Kinh nghiệm xây dựng nếp học tập tích cực trong khâu soạn bài môn Ngữ Văn 8 - 2009-2010 - Pdf 27

T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
A. MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
Trong nhiều lónh vực của đời sống xã hội, yếu tố con người giữ một
vò trí hết sức quan trọng. Đặc biệt là thế hệ trẻ, những con người của thời
đại ngày càng có nhiều phát minh mới, sáng kiến mới phục vụ cho nhân
loại .
Hiểu được tầm quan trọng của yếu tố con người. Đảng và Nhà nước
ta luôn đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người
tài, là chỗ dựa của đất nước và ngành giáo dục là một trong những ngành
trọng điểm đảm nhiệm vai trò hết sức to lớn ấy.
Cùng với sự đổi mới và phát triển đa dạng của xã hội , để ngày càng
thực hiện tốt hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc “trồng người”,
ngành Giáo dục đã và đang có những đổi mới tích cực cả về nội dung chương
trình lẫn phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc dạy
học cũng như đáp ứng tốât nhất cho sự phát triển trí tuệ và kỹ năng của học
sinh .
Nếu như trước đây việc dạy học chủ yếu là truyền thụ kiến thức một
chiều từ giáo viên đến học sinh thì ngày nay việc học đã có những bước tiến
mới đó là việc lấy học sinh làm trung tâm. Đặc biệt là qua 8 năm thay sách
giáo khoa chương trình Phổ thông cơ sở đã đạt được mục tiêu đổi mới phương
pháp dạy học với yếu tố học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên, dạy học đổi mới
phương pháp đòi hỏi học sinh phải nổ lực rất nhiều so với phương pháp học
truyền thống. Để đảm nhiệm tốt vai trò trung tâm của mình cũng như nắm
vững những kiến thức mới, hiện đại gần gũi với thực tế đó học sinh phải có
một quá trình chuẩn bò tích cực, lâu dài. Đồng thời để hưởng ứng phong trào
xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà bộ Giáo dục và Đào
tạo đã ban hành thì học sinh cần phải phát huy tính tích cực, chủ động và sáng
tạo của mình nhiều hơn nữa trong học tập.
Để giải quyết vấn đề trên phù hợp với học sinh lớp mình phụ trách, tôi
đi sâu nghiên cứu đề tài: “Kinh nghiệm xây dựng nếp học tập tích cực trong

Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
-Công văn số 2032 về việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học các
môn Ngữ Văn, lòch sử, GDCD,…
-Chỉ thò 40 của bộ GD-ĐT về việc thực hiện phong trào xây dựng
“trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008-2013.
-Công văn số 11167/BGD-ĐT về việc hướng dẫn thực hiện đánh giá,
xếp loại học sinh trung học và sử dụng sổ gọi tên và ghi điểm.
2/ Cơ sở thực tiễn:
Thực tế học sinh lớp tôi phụ trách môn Ngữ Văn cho thấy hầu hết học
sinh đều có soạn bài (95%) trước ở nhà nhưng đa số các em còn soạn theo
cảm tính. Nghóa là các em nghó thế nào thì viết thế ấy chứ không theo một qui
trình nhất đònh nào, thậm chí có em viết sơ sài không trả lời cụ thể các câu hỏi
trong SGK. Do đó khi lên lớp các em ít dựa vào vở soạn để phát biểu xây
dựng bài. Tôi cho rằng sở dó học sinh chưa phát huy tính tích cực, chủ động
của mình là ví các em chưa có một phương pháp soạn bài hiệu quả. Do đó,
xây dựng nếp học tập tích cực của học sinh trong khâu soạn bài là yếu tố rất
cần thiết đòi hỏi sự nổ lực rất nhiều mặt ở cả giáo viên và học sinh.
3/ Nội dung vấn đề:
a/ Thực trạng việc học tập của học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn:
So với các môn học khác môn Ngữ Văn được đánh giá là một trong
những môn khó. Môn học này không chỉ phong phú về nội dung mà còn đa
dạng về hình thức, bởi lẽ nó đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc sống về thế
giới quan cũng như nhân sinh quan. Đọc một bài văn, một bài thơ, người ta có
thể “vui, buồn, mừng giận cùng những người ở đâu đâu, vì những chuyện ở đâu
đâu” ( Hoài Thanh, “Ýù nghóa văn chương”). Qua tác phẩm văn học, người ta
có thể học cách làm người, học cách giao tiếp, sử dụng từ ngữ, văn phong, học
trình bày tư tưởng, tình cảm một cách rõ ràng, mạch lạc và nó được phân chia
ra nhiều phân môn khác nhau, đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Đó là cái
hay của môn Ngữ Văn và cũng là cái khó của nó.
Chính vì vậy, học sinh tiếp thu kiến thức và cảm nhận được những vấn

