LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng em,
các số liệu, tài liệu sử dụng trong chuyên đề là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Tam
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI_Đại Hội đổi mới, đến nay vừa tròn
hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập, đất nước ta đã có
những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống nhân
dân dần được cải thiện, tình hình an ninh-chính trị ổn định, uy tín của Việt
Nam trên trong khu vực và trên trường quốc tế không ngừng lớn mạnh.
Đạt được thành tựu to lớn đó phải kể đến sự đóng góp to lớn của
ngành Ngân hàng Việt nam, đặc biệt là các NHTM với vai trò “huyết
quản” để dòng máu tài chính của nền kinh tế lưu thông. Với tinh thần đổi
mới sáng tạo, trong suốt hơn một thập kỉ qua ngành Ngân hàng đã thực
hiện tốt chính sách tiền tệ của Đảng và Nhà nước, đẩy lùi lạm phát, ổn
định giá cả, góp phần quan trọng vào việc ổn định nền kinh tế vĩ mô. Các
NHTM ra đời trước hết nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho của các cá nhân và
tập thể, muốn phát triển sản xuất kinh doanh nhưng lại thiếu vốn. Cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường các NHTM ngày càng
xâm nhập sâu sắc hơn vào các hoạt động của nền kinh tế, trở thành một
trung gian tài chính bậc nhất, “bà đỡ” của mọi nền kinh tế.
Trong các hoạt động của NHTM thì hoạt động chủ yếu nhất và quan
trọng nhất là hoạt động Tín dụng, nhờ hoạt động này mà đáp ứng được
nguồn vốn to lớn cho nền kinh tế và mang lại nguồn thu lớn nhất ( chiếm
đến 85%-90% doanh thu ) cho các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động Tín
phục vụ công tác Tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Kim Động
Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lương phân tích tài chính đối với
Doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh NHNo&PTNT Kim Động
Do thời gian thực tập còn hạn chế, sự hiểu biết về thực tế chưa nhiều,
cộng thêm sự hạn hẹp về kiến thức nên chuyên đề thực tập không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cán
bộ Ngân hàng, thầy Nguyễn Văn Thái cũng như các thầy cô giáo khác để
bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT
ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm Tín dụng Ngân hàng
Danh từ Tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Credium, có nghĩa là một
sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, nói cách khác là lòng tin. Theo ngôn
ngữ dân gian Việt Nam thì Tín dụng là quan hệ vay mượn trên cơ sở có
hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Mác, Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay
về với một lượng lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, các khái
niệm đều thể hiện được hai nội dung chủ yếu, đó là:
- Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người
khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
-Người sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho người
sở hữu với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch đó gọi là lợi tức hay tiền
lãi.
cho vay, thời hạn cho vay phải phù hợp với quá trình luân chuyển vốn của
đối tượng vay, nó có thể ngắn hơn chu kì sản xuất kinh doanh. Nếu thời
hạn cho vay dài hơn chu kì sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho người
vay sử dụng vốn sai mục đích, ngược lại, nếu nhỏ hơn sẽ gây khó khăn
cho việc trả nợ của DN. Thời hạn cho vay còn phụ thuộc vào tính chất vốn
của người cho vay, chẳng hạn, nếu vốn của người cho vay ổn định thì thời
gian cho vay có thể dài hơn.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi:Vì một mặt, đây là vốn huy động nên sau
một thời gian phải hoàn trả cho người kí thác, hơn nữa, Ngân hàng phải có
nguồn để bù đắp chi phí hoạt động: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bộ công nhân viên…nên ngoài việc trả nợ gốc cho Ngân hàng người vay
phải trả kèm một khoản lãi.
1.1.3. Phân loại Tín dụng.
Việc phân loại Tín dụng là cần thiết để tạo điều kiện cho sự vận động
của vật tư hàng hoá; thực hiện cân đối giữa vốn và sử dụng vốn; sử dụng và
quản lí Tín dụng một cách có hiệu quả,bởi các hoạt động Tín dụng Ngân
hàng trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú; đa dạng về các
loại nguồn vốn huy động: tiền gửi có kì hạn dài hạn, tiền gửi có kì hạn ngắn
hạn, tiền gửi không kì hạn…
Có nhiều tiêu thức phân loại, song trong thực tế thường phân theo các
tiêu thức sau:
* Thời hạn Tín dụng.
