VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
NHIỆM VỤ “ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
TỈNH HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TNN TỈNH
HÀ TĨNH TẬP TRUNG VÀO DÒNG CHẢY NƯỚC
MẶT VÀ BỐC THOÁT HƠI NƯỚC
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 16)
HÀ NỘI, THÁNG 11/2009
MỤC LỤC
3
DANH SÁCH CÁC BẢNG
5
DANH SÁCH CÁC HÌNH
7
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết phải đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới nguồn
nước tỉnh Hà Tĩnh.
Trong vòng 200 năm trở lại đây, khi công nghiệp hoá phát triển, nhân loại bắt
đầu khai thác than đá, dầu lửa, sử dụng các nhiên liệu hoá thạch Cùng với các hoạt
động công nghiệp tăng lên, nhân loại bắt đầu thải vào bầu khí quyển một lượng khí
CO
2
, nitơ ôxít, mêtan khiến cho nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên.
Biến đổi khí hậu mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng
là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí
hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất và môi trường toàn thế giới:
đến năm 2080, sản lượng ngũ cốc sẽ giảm 2 – 4% trong khi giá ngũ cốc có thể tăng 13
– 45%, và nạn đói có thể tác động đến 35 – 60% dân số thế giới; mực nước biển dâng
; có 04 cửa sông (Cửa Hội,
Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu).
Hà Tĩnh có địa hình đa dạng, phức tạp; đồi núi nhiều, độ dốc lớn (chiếm 60%
diện tích đất tự nhiên), trong những năm qua đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi
khí hậu với các hiện tượng nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, lượng mưa
nhiều vùng đã giảm rõ rệt, hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, tần suất và quy luật bão
lũ có sự thay đổi khó lường, đã có hiện tượng nước biển lấn sâu vào các sông và xuất
hiện hiện tượng xâm thực bờ biển ở một số địa phương ven biển…
9
Rõ ràng BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường, là vấn đề của một ngành riêng
lẻ mà chính là vấn đề về phát triển bền vững. Tầm quan trọng của nó cần được biết
đến, được nhận thức bởi cả cộng đồng, bởi các nhà hoạch định chính sách, nhà lãnh
đạo cấp cao. Các hoạt động về thích ứng BĐKH cần được lồng ghép, kết nối trong tất
cả các hoạt động, các chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển sao cho các
nước giàu có thể thực hiện đầy đủ cam kết của họ về tăng cường viện trợ thông qua
các hình thức trợ giúp phát triển, đồng thời giảm thiểu được các ảnh hưởng tiêu cực
do BĐKH gây ra.
BĐKH ảnh hưởng tới hầu như tất cả các ngành, nguồn tài nguyên thiên nhiên
cũng như cuộc sống của chúng ta. Đầu tiên chúng ta phải quan tâm đó là vấn đề tài
nguyên nước.Ai cũng biết rằng nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần
thiết yếu của sự sống và môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển
của thế giới sinh vật và nhân lợi trên trái đất. Nước quyết định sự tồn tại, phát triển
bền vững của các vùng cũng như đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa
cho con người và môi trường. Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên vừa hữu hạn, vừa
vô hạn. Tuy nhiên biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài
nguyên nước. Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa
trong mùa mưa gây lũ lụt. Nguồn nước ngầm bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt do khai
thác quá mức và thiếu nguồn bổ sung.
Vì thế vấn đề đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên nước là vấn
thiết yếu và quan trọng để từ đó có thể tìm ra các biện pháp giảm thiểu tác hại của
tỉnh nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo Quốc
lộ 1A.
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá, vì có lợi thế nằm tiếp giáp với các đô thị lớn và cửa
13
khu Quc t quan trng, cú nhiu th mnh c v giao thụng ng thu v ng
b.
