Những giá trị, hạn chế của Phật giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - một trong ba tôn giáo lớn nhất
trên thế giới hiện nay và tồn tại từ rất lâu đời (từ khoảng thế kỷ VI trước công nguyên).
Hệ thống giáo lý rất đồ sộ và số lượng Phật tử đông đảo được phân bố trên nhiều nước.
Lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo hiện nay được mở rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo
lý, kinh điển, lịch sử… Phật giáo ra còn đề cập đến các lĩnh vực Triết học, Tâm lí học,
Khảo cổ học, Xã hội học… Phật học đã trở thành một khoa học tương đối quan trọng
trong khoa học xã hội. Hay như Tôn Trung Sơn nói: “Phật học là mẹ của triết học,
nghiên cứu Phật học có thể bổ khuyết cho khoa học” [7]. Mặc dù Phật giáo có những giá
trị sâu sắc như vậy nhưng cũng có những mặt hạn chế, không phù hợp cần hoàn thiện.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác –
Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc
thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít
nhiều ăn sâu vào tư tưởng tình cảm của một bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Vì vậy,
nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của đạo Phật vào thế giới quan, nhân sinh
quan là rất cần thiết.
Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỉ II sau công nguyên và đã
nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
con người Việt Nam, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên Chúa. Vậy nên có thể nói
quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành,
phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng,
đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật giáo và những ảnh hưởng, mối
quan hệ, tác động qua lại giữa chúng.
Tóm lại, nghiên cứu: “Những giá trị, hạn chế của Phật giáo và ảnh hưởng của
nó ở nước ta hiện nay” là rất cần thiết và quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
tinh thần của đại bộ phận người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước.
B. NỘI DUNG
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Sự hình thành và triết lý về bản thể nhân sinh của Phật giáo:

tìm kiếm mục tiêu cứu cánh nhân sinh ở sự “giải thoát” khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo
để đạt tới trạng thái tồn tại Niết Bàn. Tính quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật
giáo thể hiện ở chỗ nâng cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự
giải thoát là cho tất cả mọi người mà cao hơn nữa là của mọi “chúng sinh”. Điều này
mang tính nhân bản sâu sắc, vượt qua giới hạn đẳng cấp khắc nghiệt. Nó nói lên khát
vọng “tự do cho tất cả mọi người”. Nhưng đó không phải kêu gọi gián tiếp cho quyền
bình đẳng về mặt chính trị mà là bình đẳng trong sự mưu cầu giác ngộ.
Nội dung triết học nhân sinh của Phật giáo tập trung ở bốn luận điểm (gọi là “tứ
diệu đế” hay “tứ chân đế”, “tứ thánh đế”). Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn
Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật. Tứ đế được Phật
giáo coi là bốn chân lý vĩ đại về cuộc sống nhân sinh cho bất cứ cuộc sống nhân sinh
nào thuộc đẳng cấp nào. Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế.
- Luận điểm thứ nhất - Khổ đế (Duhkha – satya): Sự thật nơi cuộc sống nhân sinh
không có gì khác ngoài sự đau khổ, ràng buộc hệ lụy, không có tự do. Đó là tám nỗi khổ
(bát khổ) trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu: 1/Sinh; 2/Lão (già);
3/Bệnh (ốm đau); 4/Tử (chết); 5/Thụ biệt ly (yêu thương nhau phải chia lìa); 6/Oán tăng
hội (oán ghét nhau nhưng phải sống với nhau); 7/Sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng
không đạt được); 8/Ngũ thụ uẩn (năm yếu tố vô thường nung nấu làm khổ). [14,30]
- Luận điểm thứ hai - Nhân đế (samudayya – satya): Phật giáo cho rằng cuộc sống
đau khổ là có nguyên nhân. Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết
“thập nhị nhân duyên” - đó là mười hai nguyên nhân và kết quả nối theo nhau, cuối
cùng dẫn đến các đau khổ của con người: 1/Vô minh; 2/Hành; 3/Thức; 4/Danh sắc;
5/Lục nhập; 6/Xúc; 7/Thụ; 8/Ái; 9/Thủ; 10/Hữu; 11/Sinh; 12/Lão – Tử. Trong đó “vô
minh” là nguyên nhân đầu tiên, thâu tóm tất cả. Bởi vậy diệt trừ “vô minh” là diệt trừ tận
gốc rễ sự đau khổ nhân sinh. Dưới góc độ nhận thức, “vô minh” là “ngu tối”, “không
sáng suốt”, “thiếu giác ngộ chân lý”. [14,30]
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Luận điểm thứ ba - Diệt đế (Nirodha - satya): là luận điểm về khả năng có thể
tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống nhân sinh, đạt tới trạng thái Niết Bàn, cứu cánh của

