Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triễn của đất nước, đời sống
nhân dân ta ngày càng được cải thiện. Nghành chăn nuôi nói chung và ngành
chăn nuôi lợn nói riêng càng khẳng định được vai trò to lớn của mình. Để đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đã có sự gia tăng
mạnh mẽ về số lượng cũng như chất lượng. Rất nhiều trại nuôi lợn kiểu công
nghiệp đã hình thành, nhiều tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại và
công tác quản lý đã được áp dụng thành công. Bên cạnh đó, hình thức chăn nuôi
hộ gia đình cũng không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu nhất định.
Chăn nuôi lợn ngày càng có những bước tiến vượt bậc, chuyển từ chăn nuôi quy
mô nhỏ sang quy mô lớn với tiến độ cơ khí hóa, tự động hóa cao. Cung cấp thực
phẩm với sản lượng cao và chất lượng tốt cho người tiêu dùng, là nguồn cung
cấp phân bón lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho
ngành công nghiệp chế biến.
Tuy nhiên, người chăn nuôi lợn còn đứng trước nhiều khó khăn. Nguyên nhân
do giá thức ăn tăng cao, bệnh tật ngày một nhiều đặc biệt sự xuất hiện nhiều bệnh
ghép khó chữa. Nhiều năm qua, bệnh tiêu chảy thường gặp ở lợn, gây thiệt hại đáng
kể về kinh tế và làm giảm năng suất chăn nuôi. Bệnh tiêu chảy không những xảy ra
ở lợn con theo mẹ mà còn thấy khá phổ biến ở lợn từ sau cai sữa. Bệnh tiêu chảy do
rất nhiều nguyên nhân gây ra như: Virus, vi khuẩn, độc tố, thức ăn, thời tiết, vệ sinh,
chăm sóc, nuôi dưỡng… mức độ lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị dẫn đến
tồn dư kháng sinh cao, mức độ kháng thuốc ở mức báo động của các loài vi khuẩn.
Nguy hiểm hơn là sự tồn dư kháng sinh trong thịt và các sản phẩm khác đe dọa sức
khỏe của con người, chi phí trên một kg tăng trọng cao, chất lượng thịt thấp…
chính vì vậy việc thử nghiệm và sử dụng các chất không phải là kháng sinh hóa
dược ít độc hơn và giúp tăng trọng nhanh, chất lượng thịt tốt, giảm mắc bệnh là vấn
đề được nhiều người quan tâm.
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
Dương Mạnh Hùng (2007) [7] đã khái quát: sinh trưởng là quá trình tích
lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều
ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính
di truyền từ thế hệ trước. “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và
sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”.
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức
năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về
chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng
của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các
chức năng của cơ thể sống.
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục nhanh.
Theo TS Trần Văn Phùng và cs (2004) [13] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợn
không đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau giảm. So
với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần,
lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng
gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 -
14 lần. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa
mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp. Do lợn có
tốc độ sinh trưởng phát triển rất nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh
dưỡng rất mạnh. Lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14g
protein/1kg khối lượng cơ thể. Trong khi đó lợn trưởng thành tích lũy được 0,3 -
0,4 g protein.
Qua kết quả nghiên cứu trên cho ta thấy lợn là loài gia súc có khả năng
sinh trưởng phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
chúng thì người chăn nuôi phải nắm vững đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để
tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh tế cao.
2.1.2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể có sự phát triển các cơ quan
cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ acid của dịch vị lợn
con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém. Hàm lượng acid
biến đổi theo lứa tuổi của lợn con, acid HCl tự do xuất hiện ở 25-30 ngày tuổi và
diệt khuẩn rõ nhất ở 40- 50 ngày tuổi. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006)
[20] cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện. Trong giai
đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể
hiện sự thay đổi hoạt tính các enzyme trong dịch vị.
Men pepsin là men chủ yếu của dịch vị khi mới tiết ở dạng không hoạt
động gọi là men pepsinogen. Dưới tác dụng của HCl nó trở thành pepsin hoạt
động, có tác dụng phân giải protein của thức ăn thành Albumin và pepton (trong
điều kiện lâu dài nó có thể phân giải proteinoit đến axit amin để cơ thể hấp thu).
Pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit (pH = 1,5 - 2,5). Trong khoảng 25
ngày đầu đẻ ra, men pepsin trong dạ dày chưa có khả năng tiêu hóa protein của
thức ăn do vậy cần tập ăn sớm cho lợn con.
- Men pepsin: lợn con dưới 1 tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con
chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con
không có HCl tự do, lượng acid tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch
nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid hay còn gọi là “Hypoclohydric”. Sau 3 tuần
tuổi, lượng HCl tự do trong dịch vị mới tăng dần. Đây là một đặc điểm quan
trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt để men
pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới có khả năng
tiêu hoá đầy đủ. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh
vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây bệnh về đường tiêu
hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng.
Có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn
bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào
lúc 5- 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14. Còn
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
trong dạ dày của loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
Theo Trương Lăng, (2004) [9] thì dung tích ruột non ở lợn con sơ sinh là
100ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, 12 tháng đạt 20 lít. Ruột già
ở lợn sơ sinh dung tích 40 - 50ml, 20 ngày 100ml, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít,
tháng thứ 4 là 7 lít, tháng thứ 7 là 11 - 12 lít.
Tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tuỵ, tuyến tuỵ tiết ra dịch tuỵ theo ống dẫn tuỵ
Wirsung đổ vào tá tràng (chức năng ngoại tiết). Dịch tuỵ có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự tiêu hoá: Dịch tuỵ có tác dụng phân giải từ 60- 80% protein,
gluxit và lipit của thức ăn. Trong dịch tuỵ có chứa các enzyme phân giải protein,
phân giải bột đường và enzyme phân giải mỡ. Hoạt tính của các enzyme thay
đổi từ sơ sinh đến trưởng thành.
* Nhóm enzyme phân giải protein
- Men trypsine: Là enzyme chính của dịch tuỵ được tiết ra dưới dạng
tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hoá trở
thành dạng trypsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hoá trypsinogen.
Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở trong thai 2 tháng tuổi chất chiết đã
có men trypsine, thai càng lớn hoạt tính của men trypsine càng cao. Khi lợn con
mới đẻ ra, hoạt tính của men trypsine dịch tuỵ rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu
hoá kém của men pepsin dạ dày.
Trypsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng
hoạt lực mạnh và triệt để hơn. Ngoài ra trypsin còn phân giải protein thành
polipeptid và amino acid.
- Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là
Chimotripsinogen sau đó được trypsin hoạt hoá chuyển thành Chimotripsin hoạt
động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự trypsin.
- Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptid và amino acid.
- Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO
-
tự
để phù hợp với khả năng tiêu hoá của lợn thì trong sản xuất thức ăn cho lợn con
giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hoá
như: bột sữa, đường lactose thức ăn cần được rang chín và nghiền nhỏ đồng
thời bổ sung thêm một số acid vô cơ như acid lactic.
2.1.2.3. Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá của lợn con
Hệ vi sinh vật đường tiêu hoá của lợn con có vai trò nâng cao khả năng sử
dụng thức ăn, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn. Sự phát triển
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
mạnh của vi khuẩn sinh acid và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh
học, đồng thời ức chế các vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể
(Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [4]).
Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy
một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần. Hàng ngày một số
loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, Chúng có
thể bị biến đổi ít nhiều và căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết. Thành
phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tuỳ theo loại thức ăn, nếu thức ăn
nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo acid trong ruột rất phát triển.
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “vi sinh vật tuỳ tiện” thay đổi tuỳ theo
loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay được
với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh viễn. Hệ vi sinh
vật bắt buộc gồm: steptococcus, lactic, lactobacterium, acid ophilum, trực khuẩn
lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường ruột. Trong đường ruột và
dạ dày là môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển,
tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ
dày có những chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn
gây thối như dịch mật, dịch vị và tác động đối kháng của các vi khuẩn khác
nhau.
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật từ các nguồn trên. Trong
tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hoá, gây tiêu chảy (nhất là lợn con theo
mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và Salmonella
Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng: Vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các
chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh như: Vi khuẩn phó
thương hàn, vi khuẩn thối rữa. Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột
chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, cho nên chưa tạo được sự
cân bằng về hệ vi sinh vật đường tiêu hoá lợn con, tạo điều kiện cho các vi khuẩn
gây bệnh như E.coli phát triển mạnh nên lợn con bị rối loạn tiêu hoá.