1.1.2. a hỡnh
- Vựng nỳi cao: a hỡnh vựng nỳi cao thuc phớa ụng ca dóy Trng Sn
bao gm cỏc xó phớa Tõy ca cỏc huyn Hng Sn, Hng Khờ, K Anh. a hỡnh
dc b chia ct mnh, hỡnh thnh cỏc thung lng nh hp chy dc theo cỏc trin sụng
ln ca h thng sụng Ngn Ph, Ngn Sõu, Ro Tr. Cỏc thung lng ny cng l
vựng sinh sng ca c dõn cỏc dõn tc. Sn xut ca dõn c trong vựng l hn hp
nụng lõm nghip theo phng thc khai thỏc tn dng t nhiờn do vy nng sut cõy
trng v nng sut lao ng thp. Mc thu nhp ca dõn thp do cha c u t
thớch ỏng, c s vt cht nghốo nn, h tng c s yu kộm. Vựng ny cú tim nng
phỏt trin cõy cụng nghip ngn, di ngy, cõy n qu, ngh rng v chn nuụi gia
sỳc.
- Vựng trung du v bỏn sn a: õy l vựng chuyn tiếp t vựng nỳi cao
xung vựng ng bng. Vựng ny chy dc phớa Tõy Nam ng Hồ Chí Minh bao
gm cỏc xó vựng thp ca huyn Hng Sn, cỏc xó thng c Th, thng Can
Lc ven Tr Sn, ca cỏc huyn Thch H, Cm Xuyờn, K Anh. a hỡnh cú dng
xen ln gia cỏc i trung bỡnh v thp vi t rung. t ai khụng bng phng, h
thc vt ch yu l cõy lựm bi, cõy cụng nghip, rng trng v trng c. Sn xut
nụng nghip chớnh l cõy lỳa nc, cõy mu, cõy cụng nghip ngn, di ngy v chn
nuụi gia sỳc, trng cõy lõm nghip. Trong vựng bc u ó cú s u t trong sn
xut cỏc loi cõy nh lc, , chố, cõy n qu. Cỏc sn phm chn nuụi nh trõu, bũ,
ln, dờ, hu. õy l vựng cú tim nng t ai cho phộp sn xut nhiu sn phm
nụng sn hng hoỏ tp trung cú th u t xây dựng các trang trại thúc đẩy kinh tế
phỏt trin nhanh.
C. Các tháng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng đạt
28,7 ÷ 29,8
0
C vào tháng VII.(Bảng 1.1)
Số giờ nắng đạt từ 1.400 ÷ 1.600 giờ.
Bảng 1.1. Nhiệt độ không khí trung bình tháng tối cao, tối thấp và trung bình
(1981-2010)(
0
C)
Đv:
0
C
Trạm yếu tố
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Hà Tĩnh
T°C
17.9 18.8 20.
9
24.7 27.9 30 29.8 28.9 27.1 24.7 21.
8
18.7
Tmax
34.1 36.2 37.
3
40.1 40.2 39.4 40 39.7 38.3 35.2 35.
3
29.5
Tmin
7.3 8 8.2 13.3 17.3 21.8 21.1 23 17.8 15.1 11.
Tmin
5.3 7.9 8.6 13.5 15.2 21.8 22.4 20.4 15.5 8.4 10.
8
6.9
Hương
Sơn
T°C
17.7 18.9 21.
2
24.7 27.5 29 29.3 28.3 26.4 24.3 21.
2
18.1
Tmax
37.2 36.3 38.
9
40.3 40.2 40.1 40 38.9 39 37.7 36.
4
31.1
Tmin
6 8 4.3 13 14.4 20.4 20.9 21 18.1 15.2 7.2 2
Nguồn: Trung tâm KTTV Hà Tĩnh
1.2.1.2. Độ ẩm tương đối
17
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85%. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các
tháng có gió Tây khô nóng - tháng VII và đạt 70%. Độ ẩm cao nhất xảy ra vào các
tháng cuối mùa đông, khi có mưa phùn hoặc các tháng mùa mưa và đạt 90 ÷ 92%.
(Bảng 1.2)
Bảng 1.2. Bảng thống kê độ ẩm bình quân trạm Hương Khê (%)
Năm 2005 2006 2007 2008 2009
Bình quân năm 84 84 72 70 66
127.
7
137.
1
100.
8
66.9 55.1 52.6 44.9
Kỳ Anh
36.
