Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang từng bước đi theo con đường cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Với bước ngoặt là sự hội nhập WTO, Việt Nam đã
đánh dấu vị trí của mình trên thương trường quốc tế.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp phải tự tồn tại
và trang trải mọi chi phí kinh doanh bằng chính doanh thu của mình. Điều này
chứng minh quản trị tài chính hay nói cụ thể hơn là việc phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008 đến nay vẫn
chưa có những chuyển biến khởi sắc đã ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh
nghiệp Việt Nam. Là một doanh nghiệp kinh doanh, công ty cổ phần tập đoàn
Đại Phú Tài cũng gặp không ít khó khăn trong bối cảnh Nhà nước chuyển đổi
cơ cấu quản lý, chịu sức ép từ nhiều phía. Nhờ có sự nỗ lực và tinh thần đoàn
kết của tập thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên, công ty đã nhanh chóng
hòa mình vào nền kinh tế thị trường sôi động, giữ vững và mở rộng thị
trường.
Cũng nằm trong số các doanh nghiệp có doanh thu tăng trong cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, công ty cổ phần tập đoàn Đại Phú Tài
nhận thức rõ được vai trò của phân tích tài chính, lợi nhuận chính là chỉ tiêu
chính xác nhất để đánh giá quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ định hướng trên, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích tình hình hoạt động
tài chính của công ty cổ phần tập đoàn Đại Phú Tài” để làm bài khoá luận
tốt nghiệp của mình.
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
1
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
Kết cấu của khoá luận gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về tài chính và một số cơ sở lý luận
liên quan đến nghiệp vụ phân tích tài chính doanh nghiệp.
Chương II: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ
kỹ thuật tài chính tổ chức ngân hàng cũng như các thị trường tài chính.
Trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh nói riêng thì
khái niệm tài chính được hiểu như sau:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh doanh dưới hình thức
giá trị nảy sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội gắn liền với việc tạo
lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp cho yêu cầu sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội. Trong nền kinh tế
thị trường thì hệ thống các quan hệ kinh tế gồm 4 nhóm chỉ tiêu:
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
3
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
+ Quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị của doanh nghiệp với nhà nước,
tuỳ thuộc vào quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp. Nếu là quan hệ nhà nước
thì quan hệ biểu hiện 2 chiều:
- Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp có trách nhiệm sử
dụng vốn có hiệu quả và bảo toàn vốn.
- Doanh nghiệp phải có trách nhiệm trích nộp đầy đủ nghĩa vị cho nhà
nước như các loại thuế.
Với các loại hình doanh nghiệp khác thì quan hệ giữa doanh nghiệp và
nhà nước là quan hệ một chiều.
+Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường, doanh nghiệp vừa có
vai trò là người mua người bán và đóng vai trò người tái tạo, tạo lập, sử dụng
các quỹ tiền tệ.
+Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, quan hệ này chủ yếu là sự dịch
chuyển giá trị trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Nói chung 4 nhóm quan hệ trên đã bao quát toàn bộ những khía cạnh về sự
vận động của vốn. Tuy nó phản ánh những nội dung kinh tế khác nhau nhưng
chúng đều có chung những đặc trưng sau:
- Những quan hệ ấy đề là những quan hệ dưới hình thức giá trị
- Những quan hệ ấy đều nảy sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội
gian tài chính.
1.1.3 Vị trí của tài chính doanh nghiệp
Hiện nay vấn đề tài chính chiếm một vị trí rất quan trọng trong tất cả
các lĩnh vực chỉ là trong phạm vi vi mô (hệ thống tài chính của nền kinh tế)
Nếu xét trong phạm vi một doanh nghiệp người ta coi tài chính doanh
nghiệp là một công cụ quan trọng nhất để quản lý kinh doanh.
Nếu xét trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thì tài chính doanh
nghiệp như một cầu nối giữa nhà nước với doanh nghiệp. Bởi vì thông qua
mạng lưới tài chính doanh nghiệp, nhà nước có khả năng thực hiện các chức
năng quản lý vĩ mô để điều tiết nền kinh tế bằng hệ thống các luật thuế, đồng
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
5
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
thời qua mạng lưới tài chính mà doanh nghiệp mở rộng được nguồn thu, mở
rộng ngân sách phục vụ cho các lợi ích công cộng.
1.1.4 Các chức năng của tài chính
Bản chất của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các quan
hệ tài chính và biểu hiện ngay trong chức năng vốn của nó.