YuYu (2005) [28], ở lợn con bú sữa, nhóm vi khuẩn Lactobacillus spp,
trong dạ dày và đường tiêu hoá phát triển mạnh. Vi khuẩn này sử dụng một số
đường lactose của sữa để sản sinh ra acid lactic làm giảm độ pH trong dạ dày, sự
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
tăng lượng acid này làm cho quá trình tiêu hoá tốt hơn và ngăn cản sự phát triển
của các vi khuẩn khác, một vài loại vi khuẩn trong đó bất lợi cho tiêu hoá của
lợn con.
1.1.2.4. Cấu tạo nhung mao ruột non và pH của đường tiêu hoá
* Cấu tạo nhung mao ruột non
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [20]: Niêm mạc ruột non được bao
phủ bằng lớp nhung dày đặc gọi là nhung mao, mỗi mm
2
có tới 20- 40 nhung
mao. Mỗi một nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, dài 0,5- 1mm được
bao phủ bằng lớp tế bào biểu mô trụ. Trong nhung mao có mạng lưới mao mạch
và mạch huyết. Mỗi nhung mao lại được bao phủ bằng các vi nhung mao làm
diện tích hấp thu của ruột non tăng lên hàng trăm lần. Trên toàn bộ ruột non có
nhiều tuyến ruột hình ống gọi là hõm Lieberkin tiết ra dịch ruột chứa men.
Riêng ở tá tràng có tuyến brunner là dạng trung gian của tuyến ở vùng hạ vị và
tuyến ruột, chất tiết là dịch nhầy.
Theo Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm (2008) [10]: Vỏ lông nhung
non nằm trong khoảng pH = 7 - 8 do các muối kiềm trong dịch tuỵ, dịch mật,
dịch ruột non tạo ra. Ở tá tràng, pH môi trường được quy định bởi pH của dịch
tuỵ (7,8 - 8,4) và dịch ruột (pH = 8,0 - 7,4) để tạo môi trường tá tràng có pH
nằm trong khoảng 7,5 - 8,0. Trị số pH của tá tràng dễ thay đổi khi tiếp nhận thức
ăn từ dạ dày xuống theo từng đợt. Với khối lượng thức ăn được trộn acid dịch vị
(pH acid) thì các muối kiềm trong dịch tuỵ và muối mật của dịch ruột sẽ trung
hoà acid trong thức ăn vì thế nguyên tắc pH chất chứa trong tá tràng phải giảm
đi.
Còn ở không tràng pH có độ kiềm cao (pH = 8,2 - 8,7). Trị số pH kiềm tính của
đoạn ruột là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại hoạt động. Vì thế
đứng trên quan điểm dinh dưỡng người ta tìm cách đưa vào đường ruột những
chất hay các vi khuẩn lên men acid như Lactobacillus để làm giảm bớt đi trị số
pH nếu có độ kiềm cao ở đường ruột non nhằm kìm hãm hoạt động của vi khuẩn
có hại.
2.1.3. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy ở lợn con
Tiêu chảy là thuật ngữ diễn tả một biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh
lý đặc thù của đường tiêu hóa. Là hội chứng do nhiều nguyên nhân như chăm
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
sóc, nuôi dưỡng, vi khuẩn, virut, ký sinh trùng Tỷ lệ nhiễm tiêu chảy phụ thuộc
rất lớn vào điều kiện chăn nuôi, hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của từng cá thể
(Võ Thành Thìn và cs, 2009) [22].
Tùy theo tính chất và đặc điểm của bệnh mà được gọi với nhiều tên khác
nhau.
Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia)
Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng.
Bệnh phân sữa (Milk - Scours)
Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn, bệnh xuất hiện
ở 3 giai đoạn chính.
Giai đoạn 1: Ở lợn con sơ sinh vài ngày tuổi.
hay trong thức ăn có tỷ lệ protein quá cao…
Trong rất nhiều trường hợp tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói
riêng, phát sinh do hàng loạt những thiếu sót trong quá trình chăm sóc nuôi
dưỡng như:
Nước uống bị bẩn, lợn con gặm mút lung tung trong đó có những chỗ bị
nhiễm E.coli.