0
30.
3
42.
0
60.
5
106.
0
171.
4
183.
5
132.
2
69.5 61.5 56.5 48.8
Hương
Khê
36.
3
31.
125.
9
70.8 43.9 41.0 36.9
Nguồn: Trung tâm KTTV Hà Tĩnh
19
1.2.1.4. Tốc độ gió
Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s- 2,3 m/s . Tốc độ gió lớn nhất khi có bão
đạt >40 m/s. Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Tây
Nam hoặc gió Đông Nam.
1.2.1.5. Chế độ mưa
Hà Tĩnh có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300 ÷
3.000mm. Những vùng mưa lớn như Kỳ Lạc (Kỳ Anh) lượng mưa đạt 3.220mm.
Những tâm mưa lớn thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ, Hoành Sơn
có năm lượng mưa năm đạt 4.586 mm năm 1978 ở Bàu Nước, 4.386mm tại Kỳ Anh
năm 1990, 4.450 mm năm 1990 tại Kỳ Lạc.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII tới tháng XI. Tuy nhiên tháng V, VI có mưa
Tiểu mãn gây ra lũ Tiểu mãn. Lượng mưa mùa mưa đạt 65 - 70% lượng mưa năm,
còn lại là mùa khô.(Bảng 1.4)
Bảng 1.4. Lượng mưa các trạm KTTV (từ 1981-2010)
Đv: mm
Trạm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Hà Tĩnh 95.0
59.
5
62.
2
78.4
173.
5
154.
6
412.
8
203.
9
Hương
Khê
44.8
52.
4
64.
8
92.5
216.
8
166.
3
151.
6
303.
1
440.
7
654.
7
191.
1
70.2
Hương
Sơn
nước lợ.
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s,
15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã
phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất
21
nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ
lụt mùa mưa.
Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu điều tra toàn diện nhưng qua các số
liệu đã thu thập được cho thấy mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng
mưa trong mùa. Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông,
miền trung du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh
hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Về chất lượng nước ở Hà
Tĩnh nhìn chung khá tốt, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng
như sinh hoạt. Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thuỷ
triều, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân, vì vậy cần kiểm tra độ mặn
nước sông trước khi bơm tưới cho cây trồng. Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở
Sơn Kim huyện Hương Sơn, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu
Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.
1.3. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1. Dân số và lao động
Trong giai đoạn 2000-2005, Hà Tĩnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức
nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Tốc độ tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch
chuyển theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
23
vụ. Văn hóa xã hội phát triển mạnh, an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống nhân dân
được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.
Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt 5.990,7 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP
cả nước. (Tính theo giá 94, GDP năm 2005 đạt 4.063,5 tỷ đồng). Tăng trưởng kinh tế
ổn định, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cao hơn trung bình cả nước, nhưng
còn thấp hơn so với các tỉnh lân cận và vùng Bắc Trung bộ.
Nhịp độ tăng GDP nông nghiệp khá cao và ổn định ở mức 4-5%. Trong thời
kỳ 2000-2005, tổng sản phẩm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng, bình quân
4,70%/ năm, cao hơn so với trung bình cả nước (4,0%).
Công nghiệp và xây dựng có nhịp độ tăng khá cao, đạt 14,74%/năm, nhưng do
quy mô của khu vực này còn nhỏ bé, nên đóng góp vào tăng GDP còn bị hạn chế.
Khu vực dịch vụ tăng khá ổn định, cao hơn trung bình vùng Bắc Trung bộ và
cả nước. Trong giai đoạn 2000-2005, nhịp độ tăng dịch vụ đạt 9,32%/năm.
1.3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong suốt thời kỳ 2001 - 2005, cơ cấu kinh tế của tỉnh theo GDP có sự
chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung của cả
nước, theo xu thế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm
dần tỷ trọng khu vực nông lâm thủy sản, được thể hiện như sau (Bảng 1.5):
Bảng 1.5. Cơ cấu các ngành kinh tế qua một số năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Năm
2000
Năm
45,9% tổng GDP cả tỉnh, gấp 2,32 lần năm 1995, nhưng còn thấp hơn so với chỉ tiêu
này của cả nước (3,11 lần)
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001-2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện
tích gieo trồng (tăng vụ) và tăng năng suất cây trồng. Trong đó tăng sản lượng xấp xỉ
5%. Trong cùng thời kỳ, sản lượng cây công nghiệp tăng khá cao, nhưng chủ yếu do
tăng diện tích gieo trồng.
