TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
o0o
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO
TỈNH HẢI DƯƠNG TỪ 2007 ĐẾN NAY.
Họ và tên : Đào Thị Thắm
Lớp : KTĐT_D K48
GV hướng dẫn : TS.Trần Thị Thu Hà
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Hà Nội, 2009
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1987 Việt Nam ban hành Luật Đầu tư mới với nhiều ưu đãi và
thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, đã có rất nhiều nhà đầu tư từ nhiều nước
ồn ạt đầu tư vào Việt Nam.Tận dụng được rất nhiều lợi thế của Việt Nam như
tài nguyên phong phú,giao thông thuận lợi, nhân lực dồi dào,tiền lương
rẻ….đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được mở rộng về quy mô và ngày
càng có hiệu quả. Luật Đầu tư đang từng bước sửa đổi và bổ sung nhằm hoàn
thiện hơn, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài.Thực tiễn, đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể môi trường đầu
tư của Việt Nam đã bớt rủi ro hơn và được hoàn thiện hơn.
Là 1 điểm trong tam giác vàng Hải Phòng – Quảng Ninh- Hải Dương, là
1 tỉnh giàu tiềm lực về cả tự nhiên và con người, trong những năm gần đây
Hải Dương cũng đã đặc biệt quan tâm và là điểm đến của rất nhiều các nhà
đầu tư từ rất nhiều nước.Gần đây Hải Dương đã thực hiện chính sách “lưu
thông 1 cửa”, khiến cho số lượng vốn đầu tư vào Hải Dương không ngừng gia
tăng,quy mô các KCN(khu công nghiệp) ngày càng được mở rộng tạo công ăn
việc làm cho hàng ngàn công nhân, các cơ sở hàng tầng cũng được xây dựng
rất nhiều. Không chỉ vậy, năm… Hải Dương là 1 trong 10 tỉnh dẫn đầu trong
cả nước trong việc thu hút vốn FDI. Đây là đề tài mới lạ đang được rất nhiều
chức và cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc
bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100%
vốn nước ngoài”.
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động di chuyển vốn của các
cá nhân và tổ chức nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm
Đào Thị Thắm KTĐT48D
3
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Xuất phát từ khái niệm, chúng ta có thể
rút ra một số đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Một là, các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn
pháp định, tuỳ theo luật đầu tư nước ngoài (tại Việt Nam, khi liên doanh, số
vốn góp của bên nước ngoài phải lớn hơn hoặc bằng 30% vốn pháp định).
Hai là, quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với
doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý
doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tuỳ thuộc vào mức vốn góp của
các bên khi tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì
người nước ngoài (chủ đầu tư) toàn quyền quản lý xí nghiệp.
Ba là, lợi nhận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt
động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
Bốn là, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây
dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang
hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
Năm là, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn
mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh
nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu
tư.
Sáu là, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động
kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.
kinh doanh do các bên hợp tác thoả thuận phù hợp với tính chất, mục tiêu
kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh được người có thẩm quyền của các
bên hợp doanh ký.
Doanh nghiệp liên doanh
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và nghị định 24/2000/NĐCP
ngày 31/07/2000 của chính phủ Việt Nam thì: doanh nghiệp liên doanh là
doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh
được ký kết giữa các bên (bên nước ngoài và bên Việt Nam). Doanh nghiệp
liên doanh có tư cách pháp nhân, các bên tham gia liên doanh cùng góp vốn,
Đào Thị Thắm KTĐT48D
5
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
cùng tham gia quản lý, cùng phân chia lợi nhuận, rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của
mỗi bên vào vốn pháp định của liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc
sở hữu của các tổ chức, các nhân nước ngoài do họ thành lập và quản lý. Xí
nghiệp này là một pháp nhân mới ở Việt Nam dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn do chủ sở
hữu chịu trách nhiệm.
