Trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án
Thi hành án (THA) là hoạt động có khả năng gây thiệt hại tương đối phổ biến. Trong quá
trình tổ chức THA, việc áp dụng các quyết định cũng như thực hiện hành vi của người có
thẩm quyền đều có nguy cơ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan. Thực tế
nhiều năm qua cho thấy, các quy định về giải quyết bồi thường thiệt hại do cơ quan nhà
nước nói chung, trong đó có thiệt hại do cơ quan THA gây ra đã bộc lộ nhiều bất cập. Việc
ban hành Luật Bồi thường nhà nước (BTNN) nhằm giải quyết thực trạng này là cần thiết.
Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu mong muốn, thì nhiều nội dung của dự thảo Luật,
trong đó có các quy định về BTNN trong lĩnh vực THA cần được cân nhắc thêm.
1. Pháp luật hiện hành về bồi thường nhà nước trong thi hành án
1.1. Bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân sự
(THADS) được hình thành trên cơ sở Pháp lệnh THADS năm 1989. Trong Pháp lệnh
không quy định trực tiếp vấn đề này, nhưng Điều 18 của Quy chế chấp hành viên được ban
hành kèm theo Nghị định số 68-HĐBT ngày 06/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) có nêu: chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, vi
phạm phẩm chất đạo đức, thì bị xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, miễn nhiệm, buộc thôi
việc, chịu trách nhiệm về vật chất) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại các Pháp lệnh THADS năm 1993 và 2004, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
chấp hành viên tiếp tục được cụ thể hóa. Theo Điều 14, Điều 47 của PLTHADS năm 1993,
chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, trì hoãn việc THA, áp
dụng biện pháp cưỡng chế THA trái pháp luật; vi phạm phẩm chất đạo đức của người chấp
hành viên, thì bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải
bồi thường.
Khoản 4, Điều 67 của PLTHADS năm 2004 cũng quy định, thủ trưởng cơ quan THA cố
ý không ra quyết định THA hoặc ra các quyết định về THA trái pháp luật; chấp hành viên
không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, áp dụng biện pháp cưỡng chế THA trái
pháp luật, vi phạm quy chế chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Như vậy, theo các văn bản pháp luật này, trong THADS chưa xác định chế độ trách
nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước gây thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhất là các trường hợp thiệt hại do cơ quan THADS gây ra trong thời gian qua, đó là:
Về tính chất của việc giải quyết bồi thường thiệt hại do cơ quan THADS gây ra: hiện
vẫn chưa có sự thống nhất về quan điểm xác định bản chất pháp lý của hoạt động THADS,
nhưng đa số ý kiến cho rằng, từ năm 1989 đến nay, trong hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật đã có sự tách biệt rõ giữa quá trình tố tụng với hoạt động THADS. Xét về nhiều tiêu
chí, hoạt động THADS không hội tụ đủ các yếu tố của một giai đoạn tố tụng (có ý kiến xếp
hoạt động này thuộc loại hành chính - tư pháp). Mặc dù đối tượng và mức độ gây thiệt hại
có thể giống nhau, nhưng tính chất gây thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng hoàn toàn
khác biệt với cơ quan THADS; do đó, Nghị định 47/CP đồng nhất hoạt động THADS như
một giai đoạn tố tụng và quy định chung về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại của cả ba
loại cơ quan: tố tụng, hành chính và THA là không hợp lý. Hơn nữa, Nghị định 47/CP là
văn bản hướng dẫn thi hành BLDS năm 1995, sau khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, việc
các cơ quan vẫn áp dụng Nghị định này là không có cơ sở.
Về thủ tục: có thể nói, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại được quy định tại Nghị
định số 47/CP vừa mâu thuẫn, vừa thiếu một cơ chế bảo đảm khả thi; vì vậy, quyền, lợi ích
của cả người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại đều không được bảo đảm. Điều này thể
hiện qua một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất, việc xác định mức độ thiệt hại được thực hiện theo cơ chế “hội đồng” (do
chính thủ trưởng cơ quan của người gây ra thiệt hại làm chủ tịch - Điều 7, Điều 8 của Nghị
định 47/CP), khó bảo đảm sự khách quan.