Để đảm bảo tăng giá trị sản xuất ổn định như thời gian qua, cần xây dựng một
số hồ chứa nước đa tác dụng, đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật sinh
học vào trồng trọt và chăn nuôi trên diện rộng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:
Năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 81,98%, lâm nghiệp:
7,14% và thuỷ sản chiếm 10,88% tổng giá trị sản xuất.
- Trồng trọt
Trong những năm qua ngành trồng trọt đã có những thành công căn bản, năng
suất cây trồng tăng cao, nhất là lúa. Cơ cấu cây trồng được bố trí hợp lý hơn, tỷ trọng
cây lâu năm tăng dần. Tỷ lệ các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được
sử dụng tăng dần. Tuy vậy, ứng dụng các loại giống cây mới vào sản xuất còn hạn
chế, nhân ra diện rộng còn chậm.
- Chăn nuôi
Quy mô và chất lượng đàn gia súc, gia cầm tăng dần, nhưng đóng góp của
chăn nuôi vào thu nhập của người dân tăng chậm.
Giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp có
xu hướng tăng, năm 2001 chiếm 29,73% tăng lên 31,38% năm 2005.
Tuy vậy, trong suốt thời kỳ 1996-2005, số trâu bò bình quân trên hộ nông
nghiệp hầu như không tăng, bình quân 1,1 con / hộ.
Tổng đàn lợn năm 2005 có 453 nghìn con, tốc độ tăng bình quân 1996-2005 là
3,73%. Hình thức chăn nuôi hộ gia đình có quy mô ngày càng lớn. Đàn lợn tăng khá
nhanh trong giai đoạn 2001-2005, do lương thực bình quân đầu người tăng, từ 264kg
năm 1995 lên 378kg/ người năm 2005, và thị trường thức ăn gia súc khá phát triển,
biến lâm sản. Rừng thông cấp tuổi V và IV vào khoảng hơn 9.000 ha, hàng năm cho
hơn 4.000 tấn nhựa. Có khoảng 200 cơ sở chế biến lâm sản, chủ yếu là xẻ gỗ xây
dựng và đóng đồ mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên
liệu (nguồn nguyên liệu chủ yếu là gỗ lậu).
• Diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành truyền thống của tỉnh, nhưng hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp. Diêm nghiệp được tập trung sản xuất ở 4 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên,
Kỳ Anh và Nghi Xuân với sản lượng muối hàng năm đạt 26.000 tấn, trong đó muối i
ốt 13.000 tấn. Có 4.000 hộ với hơn 8.000 lao động làm diêm nghiệp. Do làm muối thủ
công năng suất thấp, đời sống của người làm muối còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói
nghèo của vùng làm muối chiếm 17% (theo tiêu chuẩn cũ), cao hơn mức trung bình
của tỉnh.
b. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh có hai đặc điểm nổi bật:
(1) Công nghiệp và TTCN của tỉnh còn nhỏ bé đang trong giai đoạn bắt đầu
phát triển. Năm 2005, trên địa bàn của tỉnh có 12.122 cơ sở sản công nghiệp, giải
quyết việc làm thường xuyên cho 28,5 nghìn lao động, bằng 3,9% tổng số lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế cả tỉnh.
(2) Trong thời kỳ 1996-2005, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp tăng khá cao, đạt 14,7%/năm theo xu hướng tăng dần.
29
Nhờ sự nỗ lực của ngành, trong những năm qua công nghiệp đã có nhiều khởi
sắc, là do:
Công nghiệp và TTCN của tỉnh phát triển đúng hướng, dựa trên các thế mạnh
về tài nguyên và lao động. Tỉnh đã khai thác quặng Titan, khai thác vàng, chế biến
dăm gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng cho xuất khẩu và để sử dụng trong nước.