1.3.Tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a.Tính tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của
mình. Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác
các dạng tài nhuyên thiên nhiên. Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức
cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao
thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới
nhằm tậm dụng những lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trờng
của những nước đó. Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu về
đối thấp, tiền công hạ và nguyên liệu rẻ. Mặt khác, các công ty tư bản lớn
đang cần nguồn nguyên liệu và các tài nguyên thiên nhiên khác, đảm bảo
cung cấp ổn định và đáng tin cậy cho việc sản xuất của họ. Điều này vừa tạo
điều kiện cho các công ty lớn thu được lợi nhuận cao, vừa giúp họ giữ vững vị
trí độc quyền.
Theo Lênin thì “xuất khẩu tư bản” là một trong năm đặc điểm kinh tế của
chủ nghĩa tư bản, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản thực hiện việc
bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó. Nhưng cũng
chính Lênin khi đưa ra “chính sách kinh tế mới” đã nói rằng: những người
Cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của
Chủ nghĩa Tư bản thông qua hình thức “tư bản nhà nước”. Theo quan điểm
Đào Thị Thắm KTĐT48D
7
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
này nhiều nước đã “chấp nhận” phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để
phát triển kinh tế, như thế có thể còn nhanh hơn là tự thân vận động hay đi
vay vốn để mua lại những kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển. Mặt
khác, mức độ “bóc lột” của các nước tư bản còn phụ thuộc vào điều kiện kinh
tế, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư tư bản. Nếu như trước đây, hoạt động
xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính
họ thì ngày nay các nước tiếp nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập có chủ
quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo pháp luật, sự
quản lý của chính phủ sở tại và thông lệ quốc tế. Nếu các chính phủ của nước
sở tại không phạm những sai lầm trong quản lý vĩ mô thì có thể hạn chế được
những thiệt hại của hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước nào đó, nước
nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như: cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các
điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ
phụ trợ phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước
phát triển thường chọn nước nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn
Trong xu thế đó, chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính
sách này kìm hãm quá trình phát triển của xã hội. Một quốc gia hay vùng lãnh
thổ khó tách biệt khỏi thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã kéo
con người ở khắp nơi trên thế giới xích lại gần nhau hơn và dưới tác động
của quốc tế hoá khác buộc các nước phải mở cửa với bên ngoài. Vì vậy, đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hình thức kinh doanh quốc tế hữu
hiệu nhất hiện nay, đã và đang trở thành phổ cập như một phương thức tiến
tạo.
Ngày nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra một cách sôi nổi và rộng
khắp trên toàn cầu. Các luồng vốn đầu tư không chỉ di chuyển từ các nước
phát triển,nơi nhiều vốn sang các nước đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có
sự giao lưu giữa các quốc gia phát triển vơi nhau. Hiện tượng này xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
Đào Thị Thắm KTĐT48D
9
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Thứ nhất, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng với qui mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trờng
toàn cầu trong đó tính phụ thuộc lãn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia
ngày càng tăng. Quá trình này diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh đã
chi phối thế giới trong nửa thế kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quốc gia
đều theo xu hướng mở cửa và theo quĩ đạo của kinh tế thị trường, bằng chứng
là phần lớn các quốc gia đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),
chấp nhận xu hớng tự do hoá thương mại và đầu tư. Trong điều kiện trình độ
phát triển sản xuất, khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên thiên
nhiên, mức độ chi phí sản xuất ở các nước khác nhau thì nguồn vốn đầu tư
nước ngoài sẽ tuân theo những qui luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thiều
đến nơi thiếu vốn với mục tiêu lợi nhuận.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã tạo nên sự biến đổi
nhanh chóng và kì diệu của sản xuất. Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng
cần một lượng vốn rất lớn. Trong điều kiện khả năng đáp ứng của nền kinh tế
là có hạn thì chúng ta không còn con đuờng nào khác là thu hút sự hợp tác
đầu tư của nước ngoài. Để thực hiện điều đó, tại đại hội VI (12/1986), Đảng
và Nhà nước đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế
đối ngoại nhằm tận dụng “những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về
di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để
bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nớc”. Đảng
chủ trương “Đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại” với
quan điểm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Tại
đại hội VIII, Đảng chủ trơng “Vốn trong nước là chính, vốn nớc ngoài cũng
quan trọng”. Tất cả những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động đầu
tư nước ngoài nói riêng.