Lớp TSHS Thời gian
(số tuần)
Số HS thường xuyên phát biểu Số HS ít phát biểu
8
1
38 1-4 16 (42.1%) 22 (57.9%)
8
1
38 5-8 20 (53%) 18 (47%)
8
2
36 1-4 15 (42%) 21 (48%)
8
2
36 5-8 22 (61.1%) 14 (39.9%)
Trước thực tế chất lượng học tập cũng như khâu soạn bài của học sinh
đối với bộ môn nêu trên, bản thân cho rằng có nhiều lí do khác nhau, có lí do
chủ quan cũng như khách quan. Trong đó, việc học sinh không biết cách soạn
bài trước ở nhà là nguyên nhân chính dẫn đến việc tiếp thu bài chậm, bởi vì
bài học mà học sinh soạn trước ở nhà là kiến thức mới. Vì vậy bản thân nhận
thấy rằng cần phải có biện pháp giúp học sinh phát huy tính cích cực của
mìng, đặc biệt ở khâu soạn bài nhằm đem lại kết quả học tập như mong đợi.
b- Biện pháp thực hiện:
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ Văn đòi hỏi sự tư duy, chuẩn bò
trước ở nhà. Tuy nhiên, nó cũng có đặc trưng riêng, đó là trí tưởng tượng
phong phú, óc quan sát và kỹ năng tích hợp nhạy bén. Cho nên thái độ học tập
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 4
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
tích cực, thói quen học bài cũ, soạn bài mới là yếu tố hết sức quan trọng và
hết sức cần thiết.

trong mỗi tiết dạy.
Theo kết quả khảo sát trong học kỳ I vừa qua, đa số học sinh không
soạn bà hoặc không biết cách soạn bài. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi nhận
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 5
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
thấy rằng sở dó học sinh không soạn bài hoặc soạn không đúng yêu cầu là
vì:
+ Các em không tích cực tư duy để trả lời câu hỏi.
+ Các em không có tài liệu tham khảo nào khác ngoài SGK (ở đây
không nói đến sách giải bài tập).
+ Các em không có một phương pháp soạn bài đúng.
Cho nên điều đầu tiên phải làm là hướng dẫn học sinh soạn bài.
Môn Ngữ Văn có 3 phân môn khác nhau nên việc hướng dẫn học soạn
bài cũng có những đăc trưng khác nhau:
* Đối với phân môn Ngữ Văn:
 Văn xuôi:
+ Giáo giên hướng dẫn học sinh đọc kó nội dung văn bản.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lời nói, cử chỉ, hàng động và
những chi tiết thể hiện thái độ của nhân vật cộng với việc phân tích một số
biện pháp nghệ thuật. Qua đó rút ra nhận xét chung về tích cách của nhân vật.
+ Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa dựa và những dẫn
chứng trong nội dung bài học.
Ví dụ: Văn bản: “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt Đèn” – Ngô Tất Tố),
SGK Ngữ Văn 8 tập 1.
Phân tích nhân vật Cai Lệ (câu hỏi 2/SGK/32)
Để phân tích tính cách nhân vật Cai Lệ, giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm và nhặt ra những chi tiết miêu tả lời nói, cử chỉ, hành động của hắn:
“ Gõ đầu rơi xuống đất, Cai Lệ thét bằng giọng khàn khàn của người hút
nhiều xái cũ:
- Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền

hỏi trong sách giáo khoa.
Ví dụ:
Để hiểu nghóa của câu “nó ăn những hai bát cơm”, học sinh cần liên hệ
đến đối tượng “nó” và câu nói được sử dụng trong những trường hợp nào để
rút ra ý nghóa của trợ từ “những”.
Thực hành:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề tài, liên hệ với kiến thức lý
thuyết để giải quyết.
 Đối với phân môn Tập làm văn:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kỹ nội dung từng phần của bài học,
sau đó dựa vào nội dung đó mà trả lời từng câu hỏi trong sách giáo khoa.
Ví dụ: đôc đ oạn văn (SGK/72.73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Trả lời câu hỏi 1 (SGK/73, ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 7
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong
đoạn văn trên, gạch dưới những từ ngữ, câu văn, hình ảnh, chi tiết miêu tả và
biểu cảm.
Câu 2 (SGK/73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Học sinh ghi ra các yếu tố tự sự, và so sánh với đoạn văn gốc, sau đó
nhận xét sự khác nhau giữa chúng. Từ đó rút ra kết luận về vai trò của yếu tố
miêu tả và biểu cảm.
Câu 3 (SGK/73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Đối chiếu đoạn 1 với đoạn 2 và tự nhận xét về nội dung đoạn văn. Từ
đó rút ra nhận xét về vai trò của yếu tố tự sự.
Phần này giáo viên ghi ngắn gọn vào bảng phụ:
 Chỉ ra yếu tố miêu tả, biểu cảm và tự sự.
 So sánh đoạn văn chỉ có yếu tố tự sự với đoạn văn trong sách giáo khoa.
 So sánh đoạn văn gốc với đoạn văn không có yếu tố tự sự.
 Rút ra vai trò của từng yếu tố trong đoạn văn.

Ngay từ đầu năm học, giáo viên thông báo kế hoạch kiểm tra vở học
và vở soạn cho học sinh nắm và thực hiện theo kế hoạch. Cuối mỗi tuần ,
giáo viên yêu cầu một số học sinh yếu kém (5-10 em) nộp vở học và vở
soạn để giáo viên kiểm tra. (tuỳ đặc điểm tình hình của lớp mà giáo viên có
thể linh hoạt kiểm tại trường hay về nhà). Việc kiểm tra tập của học sinh
diễn ra hàng tuần nên cũng không mất nhiều thời gian của giáo viên.
Để đảm bảo cho việc theo dõi mang tính chính xác, khách quan thì
giáo viên cần có sổ theo dõi kiểm tra tập của học sinh, cập nhật đầy đủ
thông tin (ưu điểm, khuyết điểm, hướng khắc phục và thời gian tái kiểm tra
để tiện theo dõi và nắm tình hình soạn bài của học sinh. Có thể tham khảo
theo mẫu dưới đây:
TT TG
Kiểm tra
Họ tên hs Ưu điểm Khuyết điểm Hướng khắc phục Tg tái kiểm
tra
*Song song với việc kiểm tra vở học và vở soạn của học sinh, giáo
viên cũng cần phân công một số học sinh khá – giỏi trong lớp kiểm tra việc
học bài của các bạn yếu kém và báo cáo hàng hàng buổi vào đầu mỗi tiết
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 9
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
học bộ môn (cập nhật vào sổ theo dõi nề nếp học tập của học sinh) để giúp
các em học tập tích cực hơn.
Đa số học sinh yếu kém thướng có thái độ lười học. Thậm chí học sinh
khá giỏi nhưng nếu giáo viên không kiểm tra trong thời gian dài thì các em
cũng sẽ có tâm lí chủ quan và giảm dần thời gian học tập. Từ đó chất lượng
sẽ giảm sút.
Người xưa có câu: “gieo hành vi s gt thói quen, gieo thói quen s gt
tính cách”. Hành vi và tính cách của học sinh hình thành và phát triển như
thế nào là do nhiều yếu tố tác động. Nó có thể phát triển theo hướng tích cực
hay tiêu cực. đây chỉ đề cập đến hành vi và thói quen soạn bài, nghóa là