-Tín dụng ngắn hạn: là loại Tín dụng có thời hạn dưới một năm(có
nước quy định dưới hai năm), dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn
lưu động phục vụ các DN, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
-Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, dùng để mua sắm tài
sản cố đinh, cải tiến đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất và các công trình
nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
cần thông qua TGTC.
1.1.4. Vai trò của Tín dụng Ngân hàng
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tao ra động lực lớn, đẩy nhanh sự
tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, đưa lại sự phồn vinh cho đất nước, đó
là hoạt động Tín dụng Ngân hàng.
Khi nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường mở,
có sự điều tiết của Nhà nước thì Tín dụng Ngân hàng được sử dụng như
một đòn bẩy kinh tế, điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, giúp nền
kinh tế hoạt động có hiệu quả. Vai trò của Tín dụng Ngân hàng ngày càng
được nâng cao mạnh mẽ.
Tín dụng Ngân hàng có 6 vai trò sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một là, Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Với vai trò là một trung gian tài chính,
Ngân hàng động viên, tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các
tầng lớp dân cư trong xã hội để cho vay phục vụ sản xuất, giúp các DN bù
đắp nhu cầu vốn thiếu hụt tạm thời trong quá trình sản xuất kinh doanh,
nhằm tái sản xuất mở rộng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua
vai trò này thông qua vai trò này hoạt động Tín dụng của NHTM đã điều
tiết được giá cả, làm suy yếu nguy cơ tích trữ tiền tệ trong dân cư, loại
trừ tệ nạn xã hội như: cho vay nặng lãi, góp phần vào quá trình tăng
trưởng nền kinh tế.
Hai là, Tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất, mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Với vai trò này, Tín dụng
Ngân hang sẽ là người bạn đồng hành giúp cho các DN thoã mãn nhu cầu
về vốn nên nhanh chóng mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh. Mục
đích chạy theo lợi nhuận làm các DN hướng vào ngành có lợi nhuận cao
hơn, từ đó hình thành nên cơ cấu hợp lí.
Ba là, Tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức
điều hoà, lưu thông tiền tệ: Việc thanh toán không dùng tiền mặt góp phần
vấn đề liên quan đến hoạt động Tín dụng.
a) Thiết lập hồ sơ Tín dụng
Hồ sơ Tín dụng của một NHTM là một tài liệu bằng văn bản, biểu
hiện mối quan hệ tổng thể của Ngân hàng với DN vay vốn. Hồ sơ Tín dụng
phải đảm bảo các yếu tố sau khi thiết lập:
+ Các thông tin cơ bản về DN xin vay.
+ Thông tin về tình hình tài chính hiện tại của DN.
+ Lịch sử tài chính của DN
+ Thông tin về mục đích vay vốn
+ Phương hướng hoạt động kinh doanh trong tương lai của DN
+ Thoả thuận giữa Ngân hàng về việc vay vốn và trả nợ
+ Những thông báo của Ngân hàng cho DN
+ Báo cáo kết quả kiểm tra về tình hình sử dụng vốn vay.
b) Phân tích Tín dụng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để hạn chế rủi ro Tín dụng có nhiều biện pháp nhưng có vị trí quan
trọng số một là phân tích một cách toàn diện DN trước khi cho vay. Nếu
DN được đánh giá là tốt: có đủ tư cách trong kinh doanh, có năng lực tài
chính đảm bảo, chấp hành tốt các hợp đồng Tín dụng trong quá khứ, có
triển vọng trong tương lai… sẽ được Ngân hàng xem xét cho vay ngược lại
Ngân hàng sẽ từ chối cho vay.
Khi phân tích DN Ngân hàng sẽ lần lượt phân tích theo các bước sau:
+ Phân tích đánh giá DN (năng lực pháp lý, uy tín, phân tích tình
hình tài chính, năng lực điều hành sản xuất kinh doanh của ban lãnh
đạo…)
+ Thẩm định dự án đề nghị vay vốn
+ Thẩm định đảm bảo nợ vay.
c) Quyết định cho vay
Kết quả của quá trình phân tích Tín dụng là đưa ra quyết định cho
vay. Trong thực tế, những yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt, việc quyết
1.1.6. Chất lượng Tín dụng Ngân hàng
a) Khái niệm chất lượng Tín dụng Ngân hàng.