Đào Thị Thắm KTĐT48D
11
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Như vậy, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu
thế tất yếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh
tế Việt Nam.
2. Điều kiện thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài
Kinh doanh quốc tế có nhiều hình thức như: xuất nhập khẩu, đầu tư, hợp
đồng hợp tác các hình thức đó sẽ được các chủ thể tham gia kinh doanh
quốc tế áp dụng cho từng trường hợp thâm nhập thị trường và tuỳ khả năng
của các chủ thể. Câu hỏi đặt ra cho các chủ thể kinh doanh quốc tế đó là: khi
nào đi đầu tư trực tiếp nước ngoài?, các chủ thể kinh doanh quốc tế quyết
định thâm nhập thị trường nước ngoài theo phương thức đầu tư trực tiếp trong
các trường hợp sau:
Một là, chi phí vận tải cao. Khi xuất khẩu hàng hoá để thâm nhập thị
trường nước ngoài, người xuất khẩu phải chịu nhiều chi phí khác nhau như:
chi phí bảo hiểm, chi phí vận tải, thuế quan Trong đó, chi phí vận tải chiếm
là rất lớn. Theo quan điểm phát triển thì: một quốc gia không thể giàu có khi
phần còn lại của thế giới nghèo đói, do đó, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư
quốc tế khi có sự dư thừa vốn trong quốc gia nhằm tạo động lực phát triển cho
các quốc gia nghèo.
Năm là, khai thác nguồn lực nước ngoài. Các quốc gia đều có giới hạn về
nguồn lực, thậm chí không có nguồn lực. Khi các nguồn lực trong nước khan
hiếm các chủ đầu tư có xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài nhằm khai
thác nguồn lực sẵn có của nước sở tại như: tài nguyên thiên nhiên, lao động
rẻ Vì vậy, họ tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Ngoài các trường hợp trên, các chủ thể kinh doanh quốc tế còn tiến hành
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong trường hợp: do cạnh tranh tại nước chủ nhà
quá gay gắt hoặc các chủ đầu tư theo đuổi đối thủ cạnh tranh và theo đuổi
khách hàng tại nước sở tại.
3. Đầu tư nước ngoài đối với các nước đang phát triển
Đào Thị Thắm KTĐT48D
13
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Nguồn vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài có tác động không nhỏ đối với
các nước nhận đầu tư, đặc biệt các nước phát triển trên cả hai mặt ; tích cực
và tiêu cực.
Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung một nguồn
quan trọng bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở các nước
đang phát triển.
Thứ hai, đầu tư trực tiếp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Để tham gia ngày càng nhiều vào quá
trình phân công lao động quốc tế , thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước
ngoài đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù
hợp. Mặt khác, sự gia tăng của hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện
nhiều ngàng mới, lĩnh vực mới Góp phần thúc đẩy sự phát tiển nhanh chóng
trình độ kĩ thuật-công nghệ của nhiều ngành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng
nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ.
Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu- ứng dụng ngày càng được rút
ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều
nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nớc nhận đầu tư như một phần vốn
góp . Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư
ngày càng lạc hậu.
Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các
nước nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
như: giảm thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng
Năm là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh
với các doanh nghiệp trong nước. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án
đầu tư nước ngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nớc vào vòng xoáy cạnh
tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác.
Đào Thị Thắm KTĐT48D
15
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Sáu là, các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu tư trực tiép nước
ngoài còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã
hội mới xâm nhập vào nước ta.
II. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
1.Chính sách của các quốc gia
Đầu tư quốc tế nói riêng và kinh doanh quốc tế nói chung có liên quan
tới nhiều quốc gia tham gia vào quá trình di chuyển vốn quốc tế.
