VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP SUY NGHĨ
- Nghiên cứu : Phương pháp suy nghĩ
- Các ứng dụng của nghiên cứu.
- Các định nghĩa về nghiên cứu.
- Các đặc điểm của công tác nghiên cứu.
- Các kiểu nghiên cứu.
Nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu theo mục tiêu.
Nghiên cứu theo loại thông tin tìm kiếm.
- Các cơ chế của nghiên cứu.
- Tóm tắt chương.
Nghiên cứu: phương pháp suy nghĩ
Nghiên cứu được thực hiện trong hầu hết các chuyên ngành. Không chỉ là tập hợp các kỹ
năng, nghiên cứu còn là một cách, một phương pháp suy nghĩ: khảo xét nghiêm túc các khía cạnh
khác nhau của chuyên ngành; tìm hiểu và xây dựng các nguyên lý hướng dẫn để các nguyên lý
hướng dẫn để vận hành những thủ tục nhất định; phát triển và kiểm thử các lý thuyết mới nhằm
mở rộng chuyên ngành. Để tạo ra các thay đổi hướng dẫn việc nâng cao, mở rộng chuyên ngành,
cách ứng xử thường gặp là chất vấn, điều tra những gì đã được thực hiện và tìm câu trả lời ở
những xem xét thực nghiệm. Có thể lấy thí dụ ở vài chuyên ngành.
Giả thuyết chúng ta làm việc ở lĩnh vực y tế. Dù làm việc ở đâu và với vị trí và cương vị
gì, ta vẫn phải nghĩ đến các câu hỏi sau đây – và danh sách các câu hỏi còn có thể dài hơn nữa:
- Mỗi ngày, ta tiếp xúc với bao nhiêu bệnh nhân?
- Điều kiện hoàn cảnh chung nhất của các bệnh nhân là gì?
- Nguồn gốc của các điều kiện hoàn cảnh nêu trên là những gì?
- Tại sao có một số người có những điều kiện rất đặc thù trong khi những người khác lại
không có?
- Nhu cầu y tế của cộng đồng là những gì?
- Tại sao một số người dùng đến dịch vụ y tế còn những người khác lại không?
- Người ta nghĩ gì về dịch vụ y tế?
- Bệnh nhân được thoả mãn ra sao về các dịch vụ y tế?
trong cộng đồng?
- Những chiến lược can thiệp nào là thích hợp cho vấn đề này?
- Khách hàng thoả mãn ra sao với dịch vụ do mình cung ứng?
Còn trong các bối cảnh quản lý, lại là các câu hỏi sau:
- Bao nhiêu người đã đến đơn vị của mình?
- Những đặc điểm về nhân khẩu – kinh tế - xã hội của các khách hàng?
- Mỗi ngày, một nhân viên có thể xử lý bao nhiêu trường hợp?
- Tại sao một số người dùng dịch vụ tư vấn còn số khác thì không?
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Dịch vụ đạt được kết quả ra sao?
- Nhu cầu thông dụng nhất của khách hàng của đơn vị mình là những gì?
- Điểm mạnh và điểm yếu của dịch vụ?
- Khách hàng thoả mãn với dịch vụ ra sao?
- Có thể cải tiến dịch vụ như thế nào?
Còn ở vai trò một chuyên gia, các câu hỏi mang tính lý thuyết sau đây lại được nêu ra:
- Can thiệp hiệu dụng nhất của một bài toán cụ thể là gì?
- X có nguyên nhân là gì hay Y có kết quả là gì?
- Quan hệ giữa hai hiện tượng là gì?
- Có thể đo lường sự tự đánh giá của khách hàng ra sao?
- Có thể khẳng định tính xác thực của các bảng câu hỏi?
- Mẫu lựa chọn chương trình của cộng dồng có dạng gì?
- Cách tốt nhất để tìm ra thái độ của cộng đồng trước một vấn đề là gì?
- Cách tốt nhất để tìm ra tính kiến hiệu của một giải pháp cụ thể là gì?
- Có thể chọn được một mẫu thống kê không thiên lệch ra sao?
Còn với vị trí của người tiêu thụ, có thể có các câu hỏi dưới đây. Lưu ý – trong kỷ niệm
của người tiêu thụ, ta không thể bỏ qua yếu tố khách hàng - người tiêu thụ của dịch vụ cung
ứng. Khách hàng có quyền chất vấn về chất lượng và kết quả của dịch vụ còn người cung cấp
dịch vụ phải có trách nhiệm trả lời tương ứng:
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5
ỨNG DỤNG CỦA NGHI ÊN CỨU
theo các quan điểm của
Nhà cung cấp
dịch vụ
Nhà hoạch
định/quản lý
Người tiêu
thụ/khách hàng
Chuyên gia
ngành
- Bao nhiêu
người đang dùng
dịch vụ/sản
phẩm?