Tài chính doanh nghiệp có 2 chức năng: :
+ Chức năng phân phối dưới hình thức của cải xã hội.
+ Chức năng giám đốc bằng tiền mọi hoạt động của kinh doanh.
1.1.4.1 Chức năng phân phối
Là chức năng vốn có khách quan của tài chính doanh nghiệp, nó thể hiện
công dụng và khả năng của phạm thù tài chính trong việc phân phối dưới hình
thức giá trị của cải xã hội trên các khâu của quá trình tái sản xuất. Ở đây cần
làm rõ hai vấn đề.
+Tại sao chức năng phân phối lại được coi là chức năng vốn có, khách
quan của phạm trù tài chính?
+Quan niệm về đối tượng phân phối và phân phối. Sự xuất hiện của phạm
trù tài chính doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu trong nền kinh tế. Để tiến
dụng các quỹ, mục đích sử dụng và tính hiệu quả trong quá trình kinh doanh.
Tính chất khách quan của chức năng giám đốc xuất phát từ mục đích của
các doanh nghiệp là bỏ vốn kinh doanh thu lại lợi nhuận càng cao càng tốt và
vì vậy phải giám sát quá trình chi tiêu, quá trình đầu tư sao cho có hiệu quả.
Chức năng giám đốc tài chính là giám đốc bằng tiền thông qua các chỉ tiêu
tài chính. Bởi các chỉ tiêu tài chính phản ánh trung thực và toàn diện quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp. Nó đánh giá thực trạng về năng lực tài chính
của doanh nghiệp tại các thời kỳ nhất định, giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp
tăng cường quản lý và điều chỉnh hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Biểu
hiện tập trung nhất của chức năng giám đốc tài chính là giám đốc quá trình
hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
7
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
Quá trình phân phối sẽ tạo nên hàng loạt các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp,
nhưng các quỹ tiền tệ này được hình thành từ các nguồn tài chính hợp lý và sử
dụng phải có hiều quả, do vậy đây chính là công việc của chức năng giám
sát.Ví như, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau và trong quá trình kinh doanh nó thường xuyên biến động và được
bổ xung như vốn vay, phát hành trái phiếu, cổ phần, hoặc có thể điều chỉnh từ
nguồn vốn lưu động sang nguồn vốn lưu động trong nội bộ Khả năng giám
đốc tài chính cho phép người quản lý lựa chọn những quyết định tài chính
đúng đắn trong việc hình thành và sử dụng các nguồn tài trợ và các quỹ của
doanh nghiệp cho phép lựa chon những dự án đầu tư có hiệu quả và hạn chế
được các rủi ro trong kinh doanh.
Chức năng giám đốc tài chính trong doanh nghiệp còn giúp cho các nhà
quản lý ở các cấp có biện pháp làm lành mạnh hoá các quan hệ tài chính trong
quá trình kinh doanh.
Nói chung hai chức năng tài chính doanh nghiệp là phân phối và giám đốc có
mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nhờ có phân phối mà tài chính phải có giám đốc
lượng), để doanh nghiệp ra tăng lợi nhuận.
1.1.5.3 Sử dụng hiệu quả các ngân quỹ
Bên cạnh hai vai trò huy động, vai trò sử dụng tiền bạc của doanh nghiệp
vào các hoạt động phải đem lại lợi nhuận, đầu tư vào các tài sản phải có tỷ lệ
hoàn vốn cao. Không đầu tư vào những vụ đầu tư có độ rủi ro cao, những đầu
tư có thể làm mất khả năng chi trả các món nợ. Vai trò này cũng đòi hỏi phải
xác định được kế cấu hợp lý nhất giữa các loại vốn và nguồn vốn , giữa các
tài sản ngắn hạn và dài hạn mà doanh nghiệp nên thực hiện, hơn thế nữa phải
tìm được những cơ hội đầu tư tốt nhất, những tài sản cần có và nhu cầu thay
thế bổ sung những tài sản mới
1.1.5.4 Vai trò phân tích
Vai trò quan trọng khác của tài chính doanh nghiệp là thực hiện phân tích
tài chính, lập kế hoạch sử dụng vốn và nguồn vốn có kiểm soát các hoạt động
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
9
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
của doanh nghiệp bằng cách sử dụng kỹ thuật ngân quỹ và các kỹ năng kiểm
tra tài chính khác. Vai trò cũng chỉ ra khi phân tích phải xác định được những
điểm mạnh và yếu về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Để từ đó có thể
đầu tư tiền bạc một cách hợp lý nhất, đánh giá đúng nhu cầu gia tăng nhân lực
của doanh nghiệp để chống lại sự cạnh tranh bên ngoài.