của Des Cartes và chủ nghĩa duy vật cực đoan trong khoa học. Vào giữa thế kỷ XX,
khoa học đã gặt hái được nhiều thành công. Sự phát triển vượt bậc của khoa học thế kỷ
XX cho phép chúng ta thẩm định một cách khoa học các khái niệm như vô thường, vô
ngã do Đức Phật dạy là đúng với tự nhiên, vượt qua không gian ba chiều, vượt qua khoa
học cổ điển.
Những gì được khoa học khám phá ra cho là mới, thật ra trên 2.500 năm trước Đức
Phật đã biết. Điều này đã được xác nhận bằng những lời phát biểu của các nhà khoa học
hàng đầu thế kỷ XX. Triết gia Derek Parfit ở Đại học Oxford chấp nhận quan niệm của
Phật giáo về đời sống và vô ngã. Derek Parfit, Fritj of Capra (nhà vật lý hạch tâm nổi
tiếng) và Gary Zukav chấp nhận quan niệm của Phật giáo về vật chất và tin chắc rằng
cần phải giải phóng bản thân chúng ta khỏi ngục tù của các phân tử vật chất. [6]
Khoa học đã mở ra con đường thích ứng với thời đại, khẳng định giá trị thực tiễn
của nhân sinh quan. Nếu thế giới công nhận sự thành tựu của khoa học, tức là họ đã đi
vào quỹ đạo của Phật giáo. Bởi vì Phật giáo không phải là tôn giáo thuần tín ngưỡng,
mà là tôn giáo của lý trí. Cho nên nghiên cứu Phật giáo trên lập trường khoa học, có thể
soi sáng cho nhân loại trên hành trình tìm chân lý. Đại sư Thái Hư từng nói: “Khoa học
càng phát triển, tức là hiển bày ý nghĩa chân thật của Phật giáo”. [6]
2.1.2 Giá trị thiết thực của Phật giáo:
Đạo Phật đến với con người qua những lời dạy thiết thực gắn liền với những hành
vi cử chỉ của mỗi người, những mối quan hệ giữa con người với con người và con người
với xã hội. Nhưng trong bất cứ tình huống nào thì con người cũng phải “làm chủ”,
không bị nô lệ bất cứ một đối tượng hay một sự vật nào cả. “Làm chủ không có nghĩa là
nêu cao bản ngã, nuôi dưỡng bản ngã hay độc quyền, độc đoán. Mà làm chủ có nghĩa
là tự làm chủ mình trước mọi hoàn cảnh, trước những đột biến của nội tâm và ngoại
cảnh”. Muốn thành công trên đường đời phải làm chủ chính mình. Muốn độ người, độ
đời, trước tiên nhất thiết phải độ mình, tự quay lại với chính mình, soi rọi tận tâm để tu
tập, để sửa đổi, chuyển hóa tâm thức của mình, nên nói: “Phương châm hướng nội,
quay về với chính mình, với con người thật của mình…là phương châm sống động nhất
và thiết thực nhất để cải tạo xã hội và xây dựng Niết Bàn ngay trên thế gian này”.
[1,210]

hình thành nên đạo đức xã hội, để hòa điệu với cái “ta rộng lớn” của toàn thể vũ trụ vô
biên, Đức Phật đã từng dạy: “Một hạnh phúc vĩnh cửu chỉ sống mạnh trong một tâm
hồn giải thoát và tâm hồn giải thoát chỉ có thể thực hiện một khi cá nhân chịu nhường
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bước”. Đó là mục đích giáo dục con người hoàn thiện cả về tài lẫn đức trong một xã hội
văn minh. [11]
Nội dung giáo dục của triết lý Phật giáo chẳng khác gì lời kêu gọi hòa bình - một
nhu cầu luôn cần cho mọi người, mọi nhà, và là tài sản quý báu nhất của nhân loại. Đây
là giá trị nhân đạo nhất, khác với mọi tôn giáo khác, trong suốt lịch sử tồn tại và phát
triển Phật giáo luôn xuất hiện và thâm nhập vào các dân tộc như sứ giả của hòa bình, an
lạc.
* Giáo dục con người sống có đạo đức và đạt được hạnh phúc:
Để giáo dục đạo Phật đã đưa ra bốn chân lý kỳ diệu, với yếu tố biện chứng, kết cấu
chặt chẽ khi đưa ra lý thuyết “ngũ uẩn”, chỉ rõ căn nguyên của khổ đau là do thâm, sân,
si cùng với lý luận về thập nhị nhân duyên, đồng thời khẳng định con đường diệt khổ đó
là “trung đạo”,“bát chính đạo”... chứa đựng sự lý đầy thuyết phục và hướng con người
đến nếp sống thiện lánh xa cái ác. Dạy con người sống cảm thông, hỷ xả với nhau. Vị
tha dạy con người sống vì người khác, bao dung độ lượng đó là phương pháp giúp con
người đạt được đức hạnh. Đây là động lực nảy sinh mọi điều tốt lành. [11]
Phật giáo khẳng định tất cả mọi người đều có “Phật tính” sẽ đạt được nếu thực
hành đúng theo giáo lý trao dồi đạo đức trong cuộc sống của chính mình sẽ được hạnh
phúc.
Từ đó ta thấy giá trị tinh thần đạo đức toàn diện của giáo dục Phật giáo là trình bày
sự thật về những mối tương quan giữa sự vật hiện hữu trong cuộc đời để giúp con người
có được chính kiến để tạo lập cuộc sống của mình và chuyển đổi hoàn cảnh, để có thể
chinh phục và cảm hóa được mọi người xung quanh.
* Xây dựng một xã hội văn minh và tự do:
Thế giới này đang sôi sục chiến tranh, mọi bảng giá trị hầu như được con người
quy chiếu bằng thước đo đồng tiền. Thái độ “chấp thủ” của từng cá nhân ngày càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status