- Tại sao một số
người dùng dịch
vụ/sản phẩm
trong khi những
người khác
không dùng?
- Dịch vụ sản
phẩm có ích ra
sao?
- Dịch vụ sản
phẩm có thể
được cải tiến ra
sao?
- Loại người nào
phẩm có thể phổ
dung hơn?
- Có lợi kinh tế
nào không?
- Các nhà cung
cấp dịch vụ tốt ra
sao?
- Hiệu ứng dài
hạn của sản
phẩm đang
dùng? Bằng
chứng ở đâu?
- Can thiệp kiến
hiệu nhất cho
vấn đề là gì?
- Quan hệ giữa X
và Y là gì?
- Lý thuyết nhất
định trong điều
kiện hiện tại hợp
lệ như thế nào?
- Cách tốt nhất
để đo lường
được thái độ.
- Quá trình qua
đó người ta
quyết định chọn
chương trình là
gì?
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khác, nghiên cứu có thể liên quan đến việc xây dựng các lý thuyết hay các quy luật phức tạp -
chẳng hạn điều khiển sự sống. Như đã nói trên, khác biệt giữa hoạt dộng nghiên cứu và hoạt
động không có tính nghiên cứu là ở cách thức tìm ra câu trả lời – quá trình tương ứng phải đáp
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ứng được một số yêu cầu nhất định mới được gọi là quá trình nghiên cứu. Để nhận diện các yêu
cầu này, xin khảo xét vài định nghĩa về nghiên cứu sau đây.
Nghiên cứu là một hoạt động điều tra và tìm hiểu lâu dài, có tính hệ thống và kỹ lưỡng
trong một lĩnh vực kiến thức nào đó nhằm thiết lập các sự kiện hay nguyên lý (Grinnell –
1993).
Cách khác, cũng theo Grinnell (1993):
Nghiên cứu là việc chất vấn có cấu trúc dùng phương pháp (luận) khoa học chấp nhận
được để giải quyết vấn đề và tạo sinh kiến thức mới có thể áp dụng được một cách tổng quát.
Con Lundberg (1942) chỉ ra sự khác biệt giữa quá trình nghiên cứu xã hội - được coi là có
tính khoa học - với quá trình ta dùng trong cuộc sống hàng ngày.
Các phương pháp khoa học gồm việc quan sát, phân loại và diễn giải dữ liệu một cách có
hệ thống. Rõ ràng là, giờ đây, quá trình này đã được hầu hết mọi người dùng vào cuộc sống
thường nhật. Sự khác biệt chính yếu giữa các tổng quát hoá thường nhật với các kết luận
thường được công nhận là có (phương pháp) khoa học nằm ở mức độ hình thức, chặt chẽ, dễ
kiểm chứng và xác thực tổng quát.
Burns (1994) định nghĩa - nghiên cứu là cuộc điều tra có tính hệ thống để giải quyết một
vấn dề.
Theo Kerlinger (1986), nghiên cứu khoa học là việc điều tra nghiêm túc, thực nghiệm có
kiểm soát và mang tính hệ thống của các luận đề về các mối quan hệ được giả định của các hiện
tượng khác nhau.
Còn Bulmer (1977) cho rằng – nghiên cứu xã hội học, là một nghiên cứu, cơ bản gắn với
việc thiết lập những kiến thức hợp lệ, tin cậy và hệ thống về thế giới xã hội.
Các đặc điểm của nghiên cứu
Từ các định nghĩa trên, rõ ràng nghiên cứu là một quá trình thu thập, phân tích và diễn
người khác.
- Thực nghiệm. Điều này hàm ý rằng mọi kết luận đã rút ra đều đặt cơ sở trên các chứng
cứ rõ ràng tập hợp từ thông tin thu được do kinh nghiệm hay quan sát từ đời sống thực.
- Tới hạn. Tính toàn diện và kỹ lưỡng ở mức độ cao của các thủ tục và kỹ thuật đem dùng
đóng vai trò chủ yếu đối với việc tìm hiểu nghiên cứu. Quá trình điều tra phải tin cậy, dễ thực
hiện và không có lỗi. Quá trình được chọn và các thủ tục áp dụng phải có thể vượt qua được
việc xem xét toàn diện và kỹ lưỡng ở mức độ cao đó.
Các kiểu nghiên cứu
Nghiên cứu có thể được phân loại theo ba quan điểm (hình 1.2)
- Ứng dụng của công trình nghiên cứu.
- Mục tiêu trong việc thực hiện nghiên cứu.
