Quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước - Pdf 27

Quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước
Một trong những nội dung quan trọng của dự án Luật Bồi thường nhà nước (BTNN) do
Chính phủ trình xin ý kiến Quốc hội khoá XII tại kỳ họp thứ 4 (tháng 11t/2008) là vấn đề
quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về BTNN. Giải trình về vấn đề này, Tờ
trình số 161/TTr-CP ngày 13/10/2008 của Chính phủ về Dự án Luật BTNN cho rằng: “hoạt
động bồi thường nhà nước được xem là một nhiệm vụ mới của Nhà nước, nên dự thảo
Luật có quy định về nội dung quản lý và cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với
hoạt động này (Điều 10 và Điều 11). Việc quy định về cơ quan quản lý nhà nước đối với
hoạt động bồi thường nhà nước sẽ góp phần khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập hiện
nay, trong đó có hạn chế liên quan đến việc do không có cơ quan thực hiện trách nhiệm
xây dựng, ban hành, phổ biến và tổ chức, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước; hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường nhà
nước; theo dõi, kiểm tra việc giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm của nhà nước để báo
cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc về thể chế
và tổ chức thực thi nên đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của các quy định của Hiến
pháp và pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong thời gian
qua”.
Theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của dự thảo Luật, thì nội dung quản lý nhà nước
về BTNN gồm “1. Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về BTNN; 2. Bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết BTNN; 3. Theo
dõi, thống kê việc thực hiện trách nhiệm BTNN; 4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các
quy định về BTNN và giải quyết khiếu nại, tố cáo; 5. Hợp tác quốc tế về giải quyết
BTNN”.
Được giao nhiệm vụ giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BTNN,
ngoài việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước nói trên, Bộ Tư pháp còn có nhiệm vụ
“xác định cơ quan giải quyết bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại do người thi hành
công vụ thuộc các cơ quan nhà nước ở trung ương gây ra trong hoạt động quản lý hành
chính và thi hành án; có ý kiến về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải quyết BTNN
theo yêu cầu của cơ quan giải quyết BTNN”. ở trung ương, có tổ chức giúp Bộ trưởng Bộ
Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn có liên quan về BTNN được thành lập và hoạt
động theo quy định của Chính phủ. ở địa phương, việc quản lý nhà nước về BTNN được

trách nhiệm giải quyết bồi thường như trong một số trường hợp hiện nay, dự thảo Luật đã
đưa ra quy định về thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc BTNN”.
Dự luật đã giao thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết BTNN đối với các thiệt hại trong
hoạt động quản lý hành chính và thi hành án cho cơ quan quản lý nhà nước về BTNN là Bộ
Tư pháp và UBND cấp tỉnh.
Có thể nói, một trong những lý do quan trọng phải tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về
BTNN đó là việc cần phải có một cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định cơ quan có
trách nhiệm giải quyết bồi thường. Cơ quan soạn thảo dự án Luật cho rằng, dự thảo Luật
quy định cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại là cơ quan có
trách nhiệm giải quyết bồi thường; với mô hình phân tán này, có rất nhiều cơ quan trong bộ
máy nhà nước ở các cấp có thể trở thành cơ quan có trách nhiệm giải quyết BTNN. Do đó,
để bảo đảm việc giải quyết bồi thường cho người dân hiệu quả, thống nhất, công bằng và
đúng pháp luật, cần phải có một cơ quan làm đầu mối thực hiện việc hướng dẫn, hỗ trợ về
chuyên môn, nghiệp vụ cho hoạt động giải quyết BTNN và kiểm tra, giám sát hoạt động
BTNN.
Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, dự thảo Luật giao cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư
pháp) xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là không cần thiết và không
phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành vì những lý do sau:
Thứ nhất, theo Nghị quyết số 388 và quy định của dự thảo Luật (Điều 50), về nguyên
tắc, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật sau cùng
hoặc cơ quan làm oan sau cùng là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Mặt khác, Điều 38,
Điều 45 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005) có quy
định: quyết định giải quyết khiếu nại phải kết luận được nội dung khiếu nại là đúng, đúng
một phần hoặc sai toàn bộ; giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết
định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể
trong nội dung khiếu nại và việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại (nếu có). Như
vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
cho cá nhân, tổ chức về cơ bản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc
trong quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, nếu Bộ Tư pháp được xác định là cơ quan quản lý nhà nước về BTNN, Bộ Tư

định trách nhiệm liên đới bồi thường do nhiều người thi hành công vụ thuộc các cơ quan
liên đới gây ra thiệt hại, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau chứ không phải là
việc khó xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường (chẳng hạn cơ quan điều tra, truy tố,
xét xử làm oan một người là do căn cứ vào kết quả giám định không chính xác của cơ quan
giám định).
Chính vì sự bất hợp lý trên mà dự thảo Luật cũng không thể đưa ra được cơ chế giải
quyết trong trường hợp các cơ quan này không đồng ý hay không chấp hành quyết định
của Bộ Tư pháp. Để khắc phục hiện tượng cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường
không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm
giải quyết bồi thường, dự thảo Luật xử lý theo hướng người bị thiệt hại có quyền khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết (khoản 3, Điều 30) cho thấy quy định về thẩm quyền xác định cơ
quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là hình thức.
Vì vậy, Báo cáo ý kiến số 1766/UBTP12 ngày 22/9/2008 của Thường trực Uỷ ban Tư
pháp về dự án Luật BTNN cũng khẳng định: “Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại về bản chất là cơ chế tài phán, do đó, nếu giao cho Bộ Tư pháp thẩm quyền này và coi
đây là thẩm quyền trong quản lý nhà nước là không hợp lý”; mặt khác, “Dự thảo Luật đã
có quy định về nguyên tắc xác định cơ quan giải quyết BTNN, nên không cần thiết phải
quy định một cơ quan khác có thẩm quyền quyết định việc này”.
2. Quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước
Có hai loại ý kiến khác nhau về quản lý nhà nước về BTNN. Loại ý kiến thứ nhất cho
rằng, BTNN là một nhiệm vụ mới của Nhà nước và có nội dung quản lý nhà nước; do đó,
cần tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này và trách nhiệm giúp Chính phủ quản
lý nhà nước về BTNN nên tập trung vào một đầu mối là Bộ Tư pháp. Theo loại ý kiến này,
khi đã có loại việc thuộc trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước phải có tổ chức, con người
để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong khi đó, BTNN là công việc cần thiết, mang tính
khách quan thì không thể không quản lý và giao cho một cơ quan nhất định trong bộ máy
nhà nước để thực hiện nhiệm vụ đó.
Loại ý kiến thứ hai đề nghị không nên coi BTNN là một lĩnh vực quản lý nhà nước độc
lập; do đó, việc tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về BTNN là không cần thiết. BTNN là
trách nhiệm (vật chất và tinh thần) đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp

nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, khiếu kiện nếu gây ra thiệt hại đều có thể phải bồi
thường cho cá nhân, tổ chức. Mặt khác, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nội dung không
thể thiếu được của quản lý nhà nước, trong đó BTNN là hệ quả và gắn bó chặt chẽ với nội
dung quản lý này nên không thể tách BTNN thành nội dung quản lý nhà nước độc lập với
nội dung quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo. Chẳng hạn, xử lý vi phạm hành chính là
một lĩnh vực quan trọng, phạm vi điều chỉnh rộng và có nhiều cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong lĩnh vực này như UBND các cấp, công an, hải quan, biên phòng, kiểm lâm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status