Thay đổi khẩu phần ăn đột ngột làm cho khả năng tiết men của lợn con
không kịp.
Thiếu vitamin nhóm B như B
1
, B
12
cũng dẫn đến rối loạn tiêu hóa và tiêu
chảy.
Thiếu viatmin A, Cu, Selen… dẫn đến rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy.
Lợn con thiếu sắt cũng dẫn đến thiếu máu, phân trắng lợn con.
Như vậy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến triệu chứng tiêu chảy mà
chúng ta phải xem xét chẩn đoán chính xác để đề phòng và điều trị đúng thuốc
đúng bệnh (Nguyễn Hữu Vũ và cs,1999) [27].
- Do virus:
Bệnh do virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra. Bệnh sảy ra ở mọi lứa tuổi
của lợn và có tính chất lây lan cao. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là nôn mửa,
tiêu chảy mạnh, tỷ lệ chết cao đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi.
Bệnh tích chủ yếu là ruột non căng phồng, chứa đầy dịch, có nhiều bọt,
thành ruột mỏng và trong suốt do lông nhung bị teo.
- Bệnh dịch tả:
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
Bệnh do Pestisvirus gây ra. Đây là bệnh có tính chất truyền nhiễm và lây
lan mạnh, xảy ra quanh năm trên tất cả các giống lợn và lứa tuổi. Nhưng nặng
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
Các kết quả trên trùng với kết quả của Đoàn Thị Kim Dung (2004): E.coli
tăng gấp 2,13 - 2,46 lần, Salmonella tăng gấp 1,79 - 2,69 lần và theo Lưu Thị
Uyên (1999) [25]: E.coli tăng gấp 1,86 - 2,68 lần, Samonella tăng gấp 1,7 - 2,68
lần, Bacillus subtilis giảm 1,18 - 1,43 lần.
Chính những kết quả trên cho thấy trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn,
nhất là trong lợn con thì việc chăm sóc đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi, chọn
kháng sinh thích hợp để tiêu diệt, ức chế những vi khuẩn có hại, bổ sung chất
điện giải, bù lại lượng nước đã mất do ỉa chảy và cho ăn các chế phẩm sinh học
để lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột là những biện pháp
không thể thiếu được cho hiệu quả điều trị cao (Trương Quang và cs 2007) [16].
- Do Ký sinh trùng:
Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một
trong những nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn cũng như các gia súc
khác. Ký sinh trùng gây ỉa chảy tồn tại ở trong phân, nước tiểu, thức ăn khi vào
cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng trưởng thành phát triển thành ký sinh trùng
gây bệnh. Tác hại của chúng là cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết ra độc tố
(nội ngoại độc tố). Ngoài ra trong quá trình di hành, sinh trưởng và phát triển
chúng gây tổn thương niêm mạc ruột gây viêm ruột ỉa chảy. Các loại ký sinh
trùng gây viêm ruột ỉa chảy ở lợn:
Eimeria.spp: Cầu trùng
Ascaris: Giun đũa
Pasciotopisbusky: Sán lá
- Tiêu chảy ở lợn còn do người chăn nuôi lạm dụng thuốc kháng sinh làm
tăng cường tính kháng sinh của vi khuẩn.
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2004) [15] cho rằng: sai sót về chế độ
dinh dưỡng, sự thay đổi đột ngột về chế độ thức ăn, sự sai sót về sử dụng thuốc
điều trị, dùng kháng sinh điều trị quá dài hoặc bị một số bệnh đường tiêu hóa
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
sức đề kháng tốt cho vật nuôi.
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
Khống chế côn trùng và loài gặm nhấm.
Lợn bệnh phải được cách ly.
Tẩy giun sán định kỳ bằng: Tayzu, Mebendazol, Levamisol…
Khi lợn con mới sinh ra phải được bú sữa đầu. Tập cho lợn ăn sớm, khi
cho lợn con ăn thức ăn đảm bảo số lượng và chất lượng.
Tiêm phòng vacxin dịch tả lợn, phó thương hàn, đóng dấu lợn, tiêm
vacxin E.coli, Farvovirus cho lợn mẹ trước khi sinh.