So với 10 năm trước, thiết bị và công nghệ được nâng cấp, trong đó thiết bị
khai thác quặng Titan được đánh giá vào loại hiện đại.
Một số cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản có quy mô khá đã đi vào hoạt
động. Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã có ba doanh nghiệp có quy mô
11,8%, còn lại 88,2% là do thành phần kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể thực hiện.
31
Bên cạnh những kết quả nêu trên, lĩnh vực thương nghiệp còn bộc lộ một số
hạn chế chủ yếu như:
Thiếu chiến lược thị trường, đồng thời còn thiếu các sản phẩm dịch vụ mang
bản sắc riêng, khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với
giá cả;
Số lượng doanh nghiệp làm thương nghiệp tuy nhiều nhưng chủ yếu là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, vòng quay vốn còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao.
• Du lịch
Trên địa bàn Hà Tĩnh đã hình thành một số điểm du lịch có ý nghĩa Quốc gia
và Quốc tế như khu lưu niệm Nguyễn Du, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang và
nhiều điểm du lịch khác có ý nghĩa vùng và địa phương.
Cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng được hoàn thiện, số nhà nghỉ, khách sạn, nhà
hàng ở các khu du lịch tăng về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, công tác đảm bảo vệ
sinh môi trường, trật tự an toàn tại các khu du lịch còn nhiền bất cập. Đặc biệt là hệ
thống thu gom, chứa và xử lý sơ bộ chất thải tại các điểm du lịch còn chưa đảm bảo
yêu cầu vệ sinh sạch sẽ, nhiều nơi còn thiếu.
Hiện tại, chưa có những sản phẩm du lịch đặc trưng, hấp dẫn đối với khách du
lịch nên ngày lưu trú của khách còn thấp. Du lịch mang tính mùa vụ, khách du lịch
đến Hà Tĩnh chủ yếu vào các dịp lễ hội, kỳ nghỉ hè. Doanh thu du lịch từ khách Quốc
tế chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số doanh thu. Trong hoạt động lữ hành, việc nối các
tour du lịch với các tỉnh và cả nước còn nhiều hạn chế. Hệ thống khách sạn có quy
mô vừa và nhỏ, trang thiết bị thiếu đồng bộ. Sử dụng nhà nghỉ, khách sạn tại các khu
du lịch biển còn thấp, mới đạt 25-30% tổng số buồng phòng. Tỷ lệ lao động và cán bộ
có trình độ nghiệp vụ du lịch còn thấp.
1.3.2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Thực trạng phát triển đô thị:
Hiện nay toàn tỉnh có 14 đô thị, trong đó 1 thị xã loại IV, TP. Hà Tĩnh đã được
công nhận là đô thị loại III, còn 12 thị trấn đô thị loại V. Hầu hết các đô thị là trung
nằm song song với bờ biển xen kẽ các khu vực sản xuất nông nghiệp, hoặc phân bố
dọc theo các trục đường giao thông chính và ven các con sông lớn của tỉnh.
Do đặc điểm sản xuất của vùng nông thôn nên việc phát triển mở rộng khu dân
cư nông thôn thường gắn chặt với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng địa phương,
thông thường là mở rộng vào đất nông nghiệp xung quanh làng bản.
Trong những năm gần đây cùng với việc phát triển của cơ chế thị trường,
hướng mở rộng khu dân cư có nhiều thay đổi. Đất ở nông thôn được mở rộng theo các
trục giao thông thôn, xã. Vừa giải quyết đất ở gắn với hệ thống dịch vụ.
1.3.3. Điều kiện xã hội
1.3.3.1. Giao thông
Đường bộ:
Hà Tĩnh có 4 đường Quốc lộ chạy qua và 27 tuyến đường tỉnh lộ với tổng
chiều dài 387 km. Nếu tính cả giao thông nông thôn, tổng chiều dài đường bộ trên địa
bàn tỉnh là 2.917 km.