- Chất lượng Tín dụng chính là biểu hiện chất lượng của mối quan hệ
chuyển giao vốn, giữa người sở hữu (mà ở đây là các NHTM) với người sử
dụng vốn ( là các pháp nhân, hộ gia đình, cáinhân…). Trong mối quan hệ
này, người sử dụng vốn phải thực hiện đúng cam kết và tính thời hạn và
giá trị hoàn trả của khoản chuyển giao.
- Trong phạm vi xã hội và toàn bộ nền kinh tế, chất lượng Tín dụng là
biểu hiện trách nhiệm thực hiện đầy đủ các cam kết đối với cả hai bên
(người cho vay và người sử dụng tiền vay) đã được quy định trong hợp
đồng Tín dụng sau khi hai bên đã ký kết. Hiểu một cách đầy đủ, chất
lượng Tín dụng Ngân hàng được thể hiện:
+ Đối với Ngân hàng cho vay, sau khi yêu cầu người đi vay cung cấp
đầu đủ các tài liệu chứng minh hợp pháp, hợp lệ, tính hiệu quả của dự án
xin vay và các điều kiện vay vốn khác theo quy định của pháp luật và
Ngân hàng cho vay như năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự, các điều kiện đảm bảo tiền vay… sẽ tiến hành thẩm định dự án vay
vốn, và nếu quyết định cho vay phải đáp ứng kịp thời, thuận tiện, chính
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xác, đầy đủ và an toàn nhu cầu vay vốn của DN; tiến hành thực hiện các
bước kiểm tra, giám sát trong quá trình sử dụng vốn nhằm tạo điều kiện để
người vay thực hiện thành công và có hiệu quả dự án vay vốn.
+ Đối với người đi vay, sau khi đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời, thuận
tiện số vốn vay theo nhu cầu, phải thực hiện sử dụng vốn đúng mục đích
và các điều kiện sử dụng vốn khác theo cam kết; tìm mọi biện pháp hạn
chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng xấu của môi trường khách quan nhằm
thu hút được hiệu quả kinh doanh và xã hội lớn nhất; tạo điều kiện để thực
hiện đúng các cam kết về tính thời hạn và giá trị hoàn trả của khoản vốn
vay.
+ Hiệu quả của dự án vừa bảo toàn và mở rộng quy mô vốn cho các
hệ với rất nhiều đối tượng: nhà cung cấp, Ngân hàng, Nhà nước, người lao
động…Mỗi đối tượng này sẽ quan tâm đến tình hình tài chính DN ở các
khía cạnh khác nhau nhưng họ thường sử dụng các công cụ và kĩ thuật cơ
bản là giống nhau để phân tích BCTC.
- Đối với nhà quản trị DN: cần thiết phải có các thông tin trung thực
về tình hình tài chính DN để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
trong việc lập kế hoạch sản xuất, dự kiến đầu tư dài hạn, chiến lược sản
phẩm và thị trường, lựa chọn phương án sản xuất, nên huy động nguồn
vốn nào để kinh doanh đảm bảo có lãi và thanh toán được nợ.
- Đối với các nhà đầu tư: qua thông tin phân tích tài chính DN mà
nắm được các yếu tố về: sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lời, khả
năng thanh toán vốn…Vì vậy họ rất cần thông tin về điều kiện tài chính,
tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của
DN.
- Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải quyết
định xem trong thời gian sắp tới có bán chịu cho DN không?Họ cần phải
nắm các thông tin về khả năng thanh toán của DN trong hiện tại cũng như
tương lai.
- Ngoài ra, các cơ quan tài chính khác như: cơ quan thuế, thống kê,
cơ quan chủ quản, người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu về
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thông tin cơ bản giống như các chủ Ngân hàng, nhà đầu tư, các chủ DN…
vì họ liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến DN hiện tại và tương lai
của họ.
Đặc biệt với chủ Ngân hàng và các nhà cho vay Tín dụng, mối quan
tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của DN. Vì vậy, một mặt họ chú ý
đến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để so
sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán của DN. Mặt khác,
các nhà Ngân hàng còn chú ý tới khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh
của DN đảm bảo hoàn trả các khoản cho vay dài hạn, chú ý đến việc đảm
và tiềm lực của DN giúp Ngân hàng đưa ra quyết định tài trợ.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các sản
phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và phong phú.