- Loại thông tin tìm kiếm
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 1.2. Các kiểu nghiên cứu
Ba kiểu phân loại này không loại trừ nhau.Thí dụ, một dự án nghiên cứu có thể được xếp
loại là nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu ứng dụng (theo góc nhìn ứng dụng của nghiên cứu),
hoặc là nghiên cứu khai phá (theo quan điểm mục tiêu nghiên cứu), hoặc là nghiên cứu định
lượng hay nghiên cứu định tính (theo quan điểm loại thông tin tìm kiếm).
Ứng dụng
Từ quan điểm của ứng dụng, có 2 kiểu nghiên cứu - nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu
ứng dụng. Trong các khoa học xã hội, theo Bailey (1978).
Nghiên cứu lý thuyết liên đới đến việc phát triển và kiểm thử các lý thuyết và giả thuyết
có tính thách thức trí tuệ đối với nhà nghiên cứu nhưng có thể có hoặc không ứng dụng thực tế
trong hiện tại hay tương lai. Vì thế những công trình như vậy thường liên quan đến việc kiểm
thử các giả thuyết chứa những khái niệm rất trừu tượng và rất đặc biệt.
Nghiên cứu lý thuyết cũng liên đới đến việc phát triển, khảo xét, kiểm chứng và tính
chính các phương pháp, thủ tục, kỹ thuật và công cụ nghiên cứu - những yếu tố hình thành nên
phương pháp luận nghiên cứu. Các thí dụ về nghiên cứu lý thuyết: phát triển một kỹ thuật lấy
Hầu hết các nghiên cứu trong khoa học xã hội đều là nghiên cứu áp dụng. Nói cách khác,
các phương pháp, thủ tục và kỹ thuật nghiên cứu tạo nên phương pháp luận nghiên cứu được
ứng dụng vào việc thu thập thông tin về các khía cạnh khác nhau của tình huống, vấn đề, bài
toán hay hiện tượng để thông tin tập hợp có thể dùng được bằng các cách khác - như quản lý,
xây dựng chính sách và mở rộng hiểu biết về hiện tượng.
Mục tiêu
Một nghiên cứu theo quan điểm mục tiêu có thể được phân loại chung thành - nghiên cứu
mô tả, nghiên cứu tương quan, nghiên cứu giải thích và nghiên cứu khai phá.
Nghiên cứu mô tả cố gắng mô tả một tình huống, bài toán, hiện tượng, dịch vụ hay
chương trình một cách có hệ thống, hoặc cung cấp thông tin về - chẳng hạn - điều kiện sống của
một cộng đồng, hoặc mô tả các thái độ trước một vấn đề. Thí dụ, nghiên cứu kiểu này có thể mô
tả các loại dịch vụ cung ứng của một tổ chức, cấu trúc quản trị của một tổ chức, các nhu cầu của
một cộng đồng, cảm xúc của trẻ em sống trong ngôi nhà có tình trạng bạo lực, hoặc là thái độ
của nhân viên đối với nhà quản lý…
Trọng tâm chính của nghiên cứu tương quan là khám phá hay thiết lập sự tồn tại của mối
quan hệ/kết hợp/liên thuộc giữa hai hay nhiều hơn khía cạnh của một tình huống. Có thể xem
các thí dụ sau - chiến dịch quảng cáo có ảnh hưởng gì lên việc bán sản phẩm? Có quan hệ gì
giữa đời sống căng thẳng và chứng đau tim? Có quan hệ gì giữa tính mắn đẻ và cái chết? Có
quan hệ gì của dịch vụ y tế lên việc kiểm soát bệnh tật hoặc là môi trường gia đình lên thành
tích học tập?
Nghiên cứu giải thích cố gắng làm sáng tỏ lý do và cách thức của mối quan hệ giữa khía
cạnh của một tình huống hay hiện tượng. Kiểu nghiên cứu này cố giải thích, thí dụ, tại sao đời
sống căng thẳng gây ra chứng đau tim? tại sao giảm tỷ lệ sinh đi theo sau giảm tỷ lệ chết? hoặc
là môi trường gây ảnh hưởng ra sao lên thành tích học tập của học sinh?
Nghiên cứu khai phá được thực hiện để xem xét khả năng của việc tiến hành một nghiên
cứu nhất định nào đó. Kiểu này còn được gọi là nghiên cứu khả thi hoặc nghiên cứu thử/nghiên
cứu tiền trạm. Thường kiểu nghiên cứu này được tiến hành khi nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu
những lĩnh vực mà mình có rất ít hay không có kiến thức. Một khảo sát quy mô nhỏ sẽ được
thực hiện để quyết định xem có đáng giá để thực hiện một khảo cứu chi tiết hay không. Trên cơ
sở của đánh giá rút ra từ nghiên cứu khai phá, nghiên cứu chính thể/ toàn diện có thể được triển
. Hiệu ứng của việc sống trong nhà có tình trạng bạo
lực
. Chiến lược của công ty để tăng năng suất của công
nhân
Để mô tả
những gì
hiện hành có
liên quan
đến:
. Nhóm
người
. Cộng đồng
. Hiện tượng.