1.1.6 Các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp
Khi sử dụng các nguồn lực tài chính bất cứ một doanh nghiệp nào cũng muốn
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhất là về mặt tài chính. Để sử dụng có hiệu
quả tài chính các doanh nghiệp thường đề ra các mục tiêu chính sau:
1.1.6.1 Tối đa hoá lợi nhuận:
Đây là mục tiêu chính của đa số các doanh nghiệp. Tuy nhiên không nên
đặt nó là mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp bởi bất cứ lúc nào cũng có thể
tối đa hoá lợi nhuận hiện tại bằng cách đưa ra những quyết định gây bất lợi
cho các hoạt động dài hạn. Chẳng hạn có thể thực hiện tối đa hoá lợi nhuận
chính các quỹ tiền tệ để phục vụ có hiệu quả cho những mục tiêu kinh doanh
trong những thời kỳ nhất định.
Trong cơ chế thị trường công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp bao gồm
nội dung cơ bản sau:
1.1.7.2 Tham gia thẩm định dự án kinh doanh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào những phương thức và mục tiêu của giám đốc hoặc hội đồng
quản trị doanh nghiệp (phân phối sản phẩm hợp lý, đổi mới kỹ thuật ) vạch
ra, trên cơ sở các dự án, dưới góc độ về tài chính phải thẩm định, phân tích về
khả năng thanh toán, lợi nhuận
1.1.7.3 Xây dựng những luận cứ để giám đốc về tài chính
Thực chất đề ra các quy định về tài chính là việc đề xuất hệ thống các biện
pháp tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu đã định
Những quyết định về tài chính thường là:
- Các quyết định về tài trợ dài hạn.
- Các quyết định về tài trợ cho phương án kinh doanh ngắn hạn.
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
11
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
- Các quyết định về điều chỉnh quy mô, kết cấu vốn của doanh nghiệp.
- Các quyết định về phân phối thu nhập, lợi nhuận và sử dụng các quỹ.
Tính đúng đắn của những quyết định trên đây sẽ có ảnh hưởng sống còn
đối với doanh nghiệp. Vì vậy việc xác định những luận cứ chính xác cho các
quyết định tài chính được coi là một nhiệm vụ then chốt. Để giúp cho lãnh
đạo có những quyết định tài chính đúng đắn bộ phận tài chính phải có đầy đủ
những dữ kiện về tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch tài chính doanh
nghiệp. Khả năng và nguồn tài chính của doanh nghiệp, những diễn biến và
xu thế của thị trường, nhà nước ở tầm vĩ mô, những thông tin kinh tế.
1.1.7.4 Xây dựng hệ thống kế hoạch tài chính và các biện pháp thực hiện kế
hoạch
Hệ thống kế hoạch tài chính trong doanh nghiệp bao gồm kế hoạch dài hạn
của doanh nghiệp để bù đắp chi phí bỏ ra đảm bảo kinh doanh có lãi. Để thực
hiện được điều ấy đòi hỏi việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải hướng vào
hàng loạt các việc khác như:
- Tận dụng khai thác các nguồn vốn
- Bảo toàn và phát huy đồng vốn
- Đầu tư, giám sát nhu cầu thị trường
1.1.8.3 Doanh nghiệp có quyền tự chủ về kinh tế, tài chính và tự chịu trách
nhiệm về hoạt động kinh doanh
1.1.8.4 Tài chính của doanh nghiệp phải thể hiện được trách nhiệm vật chất
và quyền lợi vật chất
Nguyên tắc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có trách nhiệm vật chất đối
với các khoản nộp nghĩa vụ cho nhà nước, có trách nhiệm trước pháp luật
trong kinh doanh, trách nhiệm thực hiện các hợp đồng kinh tế.
1.1.8.5 Nguyên tắc tín nhiệm về tài chính trong sản xuất kinh doanh
Đây cũng chính là đạo lý trong kinh doanh. “Chữ tín” không chỉ là một
tiêu chuẩn đạo đức trong đời thường mà còn là một nguyên tắc nghiêm ngặt
trong kinh doanh nói chung và trong công tác tài chính doanh nghiệp nói
riêng. Để giữ được chữ tín doanh nghiệp cần phải nghiêm túc tôn trọng kỷ
luật thanh toán, chi trả phải bảo đảm rõ ràng, chính xác trung thực và đúng
thời hạn. Mặt khác trong kinh doanh cũng cần tỉnh táo đề phòng sự gian dối
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
13
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
bội tín của đối phương.