Tuy đạt được những thành tựu nêu trên, nhưng hiện nay 80% đường bộ được
đánh giá vào loại xấu và rất xấu, nhiều đoạn đường bị ngập trong mùa mưa. Hệ thống
cầu, ngầm còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng.
Đường sắt:
Đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh dài 70 km (qua Đức Thọ, Vũ Quang,
Hương Khê). Trên tuyến đường sắt có 11 ga, trong đó cá hai ga hàng hóa là Hương
Phố và Phúc Trạch, góp phần trao đổi hàng hóa thuận lợi cho các điểm dân cư lân
cận.
1.3.3.2. Thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư
xây dựng, đang bước vào thời kỳ phát huy tác dụng. Tuy vậy, do điều kiện địa hình
chia cắt, đất dốc, thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong nông
nghiệp, thiếu nước khá trầm trọng vào các tháng gió Tây nam hoạt động mạnh ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng.
1.3.3.3. Giáo dục và đào tạo
Hà Tĩnh là một trong các tỉnh có hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nếu so
đa khoa tỉnh được xây dựng mới với 450 giường bệnh, có đầy đủ các khoa từ lâm
sàng đến cận lâm sàng, trang thiết bị ngày một đầy đủ và hiện đại hơn.
Công tác KHHGĐ được triển khai, thực hiện tốt. Bằng nhiều hình thức, biện
pháp giáo dục, tăng cường truyền thông, và dịch vụ phù hợp đã tạo nhiều chuyển biến
về nhận thức trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần hạn chế các cặp vợ chồng sinh
con thứ 3 trở lên.
Từ năm 1995 đến nay công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng được chú ý mở
rộng về quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo chữa các bệnh thông
thường, chủ động phòng chống và kịp thời dập tắt các dịch bệnh xã hội có khả năng
lây lan cho nhân dân. Nhiều chương trình Quốc gia về y tế được quan tâm sát sao,
thực hiện có hiệu quả.
37
Tuy vậy, ngành y tế tỉnh cần phải nâng cấp các cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu
khám chữa bệnh đang xuống cấp, đầu tư máy móc, thuốc men, đào tạo dược sỹ, bác
sỹ (cấp một) giỏi của một số chuyên khoa thiếu như sản, chụp cắt lớp.
1.3.3.5. Văn hóa xã hội, thể dục thể thao
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xây dựng làng văn hóa được
triển khai trên diện rộng và đạt kết quả tốt. Phục vụ tốt, kịp thời các ngày lễ lớn của
dân tộc và lễ hội truyền thống ở các địa phương. Đến năm 2005 đã có 78% gia đình
văn hóa, tăng 30% so với năm 2000.
Công tác tôn tạo, bảo quản và giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá được chú
trọng, các thiết chế văn hoá từ huyện đến cơ sở được tăng cường.
Lĩnh vực thông tin, phát thanh và truyền hình đã thực hiện tốt vai trò làm công
cụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến nay
100% số xã thị trấn được nghe phát thanh và xem truyền hình.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành văn hóa còn thiếu về số lượng và kém về
chất lượng chưa tương xứng với tên gọi của nó. Hiện nay cả tỉnh có 1 trung tâm văn
hóa cấp tỉnh và 11 trung tâm văn hóa huyện, thị nhưng đã xuống cấp, một số trung
tâm còn ở nhà tạm. Vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân còn
kém, thiếu thông tin, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Vì vậy để đem tri thức đến
so với hơn 10 năm trước đây (Lộc Hà), nước mặn lấn vào sông thêm 10 km.
Các biến đổi thất thường này đã gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống
của người dân, ảnh hưởng đến an ninh lương thực. Biến đổi khí hậu và thảm họa thiên
nhiên làm chết cây trồng, giảm năng suất, tăng chi phí sản xuất, phá vỡ cơ sở hạ tầng
sản xuất, môi trường bị phá hủy, người chết…
Lũ lụt làm cho người dân miền núi không gieo cấy được vụ lúa mùa. Vụ hè thu
bấp bênh, dễ mất mùa. Khi mất mùa vụ hè thu, khả năng tự đáp ứng lương thực của
người dân giảm đi 12%, mà thu nhập từ vụ hè thu và vụ đông đóng góp đến 25-30
nhu cầu lương thực của hộ nên nếu bị mất mùa họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Để đối phó với các biến đổi khí hậu, chính quyền có được chính sách đối phó và thích
ứng. Các chính sách này gắn với việc xây dựng các công trình nhằm ngăn chặn và
giảm nhẹ thiệt hại của thiên tai như xây đập, trồng rừng đầu nguồn, xây đê biển, tuyên
truyền cho người dân, điều chỉnh hệ thống sản xuất nông nghiệp và có kế hoạch đối
phó hàng năm.