. Tình huống
. Chương
trình
. Kết quả
Mô tả
những gì
hiện
đang phổ
biến
Nghiên cứu
mô tả
. Tác động của một chương trình
. Quan hệ giữa điều kiện sống và chứng đau tim
. Ảnh hưởng của công nghệ lên tuyển dụng
. Kết quả của dịch vụ tư vấn hôn nhân lên mức độ các
vấn đề về hôn nhân
. Ảnh hưởng của chiến dịch quảng cáo lên doanh số
thuộc tồn tại?
. Một sự kiện
nhất định xảy
ra?
Giải
thích tại
sao quan
hệ được
hình
thành
Nghiên cứu
giải thích
Các cơ chế của nghiên cứu
Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của việc nghiên cứu trong các khoa học xã hội. Chi tiết
của những vấn đề này vượt khỏi phạm vi của cuốn sách này. Câu hỏi cốt lõi của việc chia hai
cơ chế là liệu phương pháp luận của các khoa học tự nhiên có thể áp dụng vào việc nghiên cứu
các hiện tượng xã hội hay không? Cơ chế bắt nguồn từ các khoa học tự nhiên được gọi là tiếp
cận hệ thống, tiếp cận khoa học hay tiếp cận tích cực. Còn cơ chế ngược lại được gọi là tiếp cận
định tính, tiếp cận dân tộc học, tiếp cận sinh thái hay tiếp cận tự nhiên. Những người thuộc hai
phái trên đã phát triển các giá trị, thuật ngữ, phương pháp và kỹ thuật riêng để tìm hiểu các hiện
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
12
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tượng xã hội.Tuy vậy kể từ giữa những năm 60, điều được thừa nhận tăng dần là - mỗi cơ chế
đều có vị thế riêng của nó. Mục tiêu nghiên cứu nên xác định phương thức chất vấn vấn đề, từ
đó xác định cơ chế tương ứng. Áp dụng không phân biệt một tiếp cận vào tất cả các bài toán
nghiên cứu có thể dẫn đến sai lầm và không thích hợp.
Cơ chế tích cực phù hợp với cả nghiên cứu định lượng lẫn nghiên cứu định tính. Có thể
tiến hành nghiên cứu định tính trong cơ chế tích cực. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa một bên là
nghiên cứu định tính với bên kia là nghiên cứu tự nhiên và dân tộc vì chúng đi theo các hệ
13
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tượng, tình huống hay thái độ; trong khi đó nghiên cứu định lượng, còn thêm vào việc lượng
hoá sự biến đổi.
Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của nghiên cứu khoa học xã hội – tích cực và tự nhiên.
Câu hỏi cốt lõi chia hai cơ chế chính là liệu phương pháp luận nghiên cứu trong các khoa học tự
nhiên có thể áp dụng vào nghiên cứu trong các khoa học xã hội hay không.
2. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu: mô hình 8 bước
Bước 1: thiết lập bài toán nghiên cứu
Bước 2: quan niệm hoá thiết kế nghiên cứu
Bước 3: xây dựng dụng cụ thu thập dữ liệu
Bước 4: chọn mẫu
Bước 5: viết đề xuất nghiên cứu
Bước 6: thu thập dữ liệu
Bước 7: xử lý dữ liệu
Bước 8: viết báo cáo nghiên cứu
Tóm tắt chương
Quá trình nghiên cứu: Mô hình tám bước
Phương pháp luận nghiên cứu được dạy như một môn hỗ trợ dưới hình thức này hoặc
khác, ở các mức độ khác nhau trong nhiều ngành học do những người gắn với các cơ chế
nghiên cứu khác nhau đảm trách. Mặc dù các cơ chế khác nhau về nội dung, tiếp cận chung về
khảo cứu là giống nhau. Các ý kiến tương tự như vậy cũng đã được nêu ra bởi Festinger và
Katz, trong lời nói đầu của cuốn sách – Các phương pháp nghiên cứu trong các khoa học ứng
xử (Research Methods in Behavioral Sciences) - mặc dù logic cơ sở của phương pháp luận khoa
học là như nhau trong tất cả các lĩnh vực, các tiếp cận và kỹ thuật cụ thể của chúng lại khác
nhau – tùy thuộc vào yếu tố chủ đề (1966). Do vậy, mô hình được phát triển ở đây có tính tổng
quát về bản chất và có thể được áp dụng vào một số các ngành trong khoa học xã hội (hình 2.1).
