Bồi thường nhà nước: giới hạn và điều kiện
Một đạo luật về bồi thường nhà nước đang được soạn thảo và dự kiến sẽ được Quốc hội
cho ý kiến trong thời gian tới. Từ một góc nhìn so sánh, đặc biệt với pháp luật Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa liên bang Đức, chúng tôi góp vài suy nghĩ về giới hạn và
điều kiện của trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với thiệt hại đã gây ra cho người
dân do các hành vi vi phạm nghĩa vụ của công chức khi thừa hành công vụ.
Vào thời điểm hiện nay, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận trách nhiệm bồi thường của
nhà nước ở nhiều cấp độ văn bản pháp luật khác nhau. Ý niệm chung về trách nhiệm đó đã
xuất hiện tại Điều 74 khoản 4 Hiến pháp 1992, các Điều 619, 620 Bộ luật Dân sự 2005
(BLDS 2005) quy định chi tiết hơn về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cơ quan tố tụng
gây hại cho cá nhân và tổ chức, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định bồi thường cho công dân khi bị khởi tố hoặc chịu án oan sai.
Ngoài ra còn các quy định tản mạn khác, như Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 về
trách nhiệm của thẩm phán khi quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Như vậy, dù chưa có một đạo luật riêng, nhưng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã
bước đầu được ghi nhận bằng nhiều văn bản pháp luật. Trên thực tế đã xuất hiện một số vụ
kiện đòi cơ quan tố tụng bồi thường cho người chịu án oan sai theo Nghị quyết 388 được
trích dẫn ở trên. Đi xa hơn những ghi nhận pháp lý kể trên, trong xã hội đang có những
tranh luận dưới đây:
(i) Chính sách lớn mà sai thì ai chịu, ví dụ những chính sách lớn liên quan đến đầu tư
công, mở rộng công nghiệp hóa mà quá thu hẹp đất trồng lúa của nông dân, ô nhiễm suy
thoái môi trường. Kể cả trong các chính sách giáo dục lớn, các cuộc cải cách giáo dục chưa
giúp cho nguồn nhân lực Việt Nam có năng lực cạnh tranh hơn để đáp ứng yêu cầu công
việc (ví dụ mới đây cho thấy, trong 2000 người dự tuyển vào làm cho hãng Intel đặt tại
Việt Nam, phần lớn là cử nhân các trường kỹ thuật, hãng này chỉ chọn được 90 người; như
vậy chưa đầy 5% cử nhân đáp ứng yêu cầu công việc). Nếu những chính sách này chưa
trúng và chưa đúng, gây hậu quả nặng nề và lâu dài, thì nhà nước có bồi thường không, và
bồi thường cho ai?
(ii) Trách nhiệm của người làm công tác lập pháp sẽ như thế nào, nếu họ có lỗi trong
làm luật, ví dụ cách hành văn của Pháp lệnh Dân số một thuở đã gây ra vô số hiểu lầm, hay
mới, chính quyền cũ có thể được thay thế bằng chính quyền mới, người dân chỉ có thể
dùng tới các công cụ của trách nhiệm giải trình và trách nhiệm chính trị (trưng cầu dân ý,
bỏ phiếu, điều trần, biểu tình, tẩy chay...) mà không thể dùng tới trách nhiệm pháp lý khởi
kiện chính quyền vì những chính sách sai. Về nguyên tắc, các cơ quan lập pháp, lập quy
không phải chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại. Một thứ trách nhiệm đền bù ấy, nếu có quy
định, cũng rất khó áp dụng, khó khả thi.
- Loại trừ những vấn đề kể trên ra, chỉ còn hai loại trách nhiệm bồi thường đáng kể,
trước hết là của cơ quan cảnh sát và công tố (điều tra, khởi tố, bắt giam oan sai) và cơ quan
hành chính (đền bù giải tỏa mặt bằng, hành chính hóa tranh chấp, can thiệp sai thẩm quyền,
thoái thác nghĩa vụ... gây thiệt hại cho người dân). Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước có
lẽ nên tập trung vào hai lĩnh vực này, thu nạp toàn bộ nội dung của Nghị quyết 388 và bổ
sung các phần liên quan đến bồi thường nhà nước trong việc hành chính, xây dựng một
chương trọng tâm là các nguyên tắc và cách xác định mức bồi thường, đảm bảo tố quyền
cho người dân khi không hài lòng với quyết định bồi thường của cơ quan nhà nước.