Còn các hộ nông dân cũng đã có những biện pháp, từ điều chỉnh phương thức
sinh hoạt đến các hoạt động sản xuất, chẳng hạn như điều chỉnh hệ thống cây trồng,
thời vụ và dùng giống ngắn ngày; áp dụng công nghệ rút ngắn thời gian cây trồng; thu
hoạch chăn nuôi trước mùa lũ, chuẩn bị thuyền khi có lũ, dự trữ nước sạch và bịt
miệng giếng trước lũ…Tuy nhiên người dân vẫn cần được hỗ trợ để nâng cao khả
năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nhất là cho các hoạt động sản xuất.
2.2. KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH HÀ TĨNH
a. Về nhiệt độ
Theo kịch bản B1, cuối thể kỷ 21 nhiệt độ trung bình năm tăng từ 1.4
0
C đến
2.2
0
C. Với kịch bản B2 là từ 2.0
0
C đến 3.1
B1
2030 -2039 1.1 1
2040 -2059 1.7 1.5
2060 -2079 2.1 1.8
2080 -2100 2.2 1.9
Hình 2.2.Mức tăng nhiệt độ trung bình năm tại các trạm khí tượng tỉnh Hà
Tĩnh
b. Về chế độ mưa
Lượng mưa mùa khô giảm rõ rệt. Các tháng mùa lũ lượng mưa đều tăng.
Lượng mưa tăng mạnh nhất vào tháng 7, tháng 12 và giảm mạnh các tháng 1, 5. Tại
các trạm thủy văn trên nhánh chính sông Cả, đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa tháng
trung bình có thể tăng từ 12.9% đến 29.2 % (theo kịch bản A2), 24.5% (kịch bản B2)
và 17.4% (kịch bản B1). Các trạm khí tượng trên lưu vực thuộc sông Ngàn Sâu,
Ngàn Phố, lượn mưa các tháng mùa lũ tăng nhỏ hơn, chỉ từ 7 đến 9%, trong khi các
tháng mùa cạn giảm mạnh đến -28% với kịch bản A2, (Bảng 2.7-Bảng 2.9)
Xu thế biến đổi lượng mưa 50 năm đầu thế kỉ không có sự khác nhau nhiều
giữa các kịch bản. Như (Hình 2.3) cho thấy mức độ biến đổi lượng mưa giữa các kịch
bản khác nhau rõ rệt trong năm 2100 trong khi năm 2050 thì mức biến đổi lượng mưa
theo 3 kịch bản khá tương đồng.
43
Bảng 2.7. Tỉ lệ thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ nền tại các trạm khí tượng
( kịch bản A2)
Trạm Thời kỳ
Thay đổi lượng mưa (%)
tháng
Trung
bình
năm
Mùa
lũ
-27.7 -2.9 -1.9 7.2 10.9 6.3 5.1 7.5 15.0 3.5 6.7 -4.1
Kim
Cương
2020 -2039 -1.6 0.2
-0.16
-6.9 -0.8 -0.5 1.9 2.9 1.7 1.3 2.0 4.1 0.9 1.8 -1.1
2040 -2059 -2.7 0.4
-0.29
-12.0 -1.4 -0.9 3.3 4.9 2.9 2.3 3.4 6.9 1.5 3.1 -1.8
2060 -2079 -4.2 0.6
-0.44
-18.8 -2.1 -1.4 5.1 7.6 4.4 3.5 5.2 10.7 2.3 4.8 -2.9
2080 -2099 -6.0 0.9
-0.63
-26.9 -3.0 -1.9 7.2 10.8 6.3 5.1 7.5 15.1 3.2 6.8 -4.1
Bảng 2.8. Tỉ lệ thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ nền tại các trạm khí tượng
( kịch bản B2)
Trạm Thời kỳ
Thay đổi lượng mưa (%)
Tháng
Trung
bình
năm
Mùa
lũ
Mùa
cạn
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Hà Tĩnh
2020 -2039 -1.4 0.1 -0.08 -7.3 -0.5 -0.1 2.5 3.9 1.7 0.7 2.1 4.8 1.2 1.5 0.3
VIII IX X XI XII
Hà Tĩnh
2020 -2039
-
1.6
0.1
-
0.09
-8.2 -0.6 -0.1 2.8 4.4 1.9 0.8
2.