Nó đặt cơ sở trên một tiếp cận từng bước và thực tế đối với việc khảo cứu và mỗi bước đưa ra
tập có thể chọn lựa các phương pháp, mô hình và thủ tục.
1 2 3 4 5 6 7
Thiết
kế
Tính xác
thực & tin
cậy
Kiểm thử
tại hiện
trường
Hiệu
chỉnh dữ
liệu
Mã
hoá
Phát triển
sách mã
Nội
dung
Biến & giả thuyết
Định nghĩa và
phân loại
Xem
xét tài
liệu
Chương 7.
Chọn thiết kế
nghiên cứu
Chương 11.
Chọn mẫu
Chương 13.
Chương 15. Biểu
hiện dữ liệu
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bước 1. Thiết lập bài toán nghiên cứu
Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu. Bài toán nghiên cứu
nhận diện mục đích nghiên cứu – ta dự kiến nghiên cứu điều gì? Dự kiến càng rõ ràng và cụ thể
thì càng tốt, vì rằng mọi việc tiếp theo của quá trình nghiên cứu - thiết kế nghiên cứu, thủ tục đo
lường, chiến lược lấy mẫu, khung phân tích và phong cách viết đề xuất hay báo cáo - đều bị ảnh
hưởng của cách thiết lập bài toán nghiên cứu. Do vậy, ở đây cần tập trung ý tưởng cẩn thận và
xác đáng. Chương 4 sẽ xem xét chi tiết các khía cạnh khác nhau của việc thiết lập bài toán
nghiên cứu.
Điều cực kỳ quan trọng ở đây là cần phải ước lượng bài toán nghiên cứu qua nguồn tài
chánh hiện có, qũy thời gian, kiến thức và năng lực chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu của
người tiến hành nghiên cứu và người giám sát việc nghiên cứu. Cũng vậy, phải nhận diện được
những thiếu hụt về kiến thức hay kỹ năng trong các lĩnh vực liên đới – như thống kê, ứng dụng
máy tính … - cần sử dụng hay có kế hoạch sẽ sử dụng đên cho công việc phân tích, xử lý dữ
liệu.
Bước 2. Quan niệm hoá thiết kế nghiên cứu
Một đặc trưng rất quan trọng của nghiên cứu là sử dụng các phương pháp khoa học.
Nghiên cứu liên đới việc thiết lập một cách chặt chẽ, hợp lệ, dễ kiểm soát và có tính hệ thống
về mối quan hệ và tương tác nhân quả cho phép tiên đoán chính xác các kết quả thu được trong
những điều kiện nhất định. Nó cũng liên quan đến việc nhận diện các khoảng cách về kiến thức;
kiểm chứng những gì đã biết; và chỉ ra những sai sót và hạn chế đã qua. Tính xác thực của cái
mà ta tìm ra phụ thuộc lớn lao vào cách thức ta đã tìm ra nó. Chức năng chính của thiết kế
nghiên cứu là giải thích cách thức tìm ra câu trả lời của bài toán. Thiết kế nghiên cứu vạch ra
logic của các chất vấn của bài toán. Thiết kế cần bao gồm những điểm sau: bản thân thiết kế
khảo cứu, những chuẩn bị hậu cần cần có, các thủ tục đo lường, chiến lược lấy mẫu, khung
phân tích và thang thời gian. Đối với bất kỳ khảo cứu nào, việc chọn thiết kế nghiên cứu thích
hợp cũng là cốt lõi để cho phép rút ra được các tìm kiếm, so sánh và kết luận hợp lệ. Thiết kế có
lõi sẽ gây ra các kết quả sai lạc và vì vậy tiêu tốn tiền bạc và công sức. Trong phạm vi khoa
Độ chính xác của các ước lượng phụ thuộc lớn lao và cách chọn mẫu. Mục tiêu cơ bản
của thiết kế chọn mẫu là tối thiểu hoá – trong khuôn khổ giá phí - khoảng cách giữa các giá trị
của mẫu với của tập đám đông.
Luận đề cơ sở của việc lấy mẫu là - với việc chọn khoa học một số lượng tương đối nhỏ
các đơn vị thì số lượng đó phải phản ánh - với độ tin cậy đủ cao – khá đúng tập đám đông đang
được xem xét.
Lý thuyết lấy mẫu dựa vào hai nguyên lý:
- Tránh thiên lệch trong việc chọn mẫu.