Bổ sung sắt cho lợn con phòng bệnh phân trắng.
Bổ sung các chế phẩm sinh học như: ME, Orgacids, Bio để phòng và
chống bệnh tiêu chảy rất hiệu quả.
- Trị bệnh
Hội chứng tiêu chảy do rất nhiều nguyên nhân gây ra nên việc điều trị khá
phức tạp. Căn cứ vào từng nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng khác nhau mà ta
tiến hành điều trị một cách có hiệu quả nhất. Nguyên tắc chung trong điều trị
bệnh là loại trừ ngay nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy và phải đồng thời điều trị
triệu chứng.
+ Điều trị theo triệu chứng:
Tiêu chảy bao giờ cũng dẫn đến mất nước và rối loạn điện giải ở con vật
như HCO
-
3
, K
+
, Na
+
, Cl
-
* Vi khuẩn E.coli.
Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm Eschericheae, loài
Escherichia.
Trong các vi khuẩn đường ruột loài
Escherichia là loài phổ biến nhất. Loài này
xuất hiện và sinh sống trong động vật chỉ
vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi
con vật chết, E.coli sống bình thường trong
đường ruột của người và động vật. Khi các
điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú
y kém, sức chống đỡ bệnh tật của con vật yếu,
thì E. coli trở lên cường độc và có khả năng gây
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Hình 2.1: Vi khuẩn E. coli
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
bệnh E. coli có những đặc điểm chung sau đây: nhuộm màu gram âm, không
tạo thành nha bào, phần lớn là di động, thường tạo indol, không mọc trên môi
trường xitrat, không phân hủy ure,
không làm rữa genlatin.
- Đặc điểm hình thái.
Trực khuẩn E.coli có dạng hình
gậy ngắn, kích thước 0,6µm 2 -3µm, 2
đầu tròn, khi trong cơ thể có hình cầu.
Trực khuẩn đứng riêng lẻ đôi khi xếp
thành chuỗi ngắn, xung quanh thân có
lông nên có thể di động được. Khi
nhuộm bắt màu Gram (-) không hình thành nha bào. Trong tổ chức và dịch thể
ngâm ra từ bệnh tích thỉnh thoảng thấy hiện tượng bắt màu sẫm ở 2 đầu. Tuy
nhiên cũng có khi gặp những biến chủng không di động và không có lông.
- Đặc tính nuôi cấy
Môi trường Endo: E.coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ mận có ánh kim.
- Đặc tính sinh hóa
Trực khuẩn E.coli lên men và sinh hơi đường Glucoza, Galactoza,
Mantoza, Arabinoza, lactoza, xyloza, ramnoza, mannitol, fructoza. Có thể lên
men hay không lên men: Saccaroza, rafinoza, salixin, esculin, dunxit, glyxerol.
Chủng Bacterium coli commune không lên men saccaroza, trái lại ba chủng khác
là B. Coli communior, B lactis và B. Cloacae lên men saccaroza.
Không nên men Dextrin, Amindin, Glycozen, Xenlobio.
E.coli làm đông sữa sau 24h - 37h ở 37
0
C.
Phản ứng Indol: Dương tính.
Phản ứng H
2
S: Âm tính.
Phản ứng M.R: Dương tính.
Phản ứng V.P: Âm tính
Hoàn nguyên nitrat thành nitrit.
- Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn E.coli không chịu được nhiệt độ cao, chúng bị tiêu diệt ở 60
0
C
trong vòng 15 - 30 phút, 100
0
C chết ngay. Các chất sát trùng thông thường như
Formon 1%, Crezin 5%, nước vôi 20% có thể tiêu diệt E.coli trong vòng từ 5
phút.
E.coli đề kháng với sự sấy khô, chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại
kháng sinh.
Theo Lê Ngọc Anh, Phạm Khắc Hiếu (1997) [1] khi nghiên cứu về tính
nhanh trong đường ruột. Chúng tự hủy
hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố
này xâm nhập vào dòng lympho, do đó
máu nhiễm độc và con vật sẽ chết.
* Vi khuẩn Salmonella.