4
5.4 1.3 1.7 0.3
2040 -2059
-
2.4
0.2
-
0.14
-
12.4
-0.9 -0.1 4.2 6.7 2.9 1.2
3.
7
8.2 2.0 2.7 0.4
2060 -2079
-
2.9
0.2
-
0.17
2040 -2059
-
2.8
0.4
-
0.29
-
12.4
-1.3 -0.9 3.2 4.9 2.8 2.3
3.
3
6.8 1.6 3.0 -1.8
2060 -2079
-
3.4
0.5
-
0.35
-
15.3
-1.6 -1.1 4.0 6.0 3.5 2.8
4.
2
8.2 1.9 3.7 -2.3
2080
-2099
-
3.6
0.5
-
6.8 1.4 3.0 -1.9
2060 -2079
-
3.4
0.5
-
0.34
-
15.1
-1.6 -1.1 4.0 6.0 3.5 2.8
4.
1
8.2 1.8 3.8 -2.3
2080
-2099
-
3.6
0.5
-
0.38
-
16.5
-1.8 -1.2 4.3 6.5 3.8 3.1
4.
5
9.0 1.9 4.1 -2.5
47
Hình 2.3.Thay đổi lượng mưa(%)theo kịch bản 1 số trạm khí tượng tỉnh Hà
Tĩnh
2.3. BĐKH TÁC ĐỘNG TỚI DÒNG CHẢY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
Dòng chảy đến các trạm thủy văn và các lưu vực bộ phận trên sông của tỉnh
Hà Tĩnh được tính theo 3 kịch bản biến đổi khí hậu A2, B2, B1 và mỗi kịch bản được
tính cho các thời kỳ: nền(1980 - 1999), 2020 - 2039, 2040 - 2059, 2060 - 2079,
2080 - 2099.
a) Dòng chảy năm
Lượng dòng chảy năm trên toàn hệ thống sông trong tỉnh có xu hướng tăng ở
cả 3 kịch bản. Tuy nhiên sự biến đổi dòng chảy năm trên từng nhánh sông có sự khác
biệt.
Trong thời kỳ 2030 – 2039: mức độ thay đổi lưu lượng trung bình nhiều năm
giữa các kịch bản A2, B2 và B1 so với thời kỳ nền không khác nhau nhiều. Tại trạm
Yên Thượng trên sông Cả (giáp Nghệ An và Hà Tĩnh), dòng chảy trung bình năm
tăng từ 4.85 đến 5.39 (m
3
/s) (tương đương 0.9 ÷ 1.04 %) tùy theo từng kịch bản. Tại
trạm Hòa Duyệt trên sông Ngàn Sâu, lưu lượng trung bình nhiều năm giảm rất ít (0,
48 ÷ 0.55 m
3
/s).
Trong thời kỳ 2080 – 2089: Trên dòng chính sông Cả, dòng chảy tăng khá cao
so với thời kỳ 1980 – 1999. Theo kịch bản A2, lưu lượng trung bình năm tại Yên
Thượng là 546(m
3
/s), tăng 26(m
3
/s) so với thời kỳ nền (4.95%). Tương ứng với các
kịch bản B2, B1 lưu lượng trung bình năm tại trạm Yên Thượng là 539(m
3
/s) (tăng
3,62% ) và 531(m
3