- Thứ hai, hội đồng xét giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài việc xem xét, đánh giá mức
độ thiệt hại còn có thẩm quyền xác định trách nhiệm dân sự của các bên để kiến nghị với
thủ trưởng cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định mức bồi thường và
phương thức bồi thường thiệt hại (2). Có thể nói, ở đây, “hội đồng” là một cơ chế tài phán,
có thẩm quyền quyết định cả về nội dung và hình thức. Trong khi đó, Điều 6 của Nghị định
lại quy định: “trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về việc bồi
thường thiệt hại hoặc các bên không thực hiện nghiêm chỉnh thỏa thuận, thì các bên có
quyền yêu cầu tòa án giải quyết”. Như vậy, trong cùng một thủ tục giải quyết bồi thường
thiệt hại có tới hai cơ chế giải quyết, vừa mâu thuẫn về nội dung, vừa chồng chéo về thẩm
quyền.
phạm vi cơ quan an ninh điều tra và cảnh sát điều tra hoặc các đơn vị an ninh, cảnh sát
khác đã ra quyết định tạm giữ người, kê biên tài sản hoặc ra lệnh thu giữ, tạm giữ, tịch thu
tài sản gây thiệt hại, mà không có hướng dẫn bồi thường thiệt hại do cơ quan THAHS gây
ra.
Vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại trong THAHS đã được đặt ra trong quá trình xây
dựng Bộ luật THA trước đây, nay được cụ thể hóa trong dự thảo Luật BTNN. Tuy nhiên,
để bảo đảm tính khả thi của các quy định của luật về vấn đề này, thiết nghĩ, một số vấn đề
về lý luận cũng như thực tiễn cần phải tiếp tục làm rõ, thậm chí ở phạm vi nhất định, phải
có sự thay đổi rất cơ bản cách tiếp cận lâu nay về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà
nước.
Có quan niệm cho rằng, không nên quy định về BTNN trong THAHS bởi lẽ: đối chiếu
với quy định tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992, thì chỉ những người bị bắt, bị giam giữ,
bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục
hồi danh dự. Người phải chấp hành án hình sự là người có tội, với việc phải chấp hành
hình phạt theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, bản thân người đó đang phải chịu
sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của Nhà nước, bị tước toàn bộ hoặc một số quyền công
dân. Chính vì vậy, việc quy định bảo vệ quyền lợi cho đối tượng đặc biệt này cần phải trả
lời câu hỏi đã từng là quan niệm của nhiều người là: tại sao phải bảo vệ quyền lợi cho
những kẻ đang bị pháp luật trừng trị, trong khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bình
thường còn chưa có cơ chế bảo đảm hữu hiệu? Vì vậy, các văn bản pháp luật về THA phạt
tù và các hình phạt khác không nên quy định về bồi thường thiệt hại trong THAHS là hợp
lý.
Ở một thái cực khác, nhiều ý kiến cho rằng, xét về bản án, cho dù người phải chấp hành
án không thuộc các trường hợp bị oan, nhưng thiệt hại của họ là do cơ quan THAHS sai
gây ra. Mặt khác, đối tượng này có thân phận không còn quyền như những công dân bình
thường, nên trong quá trình chấp hành án dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, quyền tự
do cá nhân, tài sản… Hơn nữa, bên cạnh hệ thống hình phạt rất nghiêm khắc, Bộ luật Hình
sự năm 1999 (BLHS) vẫn thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước ta, cụ thể ở các quy định bảo
đảm những quyền chính đáng của người bị kết án. Ví dụ: Điều 35 của BLHS quy định
không THA tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
thiệt hại trong hoạt động THADS được xác định rất rộng. Về nguyên tắc, mọi cơ quan, tổ
chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật THADS mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
(Điều 10). Theo đó, toàn bộ các quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS,
Chấp hành viên trong quá trình tổ chức THA đều có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Điều 140 Luật THADS quy định: trong quá trình tổ chức THA, đương sự,