Phạm vi của bồi thường nhà nước
Một nguyên tắc chung được thừa nhận từ xa xưa là người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hành vi gây thiệt hại có thể xuất phát từ hợp đồng, từ
cam kết về nghĩa vụ mà không thực hiện, cũng có thể không có cam kết, ngoài phạm vi
hợp đồng - bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong pháp luật dân sự thì điều đó đã rõ.
Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là: nguyên tắc này được áp dụng như thế nào cho
trường hợp thiệt hại gây ra do hoạt động của các cơ quan nhà nước, với tính cách là cơ
quan công quyền bồi thường cho công dân? Nói cách khác, đó là vấn đề bồi thường nhà
nước.
Một nguyên tắc chung được thừa nhận từ xa xưa là người gây thiệt hại phải có nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hành vi gây thiệt hại có thể xuất phát từ hợp đồng,
từ cam kết về nghĩa vụ mà không thực hiện, cũng có thể không có cam kết, ngoài phạm vi
hợp đồng - bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong pháp luật dân sự thì điều đó đã rõ.
Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là: nguyên tắc này được áp dụng như thế nào cho
trường hợp thiệt hại gây ra do hoạt động của các cơ quan nhà nước, với tính cách là cơ
quan công quyền bồi thường cho công dân? Nói cách khác, đó là vấn đề bồi thường nhà
nước.
1. Cơ sở lý luận của bồi thường nhà nước
Trong Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ
qua lại. Công dân có nghĩa vụ trước Nhà nước và Nhà nước có nghĩa vụ trước công dân.
Nhà nước phải bảo đảm các quyền của công dân, tạo điều kiện để công dân thực hiện các
quyền và tự do của mình; còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ mà Nhà nước đề ra đối
với mình. Điều 51 của Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: "Quyền của công dân
không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình
đối với Nhà nước và xã hội.
Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định".
Công dân có nghĩa vụ: bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi
ích công cộng; tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng; đóng
thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải
hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong
khi thi hành nhiệm vụ” (Điều 620 BLDS năm 2005).
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ quy định giới hạn việc bồi thường thiệt hại
trong lĩnh vực hành chính và tố tụng.
Về mặt lý luận mà nói, việc bồi thường phải được quy định trong tất cả hoạt động của
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Nhưng trên thực tế, kể từ khi Nghị
quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội số 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003 về bồi
thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự
gây ra có hiệu lực, thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới bắt đầu thực hiện. Tuy nhiên,
thực tế cũng mới chỉ áp dụng với các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự, chưa có sự
điều chỉnh với trường hợp sai; hơn nữa, cũng chưa có sự bồi thường thiệt hại trong các
trường hợp khác. Điều đó là không hợp lý vì mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công
chức trong khi thi hành công vụ dù đúng hay sai cũng được coi là hành vi, quyết định của
cơ quan nhà nước. Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm
bồi thường. Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành
công vụ thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình. Trường hợp này, Nhà
nước không phải bồi thường.
Bồi thường nhà nước được coi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cái cây ngoài
đường đổ vào người dân, gây thương tích cho người dân, Nhà nước phải bồi thường - bồi
thường ngoài hợp đồng, vì trường hợp này không xuất phát từ hợp đồng nào cả. Nếu có
hợp đồng, thì chỉ là hợp đồng bảo hiểm giữa người bị nạn với công ty bảo hiểm. Nhưng
khi Nhà nước bồi thường cho người bị nạn, đó là bồi thường ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thì cũng có thể nói, đây không phải là bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, trong một nhà nước văn minh, hiện đại, giữa công dân và Nhà
nước luôn tồn tại hợp đồng xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: Nhà nước và công
dân. Đó chính là khế ước xã hội theo cách gọi của J.J. Rút -xô. Theo J.J. Rút -xô, giữa
Nhà nước và xã hội tồn tại một loại hợp đồng: hợp đồng xã hội. Có thể coi Hiến pháp là
khế ước, là hợp đồng xã hội. Các bên đã thỏa thuận ý chí và đi tới ký kết một hợp đồng,
hợp này không khó, nhất là khi người đó đã được người dân cảnh báo, đề nghị phải triệt hạ
cái cây đó đi. Nếu cây đó đã bị hư hỏng, mục nát đến nỗi người ngoài có thể nhận thấy
được mà cơ quan hữu trách không có biện pháp khắc phục; khi tai nạn xảy ra, cơ quan này
sẽ phải bồi thường cho người bị nạn. Còn nếu cây ấy, bề ngoài tươi tốt, chỉ mục nát bên
trong, không có dấu hiệu nào bên ngoài cho thấy cây đã bị hư nát, có thể gẫy đổ, cơ quan
quản lý cây xanh không phải bồi thường cho người bị nạn. Nhưng cây đổ không phải lỗi
của ai cả, mà do sét đánh gẫy thì đương nhiên không đặt ra vấn đề bồi thường nhà nước. ở
đây, việc cây đổ là bất khả kháng, là sự kiện bất ngờ không ai có thể lường trước được.