- Thu được độ chính xác tối đa ứng với tài nguyên đã tiêu hao.
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
17
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Có ba kiểu thiết kế chọn mẫu:
- Thiết kế chọn mẫu ngẫu nhiên/xác suất.
- Thiết kế chọn mẫu không ngẫu nhiên/xác suất.
- Thiết kế chọn mẫu hỗn hợp.
Ứng với hai kiẻu thiết kế đầu, có vài chiến lược lấy mẫu khác nhau. Cần phải biết đươc
điểm mạnh, điểm yếu của từng chiến lược và các tình huống áp dụng ngõ hầu chọn được thiết
kế phù hợp nhất. Kiểu chiến lược lấy mẫu cũng giúp xác định khả năng tổng quát hoá từ tập
mẫu lên tập đám đông và các kiểu kiểm thử thống kê thực hiện được trên dữ liệu.
Bước 5. Viết đề xuất nghiên cứu
Qua các bước trên, đến đây công việc chuẩn bị đã xong. Giờ cần phải viết ra kế hoạch
tổng quát cho người giám sát nghiên cứu và các bên liên quan khác nắm được các thông tin về
bài toán nghiên cứu, về cách thức khảo cứu. Kế hoạch đó được gọi là đề xuất nghiên cứu. Nói
rộng ra, chức năng chính của đề xuất nghiên cứu là chi tiết hoá kế hoạch vận hành để thu được
lời giải cho bài toán nghiên cứu. Để có thu được kết quả chính xác và khách quan cũng cần phải
chứng minh tính xác thực của phương pháp luận triển khai.
Các tổ chức khác nhau có những yêu cầu riêng về văn phong và nội dung của đề xuất
nghiên cứu nhưng hầu hết có thể chấp nhận những điểm dưới đây. Chương 12 có các hướng
dẫn làm khung cơ sở cho đề xuất nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi.
tính. Chương 14 trình bày các cách phân tích dữ liệu định lượng và chương 15 cho biết chi tiết
các phương pháp biểu diễn dữ liệu đã phân tích.
Ngoài cách phân loại trên, cũng rất cần chú ý phân biệt phân tích thủ công dữ liệu và phân
tích nhờ máy tính.
Nếu nghiên cứu có tính mô tả thuần túy, báo cáo có thể dựa vào các chú giải tại hiện
trường, vào việc phân tích nội dung của các chú giải (phân tích nội dung).
Nếu cần phân tích định lượng, phải quyết dịnh loại phân tích yêu cầu (như phân bố tần
xuất, so sánh chéo bảng, hay các thủ tục thống kê như phân tích hồi quy, phân tích yếu tố, phân
tích độ lệch) và cách thức trình bày tương ứng. Ở đây cũng cần chú ý các biến số thay đổi theo
các thủ tục thống kê.
Bước 8. Viết báo cáo nghiên cứu
Viết báo cáo là bước cuối và trong nhiều trường hợp là bước khó nhất của quá trình
nghiên cứu. Bản báo cáo công bố những gì đã được thực hiện, những gì đã được phát hiện và
những kết luận gì rút ra từ các tìm kiếm. Một khi sáng tỏ toàn bộ tiến trình, dễ hình dung được
cách viết báo cáo. Văn phong của báo cáo cần mang tính học thuật và nên chia thành các
chương, các phần riêng biệt dựa theo các luận đề chính của nghiên cứu. Chương 16 đề xuất vài
cách viết báo cáo nghiên cứu.
Tóm tắt chương
Chương này cho thấy quá trình nghiên cứu tổng quát gồm tám bước, chi tiết của mỗi bước
sẽ được trình bày ở các hướng tiếp theo. Ở mỗi bước có một mô hình tương ứng cung cấp tập
các phương pháp, thủ tục và kỹ thuật cho phép ta chọn được yếu tố phù hợp nhất. Đối với người
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
mới bắt đầu, điều quan trọng là đi qua tất cả các bước mặc dù có thể không đúng thứ tự đã nêu.
Khi đã có kinh nghiệm, có thể rút ngắn cá bước một cách phù hợp.
Tám bước nêu trên cho thấy toàn bộ nỗ lực nghiên cứu, từ việc thiết lập bài toán nghiên
cứu cho đến viết báo cáo nghiên cứu. Về bản chất, các bước có tính vận hành, đi theo một trật
tự logic và có các chi tiết về các phương pháp và thủ tục theo thể thức từng bước đơn giản.
Bước 1: Thiết lập bài toán nghiên cứu
hết sức quan trọng trong việc định dạng đề tài nghiên cứu bởi vì quá trình xem xét tài liệu giúp
hiểu rõ lĩnh vực của chủ đề tốt hơn và giúp quan niệm hoá đề tài nghiên cứu rõ ràng và chính
xác hơn. Đồng thời việc này cũng giúp xác định được mối quan hệ giữa đề tài nghiên cứu và
lượng kiến thức của lĩnh vực tương ứng.