Thứ nhất, chính sách của nước xuất khẩu vốn. Khi xem xét chính sách
của nước xuất khẩu vốn tác động tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
chúng ta phải đi tìm hiểu xem chính sách của quốc gia đó có tạo điều kiện
thuận lợi cho dòng vốn di chuyển ra khỏi quốc gia hay không. Chính sách
thúc đẩy xuất khẩu vốn đầu tư của các quốc gia phụ thuộc vào nền kinh tế của
hợp lý sẽ tạo rào cản lớn, tạo một trường đầu tư không thuận lợi đối với các
chủ đầu tư. Chính sách quản lý ngoại tệ tại một quốc gia tác động trực tiếp tới
tâm lý của nhà đầu tư nước ngoài; một quốc gia quản lý ngoại hối theo
nguyên tắc thả nổi theo thị trường sẽ dẫn đến sự thay đổi liên tục của tỷ giá
hối đoái tuỳ theo nhu cầu thị trường, do đó các chủ đầu tư sẽ có tâm lý rụt rè,
lo sợ trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại quốc gia đó; một quốc
gia quản lý ngoại hối theo nguyên tắc: thả nổi có điều tiết hoặc cố định sẽ tạo
tâm lý yên tâm hơn cho các chủ đầu tư nước ngoài. Chính sách thương mại
liên quan tới hoạt động xuât nhập khẩu của các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài, hạn ngạch xuất nhập khẩu thấp và các giào cản thương mại khác xẽ
gây khó khăn cho các dự án đó bởi vì hầu hết các dự án FDI khi đi vào hoạt
động đều liên quan tới xuất nhập khẩu: xuất nhập khẩu máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu, sản phẩm Chính sách thương mại bất hợp lý sẽ là rào cản
lớn đối với hoạt động của một dự án FDI. Ngoài ra, chính sách thuế, chính
sách ưu đãi và các chính sách vĩ mô khác cũng ảnh hưởng tới sự di chuyển
Đào Thị Thắm KTĐT48D
17
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
vốn FDI vào một quốc gia. Vì vậy, một quốc gia cần kết hợp một cách hài hoà
giữa các hoạt động quản lý nhằm tạo sự thống nhất trong việc đề ra và thực
hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thu hút FDI. ở
việt nam gần đây, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi thuận lợi
nhằm mở rộng thu hút FDI như: chính sách về thuế, chính sách về quản lý
hành chính, chính sách thương mại, chính sách quản lý ngoại hối Nhưng
hiện nay một số chính sách quản lý và điều tiết thị trường tại Việt Nam đang
gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Quy định về chương
trình nội địa hoá đối với các dự án công nghiệp nặng chưa mang tính hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, Chính sách tiền tệ.
Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở
chiến lược thích nghi hoá hoặc chiến lược tiêu chuẩn hoá sản phẩm. Tuỳ từng
thị trường, tuỳ từng sản phẩm, tuỳ khả năng của doanh nghiệp mà áp dụng các
chiến lược cho hợp lý và có hiệu quả.