Tuy nhiên , hoạt động cơ bản nhất vẫn là huy động vốn và cho vay. Ngân
hàng tập trung những nguồn vốn nhỏ lẻ, tạm thời nhàn rỗi của các tầng
lớp dân cư trong xã hội để cho vay phục vụ sản xuất, giúp các DN bù đắp
được nhu cầu về vốn tạm thời trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm
tái sản xuất, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tất nhiên không phải
bất kì một chủ thể nào trong nền kinh tế cũng vay vốn từ Ngân hàng
nhưng dám chắc rằng họ nhận được lợi gián tiếp từ hoạt động cho vay của
các NHTM.
Các sản phẩm dịch vụ cung cấp càng đa dạng thì những rủi ro mà
các NHTM gặp phải càng nhiều. Ngày nay, dưới sự ảnh hưởng của công
nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hoá, công nghệ Ngân hàng phát triển
cho phép các Ngân hàng chuyển được nguồn tiền của mình đến các vùng,
các thị trường khác nhau ngày càng xa trụ sở chính, một mặt giảm bớt
được rủi ro thông qua đa dạng hoá DN và đa dạng hoá sản phẩm nhưng
mặt khác cũng làm tăng rủi ro do tính biến động lớn trên thị trường do
thông tin sai lệch.
Có rất nhiều rủi ro đến với Ngân hàng, như: rủi ro lãi suất, rủi ro
Tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro tội phạm…Trong đó,
rủi ro Tín dụng gắn liền với hoạt động Tín dụng. Hoạt động Tín dụng là
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoạt động chính của các NHTM, đem lại nguồn thu chính nhưng là một
hoạt động rất phức tạp bởi đối tượng cho vay rất rộng và xâm nhập vào
nhiều lĩnh vực ngành nghề kinh doanh khác nhau. . do đó cũng mang lại
rủi ro rất lớn cho Ngân hàng, nó được đặt hàng đầu trong các loại rủi ro
mà Ngân hàng phải đối mặt. Do đó, khi cho vay, Ngân hàng thường cố
gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất và
thường chấp nhận cho vay khi cho rằng rủi ro Tín dụng là không xảy ra.
trọng đối với ngân hàng trong đánh giá, lựa chọn doanh nghiệp để cho vay.
Phân tích tài chính doanh nghiệp cho phép ngân hàng xác định được các
yếu tố về lượng của nhu cầu vay vốn, xác định được thời hạn hợp lí của
các khoản vay, xác định được khả năng trả nợ, kì hạn trả nợ. . . đối với
từng doanh nghiệp. Như vậy phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ là
nhu cầu mà còn là đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi NHTM.
1.3.2. Mục tiêu hoạt động phân tích tài chính Doanh nghiệp vay vốn
tại NHTM
Phân tích tài chính DN vay vốn tại các NHTM nhằm đạt được
những mục tiêu sau:
-Đánh giá thực trạng tài chính DN: đảm bảo vốn cho sản xuất kinh
doanh, quản lí và phân phối vốn, tình hình và hiệu qủa sử dụng vốn
kinhdoanh, nhu cầu tài trợ, khả năng thanh toán…
-Dự báo về tình hình tài chính tương lai của DN, khả năng hoạt động
kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng hoàn trả nợ vay…
-Dự báo những trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả
nợ của DN.
1.3.3. Các thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính Doanh
nghiệp
Phân tích tình hình tài chính cụ thể là phân tích các Báo cáo tài chính
(BCTC). Hoạt động của Doanh nghiệp được cụ thể hoá qua các chỉ tiêu về
tình hình tài chính và chúng được thể hiện trên các báo cáo kế toán vào
cuối mỗi kì kinh doanh, thường là một năm. Nội dung của các BCTC phản
ánh tổng quát về tài sản, sự hình thành của tài sản, sự vận động của chúng
qua mỗi kì kinh doanh.
Các thông tin dùng để phân tích tính hình tài chính Doanh nghiệp là:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Bảng cân đối kế toán(BCĐKT): còn gọi là bảng tổng kết tài sản, là
BCTC tổng hợp mô tả thực trạng tài chính của một DN tại một thời điểm
nào đó (thường là cuối kì kinh doanh). Bảng luôn gồm hai phần luôn bằng
DN, chế độ kế toán áp dụng, tình hình và lí do biến động một số tài sản và
nguồn vốn quan trọng…
-Các thông tin khác liên quan đến tình hình tài chính của DN.
