ÔN THI ĐH ĐỜI THỪA - GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO
Đề ra: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm "Đời thừa" của nhà
văn Nam Cao (Sách giáo khoa 11 - Nâng cao, NXB Giáo Dục 2012)
HƯỚNG DẪN
I. MỞ BÀI
Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một cây bút xuất sắc của văn học
hiện thực phê phán trước năm 1945. Nhà nhân đạo ấy đã để lại cho đời
những tác phẩm thật sự có "tấm lòng lớn" như "Đời thừa", "Chí Phèo".
Trong đó, "Đời thừa" thực sự đã để lại dấu ấn của Nam Cao về giá trị
nhân đạo sâu sắc và mới mẻ.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát: Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của một tác phẩm văn
học dựa trên niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn đối với số
phận nhân vật. Nhà văn từ lòng thương người mà lên án tố cáo những
thế lực đã chà đạp lên quyền sống của con người. Cũng từ lòng nhân
đạo, nhà văn cũng phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của
con người và kêu gọi giải phóng cá nhân ra khỏi những khổ đau và bất
hạnh. Truyện ngắn "Đời thừa" ra đời năm 1943, là tác phẩm phản ánh
sâu sắc và rõ nét về cuộc sống của những người trí thức tiểu tư sản
nghèo ở nước ta trong bối cảnh đất nước bị ngoại bang giày xéo. Tác
phẩm đã gây tiếng vang lớn và thực sự trở thành "tiếng kêu đau khổ kia
thoát ra từ những kiếp lầm than". Nam Cao đã phản ánh một cách rõ
nét và chân thực những bi kịch lớn của người trí thức đương thời và cất
tiếng kêu cứu thảm thiết đòi quyền sống cho họ.
2. Trong tác phẩm "Đời thừa", Nam Cao đã xây dựng thành công
giá trị nhân đạo sâu sắc ấy.
a. Biểu hiện thứ nhất của giá trị nhân đạo là nhà văn xót xa thương
cảm trước những nỗi khổ đau của nhà văn Hộ khi sụp đổ giấc
mộng văn chương và bi kịch tình thương.
Nam Cao đã xót thương và đồng cảm trước bi kịch tinh thần của
nhân vật Hộ , một nhà văn - một trí thức giữa “cơn dâu bể” của cuộc
nhân cho bi kịch thứ hai – bi kịch của một con người. Giấc mộng văn
chương sụp đổ qua những bài viết ẩu. Thế nhưng Hộ vẫn còn chút an
ủi. Đó chính là cuộc sống, sự tồn tại của vợ con anh. Quả là một sai
lầm khi anh kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ các giấc
mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia. Thất
vọng trong văn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến
anh tìm niềm vui trong men rượu. Và rượu - kẻ "làm đỏ mặt và đen
danh dự" đã đưa Hộ thành kẻ vi phạm nguyên tắc tình thương. Anh trở
thành kẻ vũ phu, kẻ vô học. Rượu đẩy Hộ đến bờ vực của sự tha hóa.
Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về được đến nhà. Anh chỉ biết
anh đã tỉnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rã rời. Men rượu
“chết tiệt” ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện.
Anh đã đánh đập vợ, người vợ hiền lành tận tuỵ của mình không biết
bao nhiêu lần nữa mà kể. Anh chỉ mặt Từ mà quát mắng: “Cả con mẹ
mày nữa cũng đáng vật chết”. Anh đã làm tất cả, tất cả trong say. Sao
mà tai hại quá ! Anh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp –
cái phần “người” vô cùng cao đẹp tưởng còn được an ủi bởi anh đã giữ
trong lẽ sống tình thương của mình. Ai ngờ, cuộc sống vẫn không cho
phép anh thực hiện điều đó. Thế mà nay, chính cái lẽ sống ấy anh cũng
chà đạp nốt. Lẽ sống tình thương là cái được anh đề cao nhất mà anh
còn vi phạm thì chẳng còn gì nữa cả. Bi kịch này của anh, lớn hơn gấp
bội bi kịch kia bởi lẽ sống tình thương, chỗ dựa của bao giá trị nhân
phẩm khác sụp đổ. Viết về nỗi đau này, Nam Cao dường như cũng
đang thổn thức cùng nhân vật.
b. Biểu hiện thứ hai của giá trị nhân đạo trong tác phẩm "Đời thừa"
là tiếng nói của nhà văn lên án tố cáo thế lực đã gây ra nỗi đau cho
nhà văn Hộ, đẩy Hộ đến bờ vực của sự tha hóa, của bi kịch khủng
khiếp. Bi kịch ấy có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội đương thời.
Chính xã hội ấy đã đẩy anh phải lo “cơm áo gạo tiền”. Nỗi lo sinh kế đã
khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Và chính những thất vọng
nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Những giọt nước mắt
của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động. Họ muốn khóc
cho đến khi “bao nhiêu xương thịt cứ tan ra thành nước mắt” nhưng
gặp anh, tình thương của anh đã toả rạng đến giúp họ thoát khỏi những
đớn đau. Một người dám bỏ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi
nấng vợ con chẳng là người dũng cảm lắm sao ! Chính tình thương - lẽ
sống tình thương đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp biết dường
nào!
d. Biểu hiện cuối cùng của giá trị nhân đạo là niềm tin của Nam
Cao vào khả năng vươn dậy của nhân vật. Cuối tác phẩm là hình
ảnh Hộ ôm từ vào lòng. Bao nhiêu đau đớn, bao nhiêu hối hận dồn nén
lại ở Hộ để rồi bật lên thành tiếng khóc. Tiếng "khóc nức nở, tiếng khóc
bật ra như quả chanh người ta bóp mạnh" của Hộ cho ta thấy sự hối
hận và đau khổ lên đến tột cùng của người trí thức tiểu tư sản nghèo có
nhân cách. Giọt nước mắt ấy đã nâng đỡ Hộ, thanh lọc tâm hồn anh,
giúp anh đứng vững trên bờ vực thẳm của sự tha hoá. Chắc chắn đằng
sau những giọt nước mắt ấy là sự "trở về" của nhà văn Hộ.
3. Đánh giá chung :Tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nam Cao thể hiện
ở việc nhà văn biết đề cao những khát vọng đẹp của người trí thức, đã
biết thông cảm với những nổi khổ của họ. Những “tư tưởng nhân đạo
mới mẻ, độc đáo” ấy đã là đáng quý, đáng trân trọng biết bao ! Độc
đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người – tình người nồng đượm
bao la đằng sau lối viết văn tưởng như dửng dưng lãnh đạm. Dường
như những day dứt trong cuộc đời ông - cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã
nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tấn bi kịch tinh thần của
Hộ. Có người nói, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì
trước Cách mạng.
Có thể tự tin mà nói rằng với "Đời thừa", Nam Cao đã bộc lộ
được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những
dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và vốn sống đã cho ông viết những