PGS.TS. TRN THANH XUÂN - PGS.TS. TRN THC - TS. HOÀNG MINH TUYN
tác động của
BIẾn đỔI KHÍ HẬU
đẾn
tÀI ngUYÊn nƯỚc
VIEÄT NAM
tác động của
BIẾn đỔI KHÍ HẬU
đẾn
tÀI ngUYÊn nƯỚc
VIEÄT NAM
NHÀ XUT BN KHOA HC K THUT
class="bi x8 y9 w2 h6"
4
AMR Phương pháp thích ứng với biến đổi khí hậu cho
các lưu vực sông/Adaptation Methodology for river basin
ATNĐ Áp thấp nhiệt đới
BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐTM Đồng Tháp Mười
ENSO El Nino - Là khái niệm chỉ hai hiện tượng El Nino/Lanina và
Sourthern Oscillation (Dao động nam) ở Nam bán cầu.
GCM Mô hình Hoàn lưu Toàn cầu / Global Circulation Models/
Climate Models or General Circulation Models
IMHEN Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
(Vietnam Institute of Meteorology, Hydrology and Environment)
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)
KH KTTVMT Khoa học Khí tượng thủy văn Môi trường
KNK Khí nhà kính
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
(United Nations Chieldren’s Fund)
Viện KH KTTV& MT Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
XTNĐ Xoáy thuận nhiệt đới
7
T
rái đất đang nóng dần lên do nồng độ các loại khí nhà kính
trong bầu khí quyển đang có xu hướng tăng dần lên dẫn
đến biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác
động đến môi trường tự nhiên, mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đến
mọi người trên trái đất. Vì thế, biến đổi khí hậu là vấn đề kinh tế,
địa lý và chính trị trọng tâm của loài người trong thế kỷ XXI.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu nghiêm trọng nhất. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nặng
nề đến đời sống, sản xuất, môi trường, hạ tầng cơ sở, sức khỏe
cộng đồng ở nước ta. Chính vì vậy, Nhà nước coi việc xây dựng
chiến lược tổng thể ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển
dâng là vấn đề sống còn và đã sớm xây dựng Chương trình mục
tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Một trong những lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng của biến
đổi khí hậu là tài nguyên nước, nhất là tài nguyên nước mưa và
tài nguyên nước mặt. Do đó, để ứng phó với biến đổi khí hậu
trong lĩnh vực tài nguyên nước và các lĩnh vực có liên quan, các
nhà hoạch định chính sách, quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
cũng như các ngành có liên quan khác cần phải xét đến khả năng
tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước.
Cuốn sách này xin giới thiệu những thông tin cơ bản về tài nguyên
nước, biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu đến tài
nguyên nước và nhu cầu nước ở Việt Nam. Cuốn sách đã sử dụng
Lời nói đầu
quanh giá trị trung bình nhiều năm và thường biểu hiện bởi các pha
mưa nhiều (lớn hơn giá trị trung bình nhiều năm) và pha mưa ít
(nhỏ hơn giá trị trung bình nhiều năm) và tạo thành các chu kỳ mưa.
Đặc điểm này có thể nhận thấy từ đường tích lũy chuẩn sai lượng
mưa năm tại một số trạm khí tượng có chuỗi số liệu quan trắc trên
50-60 năm (hình 1.1).
Đặc điểm phân bố không đều của lượng mưa năm trong lãnh thổ
nước ta được phản ảnh qua bản đồ đường đẳng trị lượng mưa năm.
Hình 1.2 là sơ đồ đường đẳng trị lượng mưa năm trung bình giai
đoạn 1977 - 2008 trên phạm vi cả nước. Ở đây cần chỉ ra rằng,
chuỗi số liệu quan trắc các yếu tố khí tượng thủy văn tại các trạm là
không đồng đều, đặc biệt là giữa các trạm ở hai miền Bắc và Nam
(từ vĩ tuyến 17 trở vào). Nếu như hầu hết các trạm khí tượng thủy
văn ở miền Bắc được xây dựng và bắt đầu hoạt động từ cuối thập
niên 50, thập niên 60 của thế kỷ XX thì hầu hết các trạm ở miền
Nam được thành lập từ cuối thập niên 70, đầu thập niên 80. Do đó,
phần lớn các trạm đo mưa trong cả nước đều có số liệu quan trắc
đồng bộ trong giai đoạn 1977-2008. Tuy nhiên, lượng mưa năm
trung bình giai đoạn 1977-2008 so với lượng mưa năm trung bình
thời kỳ nhiều năm tại phần lớn các trạm đều nhỏ hơn.
11
Từ hình 1.2 cho thấy, do ảnh hưởng của địa hình và vị trí địa lý nên
lượng mưa năm trung bình giai đoạn 1977-2008 (Xo) phân bố rất
không đều trong lãnh thổ Việt Nam với đặc điểm mưa nhiều trên
các sườn núi đón gió mùa Đông Nam và Tây Nam và mưa ít trên
các sườn núi, cao nguyên, thung lũng và ven biển khuất gió. Do đó,
giá trị Xo trên lãnh thổ Việt Nam biến đổi trong phạm vi khá rộng,
từ (500-600) mm ở vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận đến
trên (4.000 – 5.000) mm ở một số khu vực núi cao.