1.3.4. Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính
Doanh nghiệp
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì đối tượng cho vay của Ngân hàng
ngày càng mở rộng, đó là các cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh và các DN.
Hoạt động kế toán của các DN phải tuân theo những nguyên tắc chung của
luật đề ra, các BCTC phải được lập theo các quy chuẩn nhất định. Điều này
tạo thuận lợi cho quá trình phân tích tài chính DN của Ngân hàng. Các
phương pháp nêu sau đây tập trung phân tích các BCTC của các DN.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện hiện tượng, các mối
quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài
chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình
tài chính DN qua chất lượng hoạt động và , mức độ rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của DN.
Các phương pháp đó là:
* Phương pháp so sánh
Để áp dụng được phương pháp này cần đảm bảo tính có thể so sánh
được của các chỉ tiêu tài chính: thống nhất về mặt không gian, thời gian,
nội dung , tính chính xác và đơn vị tính toán…Theo mục đích phân tích mà
người ta xác định gốc so sánh, thường được chọn là gốc thời gian và
không gian, kì phân tích được chọn là kí báo cáo hay kì kế hoạch, giá trị so
sánh có thể được chọn là số tuyệt đối , số tương đối hay số bình quân. Nội
dung so sánh bao gồm:
-So sánh giữa số thực hiện kì này với số thực hiện kì trước để thấy rõ
hướng thay đổi tài chính DN
-So sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của DN.
quả với nhau, cho phép phân tích hưởng của các tỉ số đó tới tỉ số tổng hợp.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3.5. Quy trình phân tích tài chính Doanh nghiệp.
Trong việc cho vay đối với DN của Ngân hàng, đặc biệt đối với
những DN lớn, đó là các DN, Ngân hàng luôn cố gắng hạn chế sai lầm ở
mức thấp nhất, nhiều khoản cho vay kinh doanh có quy mô lớn đến mức
mà bản thân Ngân hàng có thể bị điêu đứng nếu khoản nợ không được trả.
Do vậy, việc phân tích tài chính DN phải được tuân theo một quy trinh
thẩm định chặt chẽ, chính xác, không được hành động chủ quan duy ý chí .
Nhất là với đối tượng DN lớn, quan trọng hàng đầu cho sự phát triển của
Ngân hàng và có xu hướng ngày càng tăng là các DN, hơn cả là các DN tư
nhân, Cty TNHH, trong quan hệ giao dịch với Ngân hàng luôn muốn vay
được nhiều vốn , một mặt muốn tận dụng đòn bẩy tài chính, chuyển rủi ro
cho Ngân hàng, mặt khác do quy định của Việt Nam và một số nước, chi
phí trả lãi vay được tính là chi phí hợp lí, giảm thuế Thu nhập phải nộp nên
thường lập các BCTC “ma”, nếu Ngân hàng không tỉnh táo phân tích đánh
giá thì rủi ro Tín dụng mà Ngân hàng phải gánh chịu là rất lớn.
* Phân tích trước khi cho vay:
Trước một yêu cầu vay vốn nào, Ngân hàng luôn phải xem xét , phân
tích kĩ DN về phương án , dự án xin tài trợ. Quá trình này gọi là phân tích
Tín dụng hay thẩm định Tín dụng và thẩm định DN là một trong những nội
dung đó. Dựa trên nguồn thông tin thu thập được sẽ phân tích tình hình tài
chính DN nhằm xác định được tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại, tiềm
năng tương lai và dự báo khả năng trả nợ của DN. Việc phân tích này có
ảnh hưởng trực tiếp tới việc cho vay hay không của Ngân hàng. Phân tích
tình hình tài chính bao gồm nhiều nội dung nhưng tập trung phân tích khả
năng sinh lời và phân tích rủi ro, từ đó xác định khả năng trả nợ của DN.
-Khả năng sinh lời là khả năng lâu dài và liên tục của một DN trong
việc đáp ứng các nghĩa vụ về tài chính, gắn liền với khả năng tạo lợi nhuận.
Nó là điều mà Ngân hàng quan tâm nhất, bởi nếu DN kinh doanh không
Những khoản vay trả đủ và đúng hạn là những khoản vay an toàn. Tuy
nhiên, mặc dù Ngân hàng đã thực hiện các biện pháp quản lí an toàn song
việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế không thể tránh
khỏi, nó thường được xếp vào các loại : (1) Nợ dưới tiêu chuẩn, mức độ an
toàn của Ngân hàng không được đảm bảo do có sự giảm sút trong tài sản
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thế chấp hay trong năng lực hoàn trả của người vay; (2) nợ nghi ngờ, có
nhiều khả năng chúng mang tổn thất cho Ngân hàng; (3) Nợ có khả năng
mất vốn. Đối với các khoản này sẽ được phân tích tìm ra nguyên nhân và
đề ra biện pháp xử lí, phục hồi tối đa phần vốn cho vay. Việc theo dõi sau
khi cho vay cũng để chớp thời cơ, hối thúc trả nợ sớm khi thấy DN có
nguồn thu.
1.3.6. Nội dung hoạt động phân tích đối với Doanh nghiệp vay vốn
Điều mà Ngân hàng quan tâm nhất khi cho vay vốn là khả năng thanh
toán và khả năng trả nợ của DN. Do đó, Ngân hàng quan tâm hơn tới việc
đánh giá rủi ro thanh khoản của DN, tức là phân tích các chỉ tiêu về khả
năng thanh toán, cơ cấu tài chính, khả năng hoạt động, khả năng sinhlời và
BCLCTT nhằm đánh giá rủi ro cúa DN trong tương lai. BCTC được quan
tâm hơn cả là BCĐKT và BCKQKD.
a) Phân tích các chỉ tiêu trong BCTC
Cán bộ Tín dụng khi thực hiện phân tích cần lưu ý rằng hoàn toàn
không có một chuẩn mực nào cho phần phân tích theo từng tỷ số. Một hay
một số tỷ số là tốt cũng chưa thể kết luận là doanh nghiệp đang trong tình
trạng tốt. Do vậy mối quan hệ giữa các tỷ số là mục đích cuối cùng của việc
phân tích vì chỉ như vậy mới có thể đưa ra được kết luận chính xác về
doanh nghiệp.
Phân tích tài chính DN, Ngân hàng hiện thường sử dụng các chỉ
tiêu tài chính sau:
* Phân tích về khả năng thanh toán ngắn hạn
Đây là nhóm chỉ tiêu mà không chỉ Ngân hàng mà rất nhiều đối tượng
Phân tích chỉ tiêu này để đánh giá được tốc độ thu hồi các khoản nợ
của DN. So với kì trước, vòng quay các khoản phải thu giảm , chứng tỏ tốc
độ thu hồi các khoản nợ của DN chậm hơn, gây ứ đọng vốn trong khâu
thanh toán, giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Vòng quay hàng tồn = Giá vốn hàng bán
kho Hàng tồn kho BQ
So với kì trước, vòng quay hàng tồn kho, chứng tỏ tốc độ luân chuyển
chậm, gây ứ đọng vốn, tăng nhu cầu vốn của DN(khi quy mô không đổi).
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cần tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục.Vòng quay này cũng còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: lĩnh vực kinh doanh, quy mô kinh doanh…
- Hiệu suất sử dụng tài = DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
sản cố định Tài sản cố định bình quân
- Vòng quay tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, song đều
phản ánh rất rõ tình hình sản xuất kinh doanh của DN có hiệu quả hay
không. Nếu kém hiệu quả, vòng quay tài sản ngắn hạn nhỏ, doanh thu
thuần, lãi thuần trong kì thấp kéo theo nhiều chỉ tiêu khác kém đi: nhóm
chỉ tiêu lợi nhuận, có những trường hợp bị lỗ , tài sản cố định còn lại trích
khấu hao không đủ dẫn đến việc đầu tư trang thiết bị tài sản kém, hậu quả
kéo theo là tiếp tục sản xuất kinh doanh kém tạo ra vòng xoáy liên tiếp
- Hiệu suất sử dụng tổng = Doanh thu thuần
tài sản Tổng tài sản BQ
Chỉ tiêu này nói lên cứ một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh
trong kì thì tạo được bao nhiêu đồng doanh thu, so với kì trước hệ số giảm
chúng tỏ sức sản xuất của tổng tài sản giảm, làm ảnh hưởng đến khả năng
trả nợ của DN.
* Các chỉ tiêu phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
- Hệ số nợ = Tổng số nợ phải trả