- Tòa án và các thẩm phán về cơ bản được tự do phán xử, người dân nếu không hài
lòng với các bản án có thể tiếp tục kháng án theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.
Các thẩm phán về cơ bản không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người dân về các
bản án mà mình đã tuyên, trừ khi thẩm phán cố ý phạm các tội danh tư pháp khi xét xử.
Luật Bồi thường của Trung Quốc chỉ giới hạn trong việc hành chính và hình sự, không
bao gồm đền bù của quân đội, cơ quan lập pháp và chính phủ. Đức cũng đã ban hành một
đạo luật về bồi thường nhà nước có hiệu lực từ 01/01/1982, song bị Tòa án hiến pháp của
nước này hủy ngay trong tháng 10 cùng năm đó, vì lý do Liên bang không có quyền này.
Hiện trạng hiện nay ở Đức là ngoài một số ít quy định chung áp dụng cho toàn liên bang,
các tiểu bang có thể quy định khác nhau. Nguyên tắc chung theo luật Đức là: Công chức
về nguyên tắc tự chịu trách nhiệm cho mọi thiệt hại do mình gây ra, Điều 839 BGB, trừ
trách nhiệm bồi thường nhà nước trong các trường hợp được xem là hợp với Điều 34 Luật
Cơ bản Đức. Theo đó, các nguyên tắc chung để áp dụng bồi thường nhà nước theo pháp
luật Đức như sau:
- Có hành vi của công chức nhà nước (khái niệm công chức theo ngữ cảnh này được
hiểu rộng, bao gồm công chức theo Luật Công chức, viên chức, người làm công trong
Trung Quốc, song thời hạn để phải gửi đơn ra tòa sau khi thương lượng không thành là khá
ngắn (3 tháng, Điều 13§). Các quy định về chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh cũng còn khá
sơ sài.
Một chương riêng được quy định với việc hình, kế tiếp là chương xác định các nguyên
tắc xác định mức bồi thường. Mức này được xác định riêng cho các thiệt hại liên quan đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự và các quyền con người, và một cách riêng cho các thiệt hại
tài sản. Có vẻ như người Trung Quốc không quy định nguyên tắc chung là chỉ bồi hoàn
bằng tiền, mà nguyên tắc in natura cũng được áp dụng đối với việc phải trả lại nhà cửa đã
bị thu hồi, Điều 28.1, Điều 28.3 - trả lại sản hữu, phục hồi nguyên trạng.
Trở lại thực tế Việt Nam, qua quan sát vụ Hoàng Minh Tiến kiện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Hà Nội ra Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, (xử ngày 16/06/2005) có thể
thấy tòa án chỉ chấp nhận một trong số 13 yêu cầu của nguyên đơn, 12 điểm bị bác chủ yếu
liên quan đến xác định bồi thường thiệt hại vật chất. Từ đây cho thấy một nội dung rất
quan trọng trong Luật Bồi thường nhà nước là phải quy định các nguyên tắc xác định thiệt
hại, xác định mức bồi thường, tỷ giá tính toán thiệt hại do lạm phát và các biến đổi khác
như cơ hội đã mất, lợi nhuận có thể ước đoán. Nguyên tắc càng rõ càng tốt cho người dân
khi thương lượng và khởi kiện, cũng tiện cho tòa nếu muốn phán quyết vì người dân.
Cũng như vậy, có một vấn đề thuộc về tố tụng, đó là nghĩa vụ chứng minh chứng cứ
của bên khởi kiện đòi bồi thường nhà nước. Người dân thường rất khó có đủ chứng cứ để
chỉ ra sai phạm của cơ quan nhà nước hoặc công chức thừa hành công vụ, nhất là khi bị
can bị mớm, ép cung, bị đánh đập trong các trại tạm giam, hoặc người kinh doanh bị tịch
thu hết sổ sách. Khả năng sưu tầm và nại ra bằng chứng của họ rất yếu. Người làm luật có
thể suy tính giúp họ qua một quy định tạo điều kiện đảo ngược nghĩa vụ chứng minh hoặc
can thiệp để họ có thể tiếp xúc, truy cập các nguồn bằng chứng.
Trên đây là một số ý kiến góp phần tranh luận về các chính sách chính của Dự thảo Luật
Bồi thường nhà nước đang được soạn thảo. Chúng tôi cho rằng, nên tranh luận để thống
nhất rộng rãi về các chính sách lớn của dự luật này, trước khi bắt tay vào việc soạn các
điều khoản cụ thể. /.