Trung tâm mưa lớn nhất (4.000-5.000) mm xuất hiện ở một
Lượng mưa trung bình năm trung bình giai đoạn 1977 - 2008
trên toàn lãnh thổ nước ta khoảng 1960 mm hay 649 km
3
/
năm. Lượng mưa năm phân bố không đều giữa các hệ thống
sông (bảng 1.1). Hệ thống sông Thu Bồn có lượng mưa trung
bình lưu vực lớn nhất (2.970 mm), tiếp đó đến hệ thống sông
Đồng Nai (2.160 mm) và hai hệ thống sông Hồng, Mê Công
(1.870 mm), nhỏ nhất ở hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng (1490 mm),
tương đối nhỏ ở hai hệ thống sông Mã (1.630 mm) và Thái Bình
(1.590 mm). Trong hình 1.3 là sơ đồ phân bố của lượng mưa năm
trung bình thời kỳ 1977-2008 giữa các hệ thống sông trong lãnh thổ
Việt Nam.
(*) Ghi chú : Diện tích lưu vực trong lãnh thổ Việt Nam.
Th t
H thng sông /
sông đc lp
Din tích
lưu vc trong
nưc * (km
2
)
Lưng mưa năm trung
bình giai đon 1977-2008
mm km
3
1 Kỳ Cùng - Bằng Giang 11280 1490 11,68
2 Thái Bình 15180 1590 24,14
3 Hồng 72700 1870 135,95
3 Mã 17600 1630 26,89
3
, chiếm 20,94% tổng lượng mưa năm của cả nước),
sau đó đến hệ thống sông Mê Công (129,2 km
3
,chiếm 18,9%, kể
cả các sông nhánh ở các tỉnh Điện Biên, Quảng Trị và T.T.Huế),
rồi đến hệ thống sông Đồng Nai (85,65 km
3
, 13,19%), ít nhất ở
hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng (16,9 km
3
, chỉ chiếm 1,80%), rồi
đến hai hệ thống sông Thái Bình và sông Ba có W
o,m
xấp xỉ nhau
(24,2 km
3
), chỉ chiếm 3,72% (hình 1.4) [25].
16
Như trên đã nêu, một trong những đặc điểm quan trọng của mưa
ở nước ta là phân phối rất không đều trong năm. Hàng năm, mưa
biến đổi theo mùa: mùa mưa và mùa khô (mùa mưa ít). Hai mùa
này xuất hiện không đồng thời giữa các vùng. Theo chỉ tiêu ”vượt
trung bình”, tức mùa mưa là thời kỳ gồm các tháng liên tục có
lượng mưa tháng bằng hoặc lớn hơn lượng mưa năm với tần suất
xuất hiện từ 50% trở lên [22, 25], thì mùa mưa/mùa khô trong các
vùng ở nước ta như sau :
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V, VI và kết
các tháng VII - IX ở thượng nguồn sông Mã, sông Cả, sông Đồng
Nai và phần lớn các sông ở Tây Nguyên; các tháng VIII - X ở
phần phía Nam của Bắc Trung Bộ, thượng lưu sông Thu Bồn,
trung thượng lưu sông Ba, sông Đồng Nai và đồng bằng sông Cửu
Long, các tháng IX-XI ở ven biển miền Trung từ nam Hà Tĩnh
đến Khánh Hòa.
Tháng có lượng mưa trung bình tháng lớn nhất cũng xuất hiện
không đồng thời giữa các vùng, vào tháng VII hay VIII trên các
sông ở Bắc Bộ, có xu thế muộn dần từ bắc vào nam ở ven biển
Trung Bộ: tháng VIII hay IX ở Thanh Hóa, Nghệ An; tháng X từ
Hà Tĩnh đến Phú Yên và IX từ Khánh Hòa đến Bình Thuận; tháng
VIII ở Tây Nguyên và Nam Bộ.
18
Trong mùa khô, ba tháng liên tục có lượng mưa trung bình tháng
nhỏ nhất thường xuất hiện sớm vào các tháng XII, I-II ở Bắc Bộ
và phần phía bắc của Bắc Trung Bộ, Bắc Tây Nguyên; các tháng
I - III ở Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ; các tháng II - IV
ở ven biển Trung Bộ, từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa.
Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất thường xuất hiện vào
các tháng XII ở Bắc Bộ, tháng I ở Thanh Hóa, Nghệ An và Tây
Nguyên, một số nơi ở Đông Nam Bộ; tháng II ở Hà Tĩnh, ven
biển Nam Trung Bộ từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận và Đồng
bằng sông Cửu Long; tháng III ở khu vực ven biển miền Trung
từ Quảng Bình đến Bình Định.
Lượng mưa trung bình tháng trong thời kỳ quan trắc tại một số
trạm khí tượng được đưa ra trong bảng 1.2.