Một chiến sỹ cảnh sát trong khi thi hành công vụ bất cẩn trong sử dụng súng, gây tai nạn
cho người dân lại là trường hợp cần suy xét. Mặc dù anh ta bị truy tố hình sự về tội vô ý
gây thương tích, nhưng lỗi của anh ta vẫn được coi là một lỗi công vụ. Do đó, Nhà nước
vẫn phải gánh chịu trách nhiệm, phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân. Mọi hành vi,
quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ dù đúng hay sai cũng được
coi là hành vi, quyết định của cơ quan nhà nước. Nếu hành vi đó trái pháp luật, gây thiệt
hại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công
chức xảy ra không gắn với việc thi hành công vụ, họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về
hành vi của mình và trong những trường hợp như vậy, Nhà nước không phải bồi thường.
Việc bồi thường thiệt hại do hành vi hành chính, quyết định hành chính gây ra cũng sẽ
là phạm vi không nhỏ của bồi thường nhà nước. Người dân khiếu nại hành vi hành chính,
quyết định hành chính sai trái gây thiệt hại về vật chất và tinh thần. Cơ quan có thẩm
quyền không giải quyết, để tình trạng vi phạm kéo dài làm tăng thêm thiệt hại cho người
dân. Sau đó, người dân kiện ra tòa hành chính và tòa ra phán quyết rằng quyết định hành
chính cần hủy bỏ, hành vi hành chính là sai trái. Trong trường hợp này, cần phải bồi
thường nhà nước cho công dân mọi thiệt hại mà họ phải gánh chịu, kể cả công sức, thời
gian họ đã bỏ ra để khiếu nại, khởi kiện ra tòa.
Một vấn đề được đặt ra là, hành vi, quyết định hành chính do công chức gây ra dẫn đến
thiệt hại cho người dân thường là những hành vi, quyết định mang tính cá biệt, ảnh hưởng
tới công dân cụ thể. Bồi thường là bồi thường cho ai đó cụ thể theo yêu cầu của người bị
thiệt hại bởi hành vi và quyết định cá biệt. Bên cạnh đó chúng ta thấy hành vi ban hành
quyết định có tính quy phạm, tức là liên quan đến nhiều người, liên quan đến bất cứ ai
kẻ phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng số tiền mà
Nhà nước đã bồi thường cho người gặp nạn. Trong trường hợp không tìm ra kẻ phạm tội,
Nhà nước vẫn phải bồi thường. Có như vậy mới công bằng.
Giả thiết Chính phủ ban hành nghị định trái với luật, Hiến pháp gây thiệt hại cho người
dân, Chính phủ có phải bồi thường thiệt hại không? Theo chúng tôi, việc bồi thường nhà
nước của Chính phủ ở đây là lẽ đương nhiên.
Đối với phạm vi bồi thường nhà nước từ phía cơ quan tư pháp, chúng ta đã có những
văn bản về vấn đề này. Tuy nhiên, việc đặt vấn đề như Nghị quyết 388 là vẫn chưa đầy đủ,
chỉ mới là bồi thường nhà nước về oan, chứ chưa phải về sai. Cơ quan nhà nước, cơ quan
tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước hoặc người