Cải tiến phương pháp luận
Duyệt xét các tài liệu sẽ giúp quen thuộc với các phương pháp luận đã dùng bởi những
người khác trong những bài toán tương tự với bài toán đang xét. Các tài liệu sẽ cho ta biết các
thủ tục và phương pháp nào có ích lợi và những vấn đề kèm theo. Từ đó ta có được vị thế tốt
hơn để chọn lựa phương pháp luận.Chính điều đó làm tăng sự tin tưởng vào phương pháp luận
dự kiến triển khai và giúp lý lẽ bảo vệ việc chọn phương pháp luận đó.
Mở rộng nền tảng kiến thức trong lĩnh vực nghiên cứu
Chức năng quan trọng nhất của việc xem xét tài liệu là đảm bảo được việc đọc sâu rộng
về lĩnh vực của chủ đề nghiên cứu. Ta cần biết được các nhà nghiên cứu khác đã tìm ra những
gì về những bài toán gần hay tương tự, những lý thuyết gì đã được nêu ra và những khoảng
cách nào hiện có trong lượng kiến thức của ngành. Khi tiến hành một nghiên cứu, người nghiên
cứu được mong đợi sẽ là một chuyên gia trong lĩnh vực đó. Việc xem xét tài liệu một cách toàn
diện sẽ giúp mong đợi đó có cơ sở. Lý do khác nữa ở đây là ta sẽ biết được những kết quả của
mình phù hợp ra sao với lượng kiến thức hiện tại của ngành (Martin, 1985).
Thủ tục xem xét tài liệu
Nếu chưa có một bài toán n ghiên cứu cụ thể, nên xem xét tài liệu trong lĩnh vực rộng của
ngành để thu hẹp dần đến những gì muốn xác định. Sau đó việc xem xét tài liệu sẽ tập trung
quanh bài toán nghiên cứu. Sẽ nguy hiểm nếu xem xét tài liệu mà không có trước ý tưởng cụ
thể hợp lý về điều cần nghiên cứu. Nó sẽ ảnh hưởng đáng kể lên suy nghĩ của ta về bài toán
nghiên cứu và phương pháp luận đem dùng, làm cho việc chọn lựa bài toán nghiên cứu và
phương pháp luận kém hẳn về tính đổi mới. Vì vậy, nên có quan niệm hoá bài toán nghiên cứu
trước khi thực hiện việc xem xét tài liệu.
Xem xét tài liệu là một quá trình liên tục. Thường việc này sẽ bắt đầu trước khi thiết lập bài
toán nghiên cứu cụ thể và tiếp tục cho đến khi hoàn tất báo cáo nghiên cứu. Mặc dù cần phải xem
xét xong hầu hết các tài liệu trước khi triển khai nghiên cứu, vẫn cần tiếp tục xem xét tài liệu khi
tích hợp kết quả của ta với kết quả của các nghiên cứu, chỉ ra rằng kết quả của ta hỗ trợ hay bài
chứa trên máy tính, còn có thêm thông tin về các từ khóa – tác giả/từ khoá, tiêu đề/từ khoá, chủ
đề/từ khoá hay chỉ là từ khoá.
Có một số các cơ sở dữ liệu điện tử được xây dựng cụ thể cho một số các ngành, giúp ta
lập nên được thư tịch cần thiết. Bảng 3.1 bên dưới cho thấy vài cơ sở dữ liệu điện tử thông dụng
cho hầu hết các thư viện ở Mỹ.
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cần chọn các cơ sở dữ liệu nào có những tham chiếu cần thiết cho lĩnh vực nghiên cứu.
Nên trình bày với người giám sát nghiên cứu và các chuyên gia nếu có thể để bổ sung các tài
liệu cần thiết vào danh sách những gì cần đọc.