Khi tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài các chủ đầu tư cần phải nghiên
cứu sự thích nghi của sản phẩm và công nghệ khi đem đi đầu tư đối với thị
trường sở tại. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tất yếu diễn ra sự chuyển
giao công nghệ, một công nghệ phù hợp sẽ giúp cho các dự án đầu tư đạt được
hiệu quả như mong muốn. Một công nghệ phù hợp là phải phù hợp với trình
độ của lực lượng sản xuất tại nước sở tại, khai thác tối đa những lợi thế của thị
trường sở tại, đáp ứng những yêu cầu của nước sở tại. Một công nghệ tốt, hiện
đại vẫn chưa đủ nếu như sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra không phù hợp
với thị trường nội địa. Công nghệ phù hợp quyết định sự khai thác các yếu tố
đầu vào còn sự phù hợp của sản phẩm đối với thị trường sở tại sẽ quyết định
doanh thu và lợi nhuận của dự án. Như vậy, sự phù hợp của sản phẩm và công
nghệ của chủ đầu tư đối với thị trường sở tại ảnh hưởng trực tiếp tới dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài di chuyển vào quốc gia đó. ở Việt Nam thời gian
qua, hoạt động đầu tư gắn liền với chuyển giao công nghệ. Qúa trình chuyển
Đào Thị Thắm KTĐT48D
19
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
giao công nghệ qua các dự án FDI thời gian qua tại Việt Nam còn nhiều vấn
đề bất cập nhưng phần nào cũng là một tất yếu. Công nghệ sản xuất từ những
năm 60,70 nhưng đáp ứng được yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao
động, phù hợp với trình độ của người lao động việt nam. Tuy nhiên, một vấn
đề đặt ra là do quá trình thẩm định công nghệ và trình độ của người thẩm định
công nghệ không tương xứng dẫn đến sự du nhập các công nghệ lạc hậu không
phù hợp với việt nam. Các dự án FDI vào Việt Nam phần lớn xuất khẩu sản
phẩm nhờ lợi thế so sánh là giá lao động rẻ, tuy nhiên, để tiêu thụ sản phẩm
trên thị trường nội địa các chủ đầu tư đều phải thích nghi sản phẩm của mình.
3.Sự thích nghi của sản phẩm và công nghệ của chủ đầu tư đối với
Việt Nam còn nhiều vấn đề bất cập nhưng phần nào cũng là một tất yếu. Công
nghệ sản xuất từ những năm 60,70 nhưng đáp ứng được yêu cầu giải quyết
việc làm cho người lao động, phù hợp với trình độ của người lao động việt
nam. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là do quá trình thẩm định công nghệ và
trình độ của người thẩm định công nghệ không tương xứng dẫn đến sự du
nhập các công nghệ lạc hậu không phù hợp với việt nam. Các dự án FDI vào
Việt Nam phần lớn xuất khẩu sản phẩm nhờ lợi thế so sánh là giá lao động rẻ,
tuy nhiên, để tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa các chủ đầu tư đều phải
thích nghi sản phẩm của mình.
4. Khả năng của công ty khi đầu tư
Một công ty tham gia kinh doanh quốc tế đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng
môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp để từ đó quyết
định chiến lược kinh doanh quốc tế, quyết định phương thức thâm nhập thị
trường một cách có hiệu quả. Phân tích môi trường bên ngoài giúp cho công
ty chỉ ra được cơ hội và thách thức đối với mình khi tham gia kinh doanh
quốc tế còn phân tích môi trường bên trong công ty (khả năng của công ty) sẽ
chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu của mình làm giúp công ty tận dụng cơ hội,
giảm bớt các thách thức trên thị trường quốc tế.
Đào Thị Thắm KTĐT48D
21
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
Xem xét khả năng của công ty khi đi đầu tư là xem xét những yếu tố về
nguồn lực, kinh nghiệm quản lý và các chức năng tác nghiệp. Nguồn lực của
công ty là khả năng về vốn và công nghệ của công ty đó. Một công ty có khả
năng rồi rào về vốn, công nghệ liên tục đổi mới và phát triển sẽ tạo cho công
ty một sức mạnh rất lớn khi đầu tư ra nước ngoài, ngược lại công ty sẽ không
có khả năng để vươn ra thị trường nước ngoài bằng hình thức đầu tư trực tiếp.
Kinh nghiệm quản lý của công ty cũng là một sức mạnh không nhỏ quyết
định sự thành công của công ty khi môi trường kinh doanh thay đổi, kinh
nghiệm quản lý của các nhân viên tốt sẽ tạo sự thích ứng trong quản trị kinh
khuyến khích sẽ tạo điều kiện hướng dòng vốn FDI vào các lĩnh vực một cách
có hiệu quả, kích thích các chủ đầu tư đầu tư vào thị trường đó. Ngoài ra các
rào cản thâm nhập thị trường nước sở tại cũng sẽ là một nhân tố quyết định
khi chủ đầu tư cân nhắc đầu tư. Một thị trường có tiềm năng lớn, khả năng
phát triển cao và ổn định nhưng rào cản thâm nhập lớn sẽ dẫn đến lợi nhuận
của dự án thấp không có sức lôi cuốn các nhà đầu tư so với thị trường có tiềm
năng, khả năng phát triển kém hơn nhưng rào cản nhập cuộc nhỏ hơn.