1.2 Một số cơ sở lý luận liên quan đến nghiệp vụ phân tích tình hình tài chính
của công ty Đại Phú Tài
1.2.1 Khái quát về phân tích tài chính của công ty
1.2.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
về số liệu tài chính hiện hành với các số liệu được chọn trước (tuỳ theo yêu
tức thời của doanh nghiệp. Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay
tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu. Bởi vì, số vốn
chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp
rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin đó cho thấy người
vay không đảm bảo chắc chắn rằng các khoản vay đó có thể và sẽ được thanh
toán khi đến hạn. Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố
như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn Vì
vậy, họ cần những thông tin và điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết
quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời, các
nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả
của công tác quản lý. Những điều đó nhằm bảo đảm sự an toàn và tính hiệu
quả cho các nhà đầu tư.
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, (chủ sở hữu), các nhà quản lý, các nhà
đầu tư, các chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm người khác quan tâm đến
thông tin tài chính của doanh nghiệp. Đó là các cơ quan tài chính, thuế, thống
kê, chủ quản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động Những
nhóm người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống các chủ ngân hàng, các
nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp , bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách
nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.
1.2.1.3 Đối tượng nghiên cứu của việc phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
15
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
Là những kết quả kinh doanh cụ thể được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh
tế thông qua bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.2.2 Nội dung và phương pháp phân tích hoạt động tài chính
1.2.2.1 Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích hoạt động tài chính bao gồm một hệ thống các
∆
a= a1 –a0
Hay
∆
’a = a1 / a0 * 100% -100
Trong đó : a1 : các chỉ tiêu thực tế
a0 : các chỉ tiêu kế hoạch
∆
a : số chênh lệch tương đối
∆
’a : số chênh lệch tuyệt đối
So sánh bằng số tuyệt đối sẽ cho ta biết được khối lượng quy mô mà doanh
nghiệp đạt được vượt mức hay hao hụt của các chỉ tiêu kinh tế giữa kỳ phân
tích với kỳ gốc. So sánh bằng số tương đối phản ánh kết cấu mối quan hệ tốc
độ phát triển và mức độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế.
- So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định số chênh lệch giữa giá trị của chỉ
tiêu kỳ phân tích với giá trị của chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy
sự biến động của hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
- So sánh bằng số tương đối: là xác định số % tăng (+) giảm (-) giữa thực
tế so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích hoặc chiếm tỷ trọng của một hiện
tượng kinh tế trong tổng thể quy mô chung được xác định để đánh giá
được tốc độ phát triển hoặc kết cấu, mức phổ biến của hiện tượng kinh tế.
- So sánh bằng số bình quân: Khi so sánh bằng số bình quân sẽ cho thấy
mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể ngành. Ví
dụ: tiền lương bình quân, vốn kinh doanh bình quân
* So sánh các chỉ tiêu thực tế với nhau
Có hai cách so sánh:
- So sánh định gốc: với một số các chỉ tiêu kinh tế không có điều kiện lập
1.2.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.2.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
18
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
Việc phân tích tình hình tài chính đòi hỏi sử dụng nhiều tài liệu và
thông tin khác nhau nhưng trong đó chủ yếu là báo cáo tài chính, báo cáo tài
chính rất hữu ích với việc quản trị doanh nghiệp đồng thời là nguồn thông tin
tài chính chủ yếu đối với người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính không
những cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà
còn cho thấy những kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được. Việc phân
tích báo cáo tài chính là tiến trình chọn lọc tìm hiểu tương quan và thẩm định
các dữ kiện trong báo cáo tài chính.
Hệ thống báo cáo tài chính gồm:
- Bảng cân đối kế toán.
- Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Thuyết minh báo cáo tài chính.
• Bảng cân đối kế toán: là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình
hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân loại cấu thành vốn và
nguồn hình thành vốn hiện có của doanh nghiệp ở các thời điểm nhất định
dưới hình thái tiền tệ.
Cả hai phần tài sản và nguồn vốn đều bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài
chính phát sinh, phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn. Các chỉ tiêu
được sắp xếp thành từng muc, khoản theo một trình tự lôgic khoa học, phù
hợp với yêu cần quản lý.