- Nguồn bệnh của vi khuẩn
Giống Salmonella gồm trên 600 chủng vi khuẩn, chủng đại diện của giống
này là Salmonella cholerae suis, trực khuẩn phó thương hàn lợn, do Salmon và
Smith phân lập vào năm 1885 trên lợn mắc bệnh dịch tả. Lúc đó người ta cho
rằng đó là vi khuẩn gây bệnh dịch tả lợn, nhưng sau đó người ta phát hiện virut
dịch tả lợn thì vi khuẩn Salmonella cholerae suis chỉ là một vi khuẩn kế phát
trong bệnh dịch tả lợn.
- Đặc điểm hình thái và đặc tính nuôi cấy:
Salmonella là một vi khuẩn hình gậy, hai đầu tròn, kích thước 0,4 - 0,6µm
x 1 - 3µm. Không hình thành giáp mô và nha bào, phần lớn có từ 7 - 12 lông nên
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Hình 2.3: Vi khuẩn Salmonella
(Pilus: tiên mao, Plagellum: lông roi,
Plasma membaranse: màng plasma,
cell wall: thành tế bào, capsule: bao nang)
Trường ĐH Tây Bắc Khoa Nông Lâm
có khả năng di động được. Bắt màu Gram âm, dễ nhuộm với các thuốc nhuộm
thông thường.
Vi khuẩn Salmonella sống được ở điều kiện hiếu khí và yếm khí, nhiệt độ
thích hợp 37
0
C, pH = 7,2 - 7,6. Salmonella gây bệnh cho động vật sinh trưởng
tốt ở môi trường hiếu khí hơn ở môi trưởng yếm khí.
Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 18 giờ canh trùng đục đều, nếu nuôi
cấy lâu ngày thì ở đáy ống có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng.
Người ta thường dùng các môi trường đặc biệt để phân lập vi khuẩn
Salmonella như thạch E.M.B (Eosin methylen blue), môi trường kauffman, môi
trường S.S (Shigella - Salmonella).
- Sức đề kháng của Salmonella
Mầm bệnh có sức đề kháng cao đối với tác động của môi trường bên
ngoài, chúng giữ khả năng sống rất lâu khi bị phơi khô, theo bụi bặm sống được
50 ngày, trong phân sống được 4 năm, Salmonella chết trong canh trùng ở nhiệt
độ 60
0
C trong vòng 60 phút, 70
0
C trong vòng 25 phút, 75
0
C trong vòng 5 phút.
Vô hoạt chúng trong vòng 10 phút ở nhiệt độ 80
0
C và 2 - 3h trong vòng 60
0
C.
Đặc biệt Salmonella chịu được nhiệt độ thấp, 10
0
C trong vòng 115 ngày, ở nhiệt
độ đong lạnh Salmonella tồn tại được 7 tháng.
- Đường nhiễm và khả năng truyền bệnh
Thực tế cho thấy đường nhiễm bệnh chủ yếu qua đường tiêu hóa và
đường hô hấp. Lợn con có thể nhiễm bệnh do tiếp xúc với những con bệnh khác
hoặc trong ăn uống. Đặc biệt qua sữa và bú sữa, lợn con bị bệnh ăn phải các loài
gặm nhấm chết vì bệnh Salmonella, vì vậy lây nhiễm có thể qua đường tiêu hóa.
Tuy nhiên kết quả gây nhiễm còn phụ thuộc vào chủng vi khuẩn, liều lượng gây
nhiễm và sức chống đỡ của lợn bị gây nhiễm.
thiện tính chất hệ vi sinh vật vốn có của
vật chủ”.
* Thành phần vi khuẩn
Probiotics
- Lactobacillus acidophilus có khả
năng sản xuất acid lactic và các chất diệt
khuẩn như lactocidin, ngăn cản sự xâm
nhập và ức chế sự tăng sinh của các vi
khuẩn gây bệnh, giúp cho cơ thể đề
kháng với nhiễm khuẩn đường ruột.
Lactobacillus acidophilus có khả năng sống 2 ngày trong dịch vị, 5 ngày
trong dịch mật tinh khiết, 8 ngày trong dịch tràng. Ngoài ra chúng còn có khả
Thào Ngọc Chính Lớp K52 ĐH Chăn Nuôi Thú Y
Hình 2.4: Lactobacillus acidophilus