Cuối học kì I và cuối năm, giáo viên dành một phần quà nhỏ để khen
thưởng những học sinh yếu đạt loại trung bình. Kế hoạch này giáo viên thông
báo cho học sinh ngay từ đầu năm học và đầu học kỳ II để học sinh có động
lực phấn đấu.
Sau đây là ví dụ minh hoạ cụ thể phần hướng dẫn soạn bài:
Ví dụ 1: Văn bản: “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt Đèn” – Ngô Tất Tố, sách
Ngữ Văn 8 – tập I), phân tích diễn biến tâm lí, hành động của chò Dậu, giáo
viên nêu hệ thống câu hỏi như sau:
(1) Tìm những câu văn thể hiện lời nói của chò Dậu nói với Cai Lệ?
(2) Chò Dậu xưng hô với Cai Lệ như thế nào?
(3) Liên hệ với lời kể của tác giả, nêu sự thay đổi thái độ của chò Dậu đối
với Cai Lệ?
(4) Đến lúc không thể nhòn được khi thấy anh Dậu bò đánh, chò Dậu đã
làm gì?
(5) Nhận xét của em về tính cách nhân vật chò Dậu?
Tiết 89
CÂU TRẦN THUẬT
1. Mục tiêu:
2. Phương pháp
3. Chuẩn bò:
4. Tiến trình lên lớp:
4.1 n đònh
4.2 Kiểm tra bài cũ
4.3 Bài mới:
4.4 Củng cố và luyện tập:
4.5 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:
Dựa vào văn bản “Chiếu dời đô” và câu hỏi trong sgk, trả lời các nội dung
sau đây:
+ Mục đích của việc dời đô.
+ Đòa thế thành Đại La.

thực hiện ở khâu dặn dò trong học kỳ I vừa qua. Và tôi luôn cố gắng hết mình
để đạt được kết quả tốt hơn trong thời gian sắp tới.
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 12
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
C. KẾT LUẬN:
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Sau 7 năm phụ trách giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 8 ở đơn vò, tôi nhận
thấy rằng môn học này đòi hỏi rất nhiều công sức học tập. Bởi nó không chỉ
đòi hỏi trí thông minh, óc quan sát và tưởng tượng tinh tế mà còn có sự yêu
thích của học sinh đối với môn học.
Để thực hiện các phương pháp nói trên, giáo viên phải có sự đầu tư thời
gian, công sức và sự nhiệt tình công tác.
đây không yêu cầu giáo viên thực hiện tất cả các phương pháp trên ở
tất cả các bài, các tiết trên lớp mà phải có sự sàn lọc, lựa chọn những phương
pháp phù hợp với tình hình thực tế của lớp. Tránh gây tác dụng phụ nếu không
sử dụng một cách phù hợp và linh hoạt.
2. HƯỚNG PHỔ BIẾN CỦA ĐỀ TÀI:
- Các phương pháp trên có thể sử dụng rông rãi để nâng cao hiệu quả
giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.
- Có thể áp dụng cho các lớp, các môn khác.
3. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP ĐỀ TÀI:
Vi nng lc va thi gian co han,Tôi xin đđc chia se một chut kinh
 !"hiệu qua.û V× thÕ t«i ®· ®i s©u
t×m hiĨu vµ vận dụng ở các kh#i lp.
Trên đây là một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh môn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 8 trường THCS Long Giang.
Trong đề tài này chắc chắn ít nhiều cũng có những điểm thiếu sót, rất mong
sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.

Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status