Bảng 3.1: Một vài cơ sở dữ liệu điện tử thông dụng về lĩnh vực y tế công, xã hội học,
giáo dục và kinh doanh
Cơ sở dữ liệu
điện tử
Mô tả
Bản in giấy
tương
đương
ABI/INF
ORM
ABI (Thông tin doanh nghiệp tóm lược) chứa các tham chiếu
đến thông tin kiưnh doanh toàn cầu. Các chủ đề của nó gồm kế
toán, ngân hàng, xư lý dữ liệu kinh tế, tài chính, y tế, bảo hiểm,
luật pháp, quản lý, tiếp thị, nhân sự phát triển sản phẩm, hành
chánh công, bất dộng sản, thuế và viễn thông
ERIC
ERIC là cơ sở dữ liệu về thông tin giáo dục được tập hợp bởi
Trung tâm Thông tin Tài nguyên giáo dục ecủa Bộ Giáo dục
Mỹ. Chủ đề của nó bao gồm nghiệp nghiệp/giáo dục nghề, giáo
Khi đã chọn được từ 10 đến 15 cuốn sách; hãy xem xét thư tịch của từng cuốn rồi rút ra
những cuốn sách nào được tham chiếu chung giữa các thư tịch đó; những cuốn này cần được
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đưa vào danh sách những tài liệu then chốt. Chuẩn bị bản danh sách cuối cùng những cuốn sách
cần thiết.
Sau khi có được danh sách cần thiết, hãy tìm các sách đã liệt kê trong thư viện hay từ các
nguồn khác. Xem xét nội dung sách để khẳng định chúng thực sự phù hợp với chủ đề nghiên
cứu. Khi phát hiện thấy sách nào không phù hợp, hãy loại bỏ nó ra khỏi danh sách tham khảo.
Còn nếu khi thấy phần nội dung nào của sách phù hợp, hãy làm một thư tịch chú giải. Thư tịch
chú giải gồm các tổng thuật ngắn về các khía cạnh được trình bày trong sách và chú giải của
riêng ta về tính phù hợp của chúng. Cần cẩn thận theo dõi danh sách tham khảo bằng cách nên
chuẩn bị hệ thống chỉ mục thẻ củ riêng mình hay dùng các chương trình máy tính như Endnotes
hay Procite.
Tạp chí
Bằng cách tương tự như trên, cần xem xét các tạp chí trong lĩnh vực nghiên cứu.Tạp chí
thường cho ta những thông tin cập nhật hơn cả, mặc dù thường cũng có khoảng cách hai đến ba
năm từ lúc hoàn thành công trình đến lúc xuất bản tương ứng. Nên chọn càng nhiều tạp chí
càng tốt dù rằng số lượng tạp chí thay đổi theo từng lĩnh vực. Cũng cần chuẩn bị danh sách các
tạp chí cần khảo sát để tìm ra các tài liệu phù hợp bằng các cách sau:
- Định vị các tạp chí có vẻ phù hợp.
- Xem xét các chỉ mục về tổng thuật và trích dẫn đển nhận diện tài liệu và/hay đọc các
tổng thuật của các bài.
- Dò tìm trên cá cơ sở dữ liệu điện tử.
- Dùng Internet.
Dù chọn phương pháp nào, đầu tiên phải xác định được các tạp chí mà ta mong muốn có
thông tin chi tiết đôi chút để có thể bắt đầu tiến hành công việc xem xét tài liệu mong đợi. Kế
tiếp, tiến hành duyệt xét chúng. Chọn ra một trong các tạp chí, rồi từ số cuối cùng của tạp chí
đó, khảo xét nộidung của nó để nhận diện các bài phù hợp với chủ đề nghiên cứu. Nếu nhận ra
nghiên cứu – có nguồn gốc từ một số lý thuyết được xây dựng từ các quan điểm khác nhau.
Thông tin thu được từ các sách báo khác nhau lúc này cần được phân loại theo các chủ đề và lý
thuyết chính, làm sáng tỏ sự đồng tình lẫn bất đồng giữa các tác giả và xác định những câu hỏi
hay khoảng trống chưa được giải đáp. Ta cũng sẽ nhận ra tài liệu đề cập đến một số khía cạnh
có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chủ đề nghiên cứu. Sử dụng các khía cạnh này như là cơ
sở để triển khai khung lý thuyết. Việc xem xét tư liệu sẽ sắp xếp thông tin theo khung cơ sở
này, như đã đề cập ở phần trước. Nếu không xem xét tư liệu dựa vào khung sườn này, ta không
thể xây dựng được tiêu điểm cho việc tìm kiếm tài liệu – nói cách khác khung lý thuyết sẽ cung
cấp hướng dẫn khi ta đọc. Điều này đem đến một nghịch lý đã được nói trước đó - đến khi
nghiên cứu kỹ tài liệu ta không thể xây dựng khung lý thuyết và đến khi đã xây dựng khung lý
thuyết, ta không thể xem xét tài liệu một cách có hiệu quả. Giải pháp ở đây là – hãy đọc một số
tài liệu, sau đó nỗ lực xây dựng khung sườn, thậm chí là một khung sườn không chặt chẽ, từ đó
có thể tổ chức phần tài liệu còn lại. Khi đọc được nhiều hơn về lĩnh vực, có thể thay đổi khung
CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
25