Cũng cần chỉ ra rằng, thời gian xuất hiện mùa mưa, mùa khô
và các giai đoạn đặc trưng khác nêu trên là thời gian xuất hiện
trung bình trong thời kỳ quan trắc. Thời gian xuất hiện của các
đặc trưng này trong một năm cụ thể nào đó có thể sớm hay muộn
16 Đồng Hới 1969-2008 57,3 40,3 39,6 51,0 121,0 84,0 73,0 166,1 434,0 634,8 333,4 118,0 2152,4
17 A Lưới 1973-2008 62,6 43,9 62,8 161,0 243,4 191,6 160,7 221,3 417,2 927,2 744,3 311,4 3547,4
18 Nông Sơn 1976-2006 62,8 36,5 31,4 88,6 227,3 202,5 155,2 190,8 330,4 696,2 594,6 274,8 2891,0
19 Sơn Hoà 1977-2009 25,6 10,0 35,3 37,6 148,0 111,1 85,6 111,0 214,6 432,7 404,4 128,3 1744,1
20 Nha Trang 1961-2009 36,1 14,9 34,1 38,1 86,8 52,9 38,9 53,2 176,9 309,9 340,5 151,5 1333,8
21 Phan Rang 1979-2009 2,9 2,9 12,2 19,5 70,5 55,9 49,2 52,7 145,9 151,3 160,8 71,0 794,9
22 Phan Thiết 1976-2009 0,5 0,2 7,0 30,2 161,6 142,5 184,5 173,7 190,6 146,6 58,5 18,5 1114,5
23 Đắc Tô 1978-2006 2,6 7,5 45,9 92,2 226,5 293,1 321,6 442,6 285,0 159,4 54,9 10,7 1942,0
24 Pleiku 1976-2009 3,1 5,6 28,1 89,5 236,9 337,2 384,0 485,5 374,2 200,1
67,9 9,2 2221,3
25 Buôn Ma Thuột 1977-2009 3,7 4,3 30,9 87,0 241,4 247,0 250,1 338,8 334,6 221,3 94,7 20,5 1874,4
26 Bảo Lộc 1977-2009 57,4 60,5 121,0 213,4 257,9 315,8 399,9 521,1 393,1 348,3 180,5 81,6 2950,5
27 Cần Thơ 1978-2009 7,5 3,9 17,0 39,3 166,7 210,9 228,7 215,9 249,9 275,6 149,5 42,8 1607,9
28 Rạch Giá 1979-2009 12,2 15,0 31,1 87,0 251,5 304,9 347,5 357,0 287,2 306,9 191,5 45,3 2237,1
29 Cà Mau 1979-2009 26,6 15,6 32,9 112,4 248,2 337,2 340,9 355,2 350,1 369,5 196,1 59,4 2443,9
Bng 1.2: Lưng mưa trung bình thi kỳ quan trc ti mt s trm khí tưng [25]
20
Nam Bộ, khá nhỏ (60-75%) ở ven biển Nam Trung Bộ và
khoảng (75-85%) ở Bắc Bộ và phần phía bắc của Bắc Trung Bộ
(Thanh Hóa, bắc Nghệ An).
Lượng mưa mùa khô chiếm khoảng 15-
40% tổng lượng mưa năm; tương đối nhỏ ở Tây Nguyên và Nam
Bộ, tương đối lớn ở ven biển miền Trung, do mùa khô ở đây kéo
dài tới 8, 9 tháng và trong mùa khô hàng năm thường có mưa tiểu
mãn vào các tháng V, VI.
Tổng lượng mưa của ba tháng liên tục có lượng mưa
trung bình tháng lớn nhất chiếm khoảng (25–50%) tổng lượng mưa
năm ở Tây Nguyên và Nam Bộ, (45–70%) ở ven biển Trung Bộ.
Lượng mưa trung bình tháng lớn
Kỳ Cùng V,VI - IX-X 78,2 VI-VIII 51,8 VII,VIII 18,6 XI-IV,V 21,8 XII,I-II 6,1 XII 1,13
Thái Bình V - IX 80,5 VI-VIII 51,7 VII,VIII 19,3 X - IV 19,5 XII,I-II 4,3 XII 1,17
Hồng V - IX,X 80,8 VI-VIII 51,6 VII,VIII 19,6 X,XI - IV 19,2 XII,I-II 4,3 XII 1,18
Mã V - X 83,2 VIII-X 53,8 VII, VIII,
IX
20,8 XI - IV 16,8 XII,I-II 4,3 XII, I 1,21
Cả V - X,
VIII - XI
74,3 VIII-X 55,9 IX,X 23,1 XI - IV,
XII-VII
25,7 I - III 5,7 I, III 1,55
Thu Bồn I X-XII,
VIII-XI
69,7 VIII-X,I
IX-XI
60,2 X 26,5 XII,I - VII,
VIII
30,3 I - III,
II - IV
4,2 II, III 1,22
Ba V-X,VII-XI, I
X-XII
76,5 VIII - X,
IX - XI
50,5 IX,X,XI 24,6 XI-IV,
XII-VI, I-VIII
23,5 I - III,
II - IV
3,6 I, II,
III