt giảm chi tiêu của Mỹ và châu Âu,
song song với hoạt động giảm bớt đầu tư của các doanh nghiệp và tiếp tục sa thải
xi
nhân lực của khu vực tài chính, cùng với suy thoái kinh tế của Nhật Bản đang ảnh
hướng xấu tới triển vọng của thị trường chứng khoán thế giới trong thời gian tới.
3.1.3 Phương hướng phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần
chứng khoán An Bình
Đánh giá tiềm tàng to lớn của TTCK Việt Nam trong tương lai và các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển thị trường chứng
khoán Việt Nam, ABS tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và các nguồn lực cần thiết để
phát triển kinh doanh dịch vụ của công ty và giúp công ty ngày càng chiếm được vị
trí trên thị trường đóng góp tích cực cho sự phát triển của thị trường. Dự đoán về xu
thế của thị trường đòi hỏi Công ty phải đề ra những định hướng phát triển kinh
doanh dịch vụ của công ty như sau:
- Trong khoảng thời gian từ năm 2012 - 2016 sẽ có hướng tăng vốn điều lệ từ
397 tỷ - 660 tỷ nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty, tăng quy mô hoạt
động tự doanh và nâng cao bảo lãnh phát hành.
- Phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ. Các sản phẩm phải có sự khác biệt
thể hiện ở mức độ bao trùm các ngành nghề đa dạng, các công ty với giá trị vốn hóa
khác nhau và đặc biệt những sản phẩm dịch vụ đưa ra sẽ được thiết kế riêng theo
yêu cầu của khách hàng.
- Đối với dịch vụ môi giới giao dịch, chính sách tích cực tăng cường các giao
dịch không sàn được đề cao.
- Về mảng Tư vấn tài chính doanh nghiệp, các dịch vụ được chú trọng bao
gồm xây dựng kênh thông tin khách hàng để có định hướng rõ ràng, nâng cao năng
lực triển khai của đội ngũ nhân lực và tăng cường các dịch vụ phân tích hỗ trợ.
- Đối với dịch vụ đầu tư và tự doanh, ban lãnh đạo dự kiến chuẩn hóa các dịch vụ
vụ của CTCK, luận văn đã đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:
Một là, Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh các dịch
vụ của CTCK. Phân tích khái niệm, vai trờ, sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh doanh dịch vụ của CTCK, từ đó, khẳng định sự tất yếu khách quan
phải phát triển kinh doanh các dịch vụ của các CTCK, từ đó, khẳng định sự tất yếu
khách quan phải phát triển kinh doanh các dịch vụ của các CTCK Việt Nam.
xiii
Hai là, Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần
chứng khoán An Bình từ khi thành lập đến nay. Đánh giá kết quả đạt được đồng
thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu trong hoạt động kinh doanh dịch
vụ của Công ty.
Bà là, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về kinh doanh dịch vụ của CTCK và đánh
giá thực trạng kinh doanh dịch vụ ở Công ty cổ phần chứng khoán An Bình, luận
văn đã đề ra các giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học và có tính khả thi nhằm
mở rộng, phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình
cũng như của các CTCK trên TTCK Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là góp phần vào việc xây dựng, hoạch định
các chính sách, biện pháp phát triển TTCK. Tạo cơ sở lý luận cho việc nâng cao
hiệu quả quản trị điều hành các CTCK ở nước ta. Những đề xuất, kiến nghị của luận
văn góp phần vào việc đổi mới và hoàn thiện chiến lược phát triển kinh doanh các
dịch vụ của các CTCK Việt Nam.
Luận văn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình huống và lựa
chọn dịch vụ phù hợp, đề ra một số giải pháp phát triển dịch vụ đã lựa chọn. Việc
đánh giá chất lượng dịch vụ áp dụng phụ thuộc vào thực tế quá trình triển khai, thực
hiện và kiểm soát. Việc tiếp cận số liệu của các Công ty Chứng khoán gặp nhiều trở
ngại, thiếu sự phối hợp, do đó còn gặp nhiều hạn chế khi phân tích và nhận định.
Tác giả mong nhận được sự thông cảm và giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và đồng
nghiệp để có thể hoàn thiện tốt hơn đề tài của mình.