Hai phần tài sản và nguồn vốn phải có số tổng cộng bằng nhau vì phản ánh
cùng một tài sản
Tài sản = nguồn vốn
Hay tài sản = vốn chủ sở hữu + công nợ phải trả
toán thể hiện các nguồn hình thành tài sản mà doanh nghiệp hiện có.
• Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh khái quát tình hình và kết quả kinh doanh cũng như tình hình
thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước.
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
20
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
* Khái niệm và mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản
thu và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chính.
Mục đích của báo cáo là nhằm trình bày cho những người biết tiền tệ được
tạo ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng như thế nào trong kỳ
báo cáo.
* Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồm 3 phần chính sau:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp (hay là các hoạt động chức năng của doanh nghiệp)
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
• Bản thuyết minh bổ sung báo cáo
Bản thuyết minh bổ sung báo cáo tài chính là báo nhằm thuyết minh và
giải trình bằng lời, bằng số liệu, một số chỉ tiêu kinh tế – tài chính chưa được
thể hiện trên báo cáo tài chính. Bản thuyết minh bổ sung báo cáo gồm các
thông tin như đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, chế độ kế toán áp dụng ở
doanh nghiệp và chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo kế toán như chi phí,
triển tối đa hoá lợi nhuận. Còn đối với nhà đầu tư là các quyết định về tài trợ,
đầu tư, khả năng thu hồi vốn
1.2.3 Nội dung phân tích báo cáo tài chính.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế phát
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
22
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đinh Đăng Quang
sinh trong quá trình kinh doanh được được biểu thái dưới dạng tiền tệ.
Việc tiến hành phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho người sử dụng
thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính, xác định rõ nguyên nhân
và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính và tình hình
kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp hữu hiệu và ra quyết định
cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh và nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Việc phân tích báo cáo tài chính gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Phân tích bảng cân đối kế toán.
- Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- Phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư.
- Phân tích mức độ đảm bảo vốn cho kinh doanh.
- Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời.
- Đánh giá doanh nghiệp.
1.2.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp là việc xem xét nhận
định về tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan hay không khả quan.
Nguồn vốn chủ sở hữu
*Tỷ suất tài trợ =
Tổng số nguồn vốn
Chỉ tiêu này càng cao, càng chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp bởi vì hầu
hết tài sản doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn của mình.
- Xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn, cơ cấu vốn đó tác động như thế nào
đến quá trình kinh doanh. Muốn làm được điều này, trước hết phải xác
định được tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản. Sau đó, so sánh
tỷ trọng từng loại giữa cuối kỳ với đầu năm để thấy được sự biến động của
cơ cấu vốn. Khi phân tích cần lưu ý đến tính chất của từng loại tài sản đến
quá trình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ. Có như
vậy mới đưa ra được các quyết định hợp lý về phân bổ vốn cho từng giai
đoạn, từng loại tài sản của doanh nghiệp.
Phạm Thị Huyền Trang Viện ĐH Mở Hà Nội
24
Khoỏ lun tt nghip GVHD: PGS.TS inh ng Quang
- Xem xột mi quan h cõn i gia cỏc ch tiờu trong bng cõn i k toỏn:
N ngn hn = Ti sn lu ng v u t ngn hn
TSC v u t di hn = Ngun vn ch s hu + Vay di hn
- Nu doanh nghip t c s cõn bng trờn thỡ cú th thy kh nng t ti
tr cỏc loi ti sn doanh nghip tt, mang li s an ton v mt ti chớnh.
1.2.3.3 Phõn tớch bỏo cỏo kt qu hot ng kinh doanh
kim soỏt cỏc hot ng kinh doanh v hiu qu kinh doanh ca doanh
nghip cn i sõu phõn tớch tỡnh hỡnh bin ng ca cỏc khon mc trong bỏo
cỏo kt qu kinh doanh khi phõn tớch cn tớnh ra v so sỏnh mc v t l bin
ng ca k phõn tớch so vi k gc trờn tng ch tiờu. ng thi so sỏnh tỡnh
hỡnh bin ng ca tng ch tiờu vi doanh thu thun.
1.2.3.3.1 Nhúm ch tiờu phn ỏnh mc s dng chi phớ:
* T sut Tr giỏ vn hng bỏn
giỏ vn hng bỏn = ì 100%
trờn doanh thu thun Doanh thu thun
*
T sut chi phớ bỏn hng
trờn doanh thu thun
=
gộp nhuậnLợi
ì 100%
25