Thứ ba, sự phát triển của thị trường và sự cạnh tranh trên thị trường. Sự
phát triển của thị trường nhanh sẽ mở rộng doanh thu của dự án, tạo tiền đề
cho dự án thu được lợi nhuận, đẩy nhanh thời gian thu hồi vốn đầu tư, ngược
lại khả năng thu hồi vốn của dự án chậm, ít khả thi. Cường độ cạnh tranh trên
thị trường nước sở tại sẽ cho thấy khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản
phẩm dự án như thế nào, cường độ cạnh tranh trên thị trường nước sở tại càng
gay gắt, thị phần của sản phẩm dựa án càng nhỏ, khả năng phát triển của dự
án thấp, thời gian thu hồi vốn chậm, hiệu quả đầu tư không cao.
Thứ tư, vị thế của thị trường sở tại. Thị trường sở tại có vai trò rất lớn
trong việc quyết định trong việc phát triển sản xuất khi dự án đi vào hoạt
động. Vị trí của thị trường thuận lợi cho việc cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản
phẩm và giao lưu thuận tiện với các thị trường khác là địa điểm tối ưu để đầu
tư. Mặt khác, thị trường có những lợi thế về điều kiện kinh tế-xã hội, nhân
Đào Thị Thắm KTĐT48D
23
Thực trạng và giải pháp thu hút vốn FDI vào tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây
lực, sẽ giúp cho dự án vận hành trơn tru và có hiệu quả. Vị thế của thị
trường sở tại tốt sẽ tạo sức hút không nhỏ đối với các chủ đầu tư nước ngoài.
Thứ năm, hạ tầng cơ sở kỹ thuật. Một quốc gia, một địa phương có cơ
sổ hạ tầng kỹ thuật phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nếu như khi đầu tư vào một quốc gia nào đó mà các chủ đầu
tư phải tự đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động
của dự án thì sẽ dẫn tới chi phí ban đầu lớn, giảm lợi nhuận của dự án và
hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, đây cũng là một nhân tố làm tăng
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển và chậm
phát triển
2.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới chủ yếu vận động
trong nội bộ các nước cùng khu vực
Xu hướng này xuất hiện là do quá trình hình thành các liên kết kinh tế-
chính trị trong các khu vực như: khu vực ASEAN, khu vực tự do Bắc Mĩ
(NAFTA), EU, Các liên minh, liên kết này có những chính sách phát triển
kinh tế thống nhất và khuyến khích đầu tư cùng khối, cùng khu vực. Ngoài ra,
các nước cùng khu vực có sự tương đồng về văn hoá cho nên dòng vốn chu
chuyển giữa các quốc gia cùng khu vực chiếm tỷ trọng rất lớn.
3.Có sự thay đổi lớn về tương quan lực lượng các chủ đầu tư lớn
trên thế giới
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các chủ đầu tư lớn tập trung ở các
nước Anh, Mĩ, nhưng từ năm 1980 đến nay vai trò của các chủ đầu tư Anh,
Mĩ giảm dần. Trong khi đó sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và sự tăng giá
của các đồng tiền, vai trò của các chủ đầu tư Nhật, Đức, Pháp, có xu hướng
tăng lên (đặc biệt là các chủ đầu tư Nhật Bản).
4.Có sự thay đổi về cơ cấu và lĩnh vực đầu tư
Hiện nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một số ngành có xu
hướng tăng như: công nghiệp chế biến, công nghệ cao, dịch vụ, ngành sử
dụng nhiều vốn. Còn các ngành như: thực phẩm, khai thác tài nguyên thiên
nhiên, sử dụng nhiều lao động có xu hướng giảm dần. Các chủ đầu tư thường
Đào Thị Thắm KTĐT48D
25