xiv
1. Lý do chọn đề tài
Công ty cổ phần chứng khoán An Bình (ABS) chính thức khai trương và đi
vào hoạt động từ tháng 11 năm 2006. Sau gần 5 năm triển khai hoạt động kinh
doanh trên thị trường chứng khoán Việt Nam, ABS đã đạt được những thành tựu
đáng kể. Thị phần môi giới của ABS không ngừng tăng lên, các sản phẩm dịch vụ
của công ty cung cấp cũng đa dạng hơn, hình ảnh và uy tín ngày một nâng cao trên
TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh dịch vụ của công ty vẫn còn
nhiều hạn chế, chất lượng của nhiều sản phẩm dịch vụ còn chưa cao, hoạt động của
nhiều bộ phận còn chưa hiệu quả. Đứng trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt
trên thị trường, đặc biệt khi càng có nhiều công ty chứng khoán mới gia nhập thị
trường, chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khoán mới ngày được nâng lên
thì đòi hỏi ABS cần phải có một giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thực sự
hiệu quả và khả thi để đạt được mục tiêu của công ty là một trong những công ty
chứng khoán hàng đầu cung cấp các dịch vụ chứng khoán tốt nhất trên TTCK Việt
Nam hiện nay. Đây chính là lý do em chọn đề tài ‘‘Phát triển kinh doanh dịch vụ
của Công ty Cổ phần chứng khoán An Bình” cho chuyên đề khoa học của mình
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
Từ trước đến nay đã có khá nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về đa
dạng về phát triển kinh doanh dịch vụ của công ty chứng khoán. Có thể kể đến một
số các công trình như sau:
Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Mai Hương (2006) với đề tài “ Phát triển
kinh doanh các dịch vụ ở công ty chứng khoán ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam” nói về thực trạng kinh doanh các dịch vụ ở Công ty
chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm mục
đích nâng cao năng lực của mình trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang giảm
sâu đặc biệt là sự cạnh tranh của các công ty chứng khoán hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phan Anh Tú (2007) với đề tài “ Nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh chứng khoán tại công ty chứng khoán Thăng Long”. Từ
đó đưa ra phương hướng để phát triển kinh doanh thực sự hiệu quả.
2
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh doanh dịch vụ ở các công
ty chứng khoán.
- Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ của Công ty cổ phần
chứng khoán An Bình.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ của
Công ty cổ phần chứng khoán An Bình.
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH
DỊCH VỤ Ở CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh dịch vụ của
các công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ của các công ty chứng khoán
- Khái niệm
Trên thế giới, tổng sản phẩm quốc dân của một nước cũng như doanh thu của
một doanh nghiệp không thể tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ. Tỷ lệ này
ngày càng cao ở những nước có nền kinh tế phát triển. Cùng với sự phát triển của
sản xuất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đã có nhiều loại hình dịch vụ phát triển, bản
chất và mục đích kinh doanh trong lĩnh vực này cũng hết sức đa dạng và phong phú.
Bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và
động lực phát triển dịch vụ. Các Mác cho rằng: Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế
sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu
thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con
người thì dịch vụ phát triển.
Hiện nay đang tồn tại nhiều quan niệm về dịch vụ. Theo cách chung nhất thì
có hai cách hiểu như sau:
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế
quốc dân. Theo cách hiểu này, các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công
nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh,
nghiệp hiện nay vẫn là lợi nhuận nhưng trước đó doanh nghiệp cần phải thiết lập
các chính sách và chương trình thực hiện các dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của
khách hàng. Một số CTCK hiện nay đã tăng cường tiếp cận lấy ý kiến thông tin
phản hồi từ khách hàng bằng cách để các phiếu điều tra ở ngay hòm góp ý của
khách hàng tại quầy giao dịch. Khi thái độ, chất lượng các dịch vụ phục vụ khách
hàng được đưa vào quá trình phản hồi, đánh giá thường xuyên như vậy sẽ giúp các
6
nhân viên CTCK tập trung hơn vào việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ tốt hơn cho
khách hàng.
Tóm lại, cũng giống như các sản phẩm dịch vụ khác, các sản phẩm dịch vụ của
CTCK là sản phẩm vô hình, việc sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời và không
thể dự trữ được các sản phẩm đó. Tuy nhiên, chất lượng của các sản phẩm dịch vụ
này được cải thiện khi trình độ, kinh nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán của
nhân viên công ty được nâng cao.
1.1.2 Phân loại dịch vụ của các công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế trung gian thực hiện các nghiệp
vụ trên TTCK. CTCK thông qua các hoạt động của mình sẽ giúp TTCK hoàn thành
các chức năng cơ bản nêu trên.
CTCK với việc cung cấp các dịch vụ đa dạng của mình giúp cho nhà đầu tư có
cơ hội đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi và tạo điều kiện luân chuyển vốn dễ dàng
thông qua hoạt động mua bán chứng khoán. CTCK hoạt động dựa trên nguyên tắc
nền tảng của TTCK là nguyên tắc trung gian, do vậy, đảm bảo lợi ích chính đáng của
mọi đối tượng trong hoạt động mua bán, chuyển nhượng chứng khoán tại TTCK.
Có nhiều khái niệm khác nhau về CTCK, ở Việt Nam, CTCK là công ty cổ phần,
công ty TNHH được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được UBCKNN cấp giấy
phép thực hiện một hoặc một số loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán.
Các dịch vụ kinh doanh của CTCK bao gồm:
* Dịch vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một dịch vụ kinh doanh chứng khoán trong đó công
ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao