ĐIỂM LẠI TÌNH HÌNH MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG NÀY TỚI NỀN KINH TẾ - Pdf 27

ĐIỂM LẠI TÌNH HÌNH MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG NÀY
TỚI NỀN KINH TẾ
Đinh Việt Hưng
Tóm tắt: Những năm đầu thế kỷ 21, hoạt động mua bán và sáp nhập(M&A)
trên thế giới đã diễn ra rất sôi động. Còn ở Việt Nam thì hoạt động M&A được
nhắc đến nhiều trong vòng 6 năm trở lại đây. Tuy mới mẻ, nhưng hoạt động này
đã và đang phát triển nhanh chóng về cả số lượng lẫn giá trị. Lĩnh vực ngân hàng
được coi như là huyết mạch của nền kinh tế, nhưng thực tế ở Việt Nam thì lĩnh vực
này đang vấp phải những khó khăn về hoạt động do chưa đủ mạnh và áp lực cạnh
tranh từ những ngân hàng quốc tế, buộc các ngân hàng thương mại trong nước
phải tiến hành mua bán và sáp nhập, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế
của Việt Nam.
Từ khóa: Mua bán, Sáp nhập, ngân hàng thương mại, Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Sáp nhập, mua lại, liên minh kinh doanh và các hoạt động tái cơ cấu doanh
nghiệp đang ngày càng phổ biến ở cả các nền kinh tế phát triển và mới nổi. Theo
nghiên cứu của Smith & công sự (năm 2012), dẫn đầu các cuộc M&A là lĩnh vực
tài chính ngân hàng, tùy theo khu vực và trong các tình hình kinh tế ở các thời điểm
khác nhau nhưng mục tiêu chính của các cuộc M&A là nhằm cái cách hệ thống tài
chính ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, khai thác được tối đa các lợi thế,
tiềm năng kinh tế.
Trong những năm gần đây, hoạt động M&A ở Việt Nam đã và đang gia tăng
nhanh chóng cả về chất lượng lẫn số lượng, chỉ tính từ năm 2011 đến đầu năm
2014 đã ghi nhận 54 giao dịch M&A trị giá 1,5 tỷ USD, trong đó 1 tỷ USD thuộc
về các giao dịch tại TPHCM và 362 triệu USD tại Hà Nội.
1
Có thể tin tưởng rằng
trong tương lai hoạt động này sẽ còn phát triển rầm rộ hơn nữa, bởi Việt Nam được
biết tới như là một điểm đến đầu tư hấp dẫn với nhiều yếu tố như môi trường chính
trị ổn định, dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào được đào tạo tốt, chi phí thấp, nền

muốn tồn tại.
Một số trường hợp mua bán và sáp nhập điển hình ở Việt Nam
Xu hướng mua bán và sáp nhập (M&A) trong ngành ngân hàng đang ngày
càng trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây. Trước năm 2012, hầu hết các
hoạt động M&A diễn ra giữa các tổ chức tài chính nước ngoài và các ngân hàng
Việt Nam thông qua việc các nhà đầu tư nước ngoài mua quyền sở hữu của các
ngân hàng trong nước.
Bảng 2: Thống kê một số hoạt động M&A diễn ra giữa các tổ chức tài chính
nước ngoài và các ngân hàng Việt Nam mua quyền sở hữu
Năm thực
hiện
Ngân hàng
trong nước
Ngân hàng nước ngoài
Quyền sở hữu
chuyển nhượng
07/2005 ACB Standard Chartered bank 8,8%
12/2005 TCB HSBC 10,0%
09/2006 VPBank OCBC Singapore 10,0%
01/2007 TCB HSBC 10,0%
01/2007 Ocean Bank BNP Paribas 15,0%
07/2007 Eximbank Sumitomo Mitsui Bank 15,0%
10/2007 Habubank Deutsche bank 10,0%
03/2008 Anbinhbank Maybank 15,0%
07/2008 ACB Standard Chartered bank 6,2%
07/2008 Southern Bank United Overseas Bank 20,0%
2
Ngân hàng nhà nước, 2013
08/2008 VPBank OCBC Singapore 5,0%
08/2008 Seabank France Societe Generale Bank 15,0%

- Ngân hàng Việt Nam Tín
Nghĩa
Ngân hàng Sài Gòn Hợp nhất 7,07 tỷ USD
08/2012
- Ngân hàng nhà Hà Nội
(Habubank)
- Ngân hàng Sài Gòn – Hà
Nội (SHB)
Ngân hàng SHB Sáp nhập 5,66 tỷ USD
05/2013
- Ngân hàng Phương Tây
(Western Bank)
- Tổng công ty Tài chính
dầu khí (PVFC)
Ngân hàng Đại chúng
(PVcom Bank)
Hợp nhất 4,98 tỷ USD
11/2013
- Ngân hàng Phát triển nhà
Hồ Chí Minh
- NH Đại Á (DAB)
Ngân hàng HD Bank Sáp nhập 4,01 tỷ USD
2013
- Ngân hàng Đại Tín Ngân hàng Xây dựng
Việt Nam
Tái cấu trúc
2014 - Ngân hàng Nam Việt Ngân hàng Quốc dân Tái cấu trúc
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Cụ thể là trường hợp của 3 thương vụ:
Hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank và NH Việt Nam Tín Nghĩa:

cơ cấu giai đoạn 2013-2014 và Phương án cơ cấu lại nợ thị trường 2 (thị trường
liên NH) đã được NHNN phê duyệt. Ngày 06/11/2014, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (NHNN) đã có văn bản số 8241/NHNN-TTGSNH về việc tăng vốn điều lệ
của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB). Theo đó, Thống đốc NHNN chấp thuận
việc SCB tăng vốn điều lệ từ 12,294,801,040,000 đồng lên 14,294,801,040,000
đồng theo phương án tăng vốn điều lệ năm 2014 đã được Đại hội đồng cổ đông
SCB thông qua. Thống đốc NHNN yêu cầu Hội đồng quản trị SCB chịu trách
nhiệm về việc các cổ đông không sử dụng vốn vay của chính SCB để góp vốn vào
Ngân hàng, tiến hành việc tăng vốn điều lệ, thực hiện các thủ tục pháp lý, chế độ
thông tin, báo cáo liên quan đến việc tăng vốn điều lệ, thủ tục sửa đổi Giấy phép
thành lập và hoạt động với mức vốn điều lệ mới theo quy định của pháp luật. Sau
khi hoàn tất các thủ tục tăng vốn điều lệ, nộp hồ sơ đề nghị sửa đổi mức vốn điều lệ
tại Giấy phép thành lập và hoạt động cho NHNN qua NHNN chi nhánh thành phố
Hồ Chí Minh.
Sáp nhập Habubank vào SHB: Ngày 28/8/2012, Ngân hàng thương mại cổ
phần Nhà Hà Nội (Habubank) chính thức sáp nhập vào ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Với Habubank, các khoản cho vay và đầu tư trái
phiếu gắn với Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) được xác định
là gánh nặng lớn nhất dẫn đến những khó khăn phải tính đến sáp nhập. Tỷ lệ nợ xấu
của Habubank trước khi sáp nhập là 23,66% (tương đương 3.729 tỷ đồng). Ngân
hàng SHB sau khi sáp nhập Habubank sẽ có tổng tài sản gần 120.000 tỷ đồng
(tương đương với quy mô của các nhà băng trong khối G14). Tổng vốn điều lệ sẽ
gần 9.000 tỷ đồng. Sau sáp nhập, tổng số nhân viên của SHB sẽ đạt gần 5.000
người, bằng nhân viên của hai nhà băng cũ gộp lại. SHB sẽ tiếp quản 90 điểm giao
dịch, chi nhánh, quỹ tiết kiệm của Habubank. Sau khi sáp nhập, ngân hàng SHB
mới sẽ có hệ số an toàn vốn CAR là 11,39%, đạt tiêu chuẩn quốc tế (CAR của
Habubank trước đây chỉ hơn 4%).
Theo báo cáo kết quả kinh doanh 2012, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Gòn - Hà Nội lãi 1.000 tỷ đồng trong quý IV giúp giảm số lỗ cả năm xuống còn 95
tỷ đồng. Nếu tính cả khoản lợi nhuận còn để lại của năm trước (122 tỷ đồng), nhà

hàng thương mại cổ phần Đại chúng (Ngân hàng hợp nhất), đồng thời thu hồi Giấy
phép hoạt động số 0016/NH-GP ngày 06/4/1992 do Thống đốc NHNN cấp cho
Ngân hàng TMCP Phương Tây, thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động số
72/GP-NHNN ngày 17/3/2008 do Thống đốc NHNN cấp cho Tổng công ty tài
chính cổ phần Dầu khí Việt Nam. Western Bank, tiền thân là một ngân hàng từ
nông thôn với vốn điều lệ ban đầu chỉ 320 tỷ đồng, đến 2011 thì lên đến 3.000 tỷ
đồng. Do lớn quá nhanh nên cũng như nhiều ngân hàng khác, việc quản trị và kiểm
soát rủi ro trở thành một vấn đề lớn đối với Western Bank. Bên cạnh đó, một tỷ lệ
rất lớn tín dụng của nhà băng lại dành cho các doanh nghiệp sân sau, cổ đông nội
bộ dẫn đến nhiều rủi ro cho Ngân hàng. Nằm trong tiến trình tái cơ cấu bắt buộc,
Western Bank đã gây chú ý nhiều cho thị trường tài chính về việc sáp nhập với
Tổng công ty cổ phần Tài chính dầu khí (PVFC). Một trong những mục đích của
việc hợp nhất giữa Western Bank và PVFC được nêu ra là giải quyết được sự tồn
tại của Western Bank, nâng cao hiệu quả, năng lực hoạt động, sức cạnh tranh cho
PVFC và giảm được phần vốn góp của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
(PVN) tại PVFC. Như vậy, Western Bank vừa có tiền để giải quyết các món nợ,
làm trong sạch tình hình tài chính của mình. Bên cạnh đó, với tỷ lệ sở hữu hiện tại
của PVN tại PVFC là 78% có thể sẽ giảm xuống còn 48% sau hợp nhất. Điều này
sẽ giúp PVN từng bước thực hiện lộ trình thoái vốn tại các công ty con theo quy
định. Ngân hàng sau hợp nhất có tổng tài sản 105.641,59 tỷ đồng, với số vốn điều
lệ 9.000 tỷ đồng được duy trì trong 3 năm 2012, 2013, 2014 và được tiếp tục tăng
lên 12.000 tỷ đồng trong năm 2015.
Đánh giá chung về tiền trình M&A ngân hàng tại Việt Nam
Tăng trưởng GDP quý 3 của Việt Nam đạt mức tương đối cao là 6,2% (so
với cùng kỳ năm ngoái), góp phần đưa tốc độ tăng trưởng 9 tháng đầu năm 2014
lên 5,6%. Trong 9 tháng đầu năm 2014, tăng trưởng của các ngành kinh tế chính
(trừ dịch vụ) đều đạt mức cao hơn so với cùng kỳ 2013. Dựa trên dấu hiệu tích cực
này, tăng trưởng GDP của Việt Nam dự báo sẽ tăng nhẹ từ mức 5,4% của năm
2013 lên mức khoảng 5,6% cho cả năm 2014
3

nên dễ dàng gia nhập vào thị trường mới, quản lý rủi ro
Cũng trong năm 2014, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu 6-7 thương vụ Mua
lại & Sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực ngân hàng và giảm 50% số lượng ngân hàng
thương mại trong vòng 3 năm tới. Song trong năm nay vẫn chưa có thương vụ
M&A mới nào. Một tín hiệu tốt là không có thương vụ M&A nào trong quá khứ
được báo cáo là tạo ra sự xáo trộn lớn tới hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
hàng, điều này tạo ra niềm tin vào hệ thống và cũng khẳng định rằng cho đến nay
việc M&A các ngân hàng tại Việt Nam là có hiệu quả. Dự đoàn trong năm 2015-
2017 nên kinh tế Việt Nam sẽ được chứng kiến thêm rất nhiều những vụ M&A
ngân hàng.
Nguyên nhân mà hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam bị chững lại là do
hoạt động này trong thời gian qua gặp không ít những rủi ro và rào cản. Không phải
hoạt động M&A ngân hàng nào cũng làm gia tăng năng lực kinh doanh, hoạt động
M&A ngân hàng tràn lan không suy tính kỹ càng, không có chiến lược quản lý hiệu
quả có thể là con đường dẫn đến sự phá sản, gây ra nhiều hoang mang. M&A ngân
hàng không phải là đầu tư xây dựng mới, do đó không những không tạo ra thêm
công việc, nghề nghiệp, trái lại còn tinh giản bộ máy hoạt động, đôi khi còn thay
đổi cơ cấu, đào thải những lao động không phù hợp, vì vậy làm tăng gánh nặng
quản lý của Nhà nước. Hoạt động M&A ngân hàng đã tạo ra sân chơi không công
bằng cho các ngân hàng nhỏ, thông qua M&A ngân hàng các ngân hàng lớn, tập
đoàn tài chính đa quốc gia có thể thao túng dễ dàng một thị trường nào đó, làm gia
tăng tính độc quyền. Đặc biệt với hình thức thao túng cổ phần sẽ là nỗi lo âu của
các ngân hàng có vốn cổ phần còn thấp. M&A ngân hàng trong nhiều trường hợp
sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường khi những ngân hàng sau khi sáp nhập
có vị trí thống lĩnh trên thị trường. Sự khác biệt về văn hóa tổ chức và cách vận
hành sẽ tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến tính hiệu quả kinh tế thấp. Do vậy, để hoạt
động M&A ngân hàng Việt Nam phát huy được toàn diện hiệu quả của mình thì
cần có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước và toàn hệ thống kinh tế.
3. Một số giải pháp đề xuất hoàn thiện công tác M&A Ngân hàng Việt Nam
thời gian tới

chỉnh cho phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đặc thù này, đáp ứng yêu cầu tại Ðiều
153 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế. Cần
có những Thông tư cụ thể, rõ ràng về đối tượng mua bán và sáp nhập; thủ tục xử lý
các giao dịch với người gửi tiền và người vay trước khi giao dịch mua bán và sáp
nhập được xác lập; công bố thông tin về việc mua bán và sáp nhập…
3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM thông qua hoạt động M&A
M&A được xem là một giải pháp hữu hiệu và kinh tế nhất đối với xã hội,
nhằm giảm thiểu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, tận dụng tối đa nguồn lực của
khu vực tư nhân trong việc xử lý các ngân hàng yếu kém. Chính phủ Việt Nam đã
nhận thức rõ nhiệm vụ củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng ngang tầm với các
nước trong khu vực. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh thì ngay bây giờ các NH
trong nước phải thực hiện M&A để nâng cao năng lực tài chính và tiết kiệm chi phí
như xóa bỏ hệ thống trùng lắp, tận dụng thiết bị công nghệ, mở rộng danh mục sản
phẩm và dịch vụ mới
M&A là một kỹ thuật xử lý ngân hàng yếu kém rất phổ biến khi một ngân
hàng không thể tự khắc phục được những yếu kém của mình. Giải pháp M&A có
một số ưu điểm: Thứ nhất, duy trì được giá trị các tài sản của ngân hàng, giảm chi
phí cho Chính phủ và Cơ quan bảo hiểm tiền gửi khi phải xử lý các ngân hàng
này. Thứ hai, giảm thiểu tác động tiêu cực của ngân hàng yếu kém đối với thị
trường bởi không làm gián đoạn việc cung ứng dịch vụ ngân hàng của các ngân
hàng yếu kém. Thứ ba, toàn bộ tài sản được chuyển nhượng trong thương vụ M&A
nên quyền lợi của người gửi tiền và các chủ nợ vẫn được đảm bảo. Chính vì vậy để
các ngân hàng hoạt động thực sự tốt thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các
NHTM thông qua hoạt động M&A phải được chú trọng. Có thể nâng cao năng lực
cạnh tranh thông qua:
Tăng cường năng lực tài chính của các ngân hàng bằng cách tăng vốn và
nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số tài chính cụ thể, tối thiểu là phù
hợp với các chuẩn mực quốc tế và phải cải thiện các chỉ số ngày càng cao qua từng
thời kỳ.
Hình thành các loại hình ngân hàng đa dạng tách chức năng ngân hàng đầu

nhất khi tiến hành định giá là việc đưa ra được một con số về giá trị cuối cùng dựa
trên hàng loại các thông tin từ ngân hàng cũng như các thông tin vĩ mô. Tương tự
người bán cũng phải đưa ra các mức giá mà họ mong muốn. Khi định giá nên có các
cơ sở để làm rõ sự hợp lý của mức giá cũng như quá trình định giá. Đối với bên bán,
tiền hành định giá trước sẽ giúp họ có được mức giá kỳ vọng phù hợp với mức
người mua tiềm năng mong muốn hoặc giúp họ có thể dẫn dắt quá trình thương
lượng. Một số phương pháp định giá phổ biển như: Phương pháp thu thập hay
phương pháp DCF là phương pháp định giá dựa trên dòng tiền trong tương lai mà
ngân hàng sẽ tạo ra. Phương pháp thị trường là phương pháp dựa trên sự so sánh với
các ngân hàng tương tự trên thị trường. Phương pháp tài sản ròng là phương pháp
được sử dụng khi giá trị doanh nghiệp được xác định dựa trên tài sản (hưu hình).
Nếu cần thiết người định giá có thể áp dụng một tỷ lệ hợp lý cho mức giá có được
từ ba phương pháp trên nhằm ra được một giá trị hợp lý cho ngân hàng.
Sau khi thực hiện M&A
Dù ngân hàng mục tiêu sẽ được hợp nhất hay tiếp tục hoạt động độc lập thì
việc chuyển giao sở hữu/đầu tư cần được lên kế hoạch từ trước và thực hiện nhanh
nhanh chóng để tránh sự gián đoạn, duy trì giá trị của ngân hàng và hiện thực hóa
các cơ hội của sự cộng hưởng. Các vấn đề khó khăn mà các ngân hàng sau khi
M&A là sự khác biệt về văn hóa và quản trị hay các thay đổi về quy trình hoạt
động. Giao dịch M&A chỉ thành công khi các phát sinh sau M&A được giải quyết
ổn thỏa các vấn đề về sự hòa hợp văn hóa tổ chức, kế hoạch, điều hành, nhân sự,
giao tiếp giữa các bộ phận, quan hệ với các đối tác mới … Trong đó, hòa hợp về
văn hóa là một trong các thách thức lớn nhất của hoạt động M&A, là yếu tố quyết
định đến sự thành công hay thất bại của giao dịch M&A (Walter, 2004). Do đó, các
nhà quản trị ngân hàng không được xem nhẹ vấn đề này. Đây không chỉ là các
nguyên nhân dẫn đến việc M&A kém mà còn là nguyên nhân của việc đầu tư kém
hiệu quả, thậm chí là thất bại. Ngoài ra, việc thực hiện hóa các chiến lược, kế hoạch
kinh doanh, phát triển các nguồn lực cho ngân hàng (nhân lực, công nghệ - thông
tin…), tăng cường năng lực quản lý điều hành để giảm thiểu khả năng đổ vỡ ngân
hàng, xử lý nợ tồn đọng hậu M&A tiếp tục là một thách thức cần giải quyết trong

res.pdf
2. “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2014” – The World Bank
3. Nguyễn Thị Hải Yến, “Thực trạng M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
hiện nay – Trường hợp của ba ngân hàng Đệ Nhất – Tín Nghĩa – Sài Gòn”, Luận
văn Thạc sỹ, 2012.
4. Bùi Vũ Long, Nguyễn Duy Thanh, Phạm Long, “Hoạt động mua bán và sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 7/2014
5. Quốc hội (2004), Luật cạnh tranh, Luật số 27/2007/QH11; Quốc hội (2005a),
Luật đầu tư, Luật số 59/2005/QH11; Quốc hội (2005b), Luật doanh nghiệp, Luật số
60/2005/QH11; Quốc hội (2006), Luật chứng khoán, Luật số 70/2005/QH11; Quốc
hội (2010a), Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật số 46/2010/QH12; Quốc hội
(2010b), Luật các tổ chức tín dụng, Luật số 47/2010/QH12, Hà Nội.
6. Coopers & Lybrand: Most acquisitions fail, C&L study says, Mergers &
Acquisitions, Report 7, 47:2, November 1996.
7. Marks ML: From turmoil to triumph: new life after mergers, acquisitions, and
downsizing, Lanham, MD, 1996, Lexington Books.
8. DePamphilis DM: Mergers, acquisitions, and other restructuring activities: an
integrated approach to process, tools, cases, and solutions, ed 5, San Diego, 2009,
Academic Press.
9. DePamphilis DM: Mergers and acquisitions basics: negotiations and deal
structuring, San Diego, 2010, Academic Press.
10. Selim G: Mergers, acquisitions, and divestiturres: control and audit best
practices, New York, 2003, Institute of Internal Auditing Research Foundation.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status