Lời mở đầu
Môi trờng không khí có ý nghĩa rất hệ trọng đối với con ngời vì ngời ta có
thể nhịn ăn 7-10 ngày, nhịn uống 2-3 ngày nhng nếu chỉ sau 3-5 phút không hít
thở không khí thì con ngời đã có nguy cơ bị tử vong. Thế nhng môi trờng không
khí đang ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là ở các thành phố lớn.Thành
phố Hà Nội cũng không nằm ngoài số đó. Trong quá trình phát triển của mình
thành phố đang phải đối mặt với nhiều thách thức mà một trong những thách
thức đó là vấn đề ô nhiễm không khí. Có thể thấy rằng ô nhiễm không khí gây
nhiều thiệt hại không những đối với sức khoẻ nhân dân mà còn làm thiệt hại về
mặt vật chất rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân. Nhng những thiệt hại đó bằng
bao nhiêu thì thật khó mà xác định chính xác đợc. Tuy nhiên việc xác định đó lại
vô cùng quan trọng bởi vì muốn thực hiện một biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
nào đó ngời ta thờng so sánh giữa lợi ích và chi phí mà biện pháp đó đem lại để
quyết định xem có nên thực hiện hay không. Các chi phí của việc giảm thiểu th-
ờng dễ lợng hoá đợc nhng lợi ích của nó thì khó hơn.Vì vậy cần lợng hoá giá trị
thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra, gía trị đó chính là những chi phí tích kiệm
đợc hay lợi ích có đợc nếu thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Từ đó ta
có thể phân tích tính khả thi của các giải pháp trong quá trình xây dựng và thực
hiện các chính sách môi trờng
Chính vì lẽ đó em mạnh dạn sử dụng phơng pháp chi phí thay thế để bớc
đầu lợng hoá giá trị thiệt hại về kinh tế do ô nhiễm môi trờng không khí ở thành
phố Hà Nội
1
Nội dung
I/ Cơ sở lý luận.
1. khái niệm về ô nhiễm và ô nhiễm môi tr ờng không khí
Trớc khi tiến hành lợng hoá chúng ta phải hiểu thế nào là ô nhiễm và ô
nhiễm môi trờng không khí .
Theo luật bảo vệ môi trờng của Việt nam: Ô nhiễm môi trờng là sự làm
thay đổi tính chất của môi trờng, vi phạm tiêu chuẩn môi trờng. Ô nhiễm
không khí là một vấn đề tổng hợp, nó đợc xác định bằng sự biến đổi môi trờng
NaCl, các hơi, bụi từ công nghiệp luyện đồng, chì, kẽm, nhuộm đặc biệt là hơi
khí bốc ra từ các lò nung vôi, nung gạch thủ công ngay cả khi nồng độ của
chúng còn thấp cũng đã làm chậm quá trình sinh trởng của thực vật, nồng độ cao
làm vàng lá, làm hoa quả bị lép, bị nứt, bị thui và ở mức độ cao hơn thì lá cây
cũng nh hoa quả đều bị rụng, bị chết hoại. Các loại bụi đất bám vào lá cây nhiều
cũng ảnh hởng đến sinh trởng của cây vì làm giảm quá trình diệp lục hoá quang
hợp của cây.
2.3. Đối với vật liệu
Ô nhiễm không khí gây tác hại rất lớn đối với các loại vật liệu khác
nhau nh sắt, thép, vật liệu sơn, sản phẩm dệt, vật liệu xây dựng bằng các quá
trình ăn mòn (han gỉ), mài mòn, gây hoen ố và phá huỷ. Nói chung ô nhiễm
không khí có tác động xấu, làm vật liệu, kết cấu cũng nh đồ dùng và thiết bị
chóng bị h hỏng. Các chất ô nhiễm nh là SO
2
, H
2
SO
4
, clorua, các sol khí làm
gỉ sắt thép, làm h hỏng các mối hàn kim loại và vật liệu xây dựng rất nhanh. Do
đó làm giảm tuổi thọ công trình và tăng tốc độ phải sửa chữa nhà cửa.
II/ Hiện trạng môi tr ờng không khí ở thành phố Hà Nội
Ô nhiễm môi trờng không khí ở Hà Nội hiện nay do ba nguồn thải chủ yếu:
* Hoạt động sản xuất công nghiệp
* Hoạt động giao thông đô thị và xây dựng
* Sinh hoạt của ngời dân thành phố (chủ yếu là do chất đốt sinh hoạt)
1. Ô nhiễm không khí do công nghiệp:
Theo kết quả điều tra ô nhiễm công nghiệp ở Hà Nội, hiện nay ở Hà Nội
có gần 400 cơ sở công nghiệp đang hoạt động tại 9 cụm công nghiệp cũ là Minh
Khai, Thợng Đình, Văn Điển, Trơng Định, Cầu Giấy, Yên Viên, Chèm, Cầu Bơu
vợt 3-10 lần, bụi vợt3-6 lần.
2. Ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông đô thị và xây dựng.
Theo số liệu năm 2001 của Bộ Giao thông- vận tải, thàng phố Hà Nội hiện
có hơn 100.000 xe ô tô các loại và khoảng 1,2 triệu xe máy. Mức độ tăng trởng
trung bình hàng năm về xe máy là 15%, ô tô là 10%. Đây chính là một trong
những nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu ở Hà Nội.
Trong khi tốc độ phát triển của các tốc độ phát triển của các phơng tiện giao
thông rất cao, quá trình phát triển của hệ thống giao thông vận tải đô thị ở Hà
Nội còn thể hiện nhiều bất cập. Điều này thể hiện rõ ở sự phát triển thiếu hài hoà
giữa số lợng và chủng loại các phơng tiện giao thông với hệ thống cơ sở hạ tầng
giao thông đô thị. Hệ thống cơ sở hạ tầng tuy phát triển nhanh và dần đợc hiện
đại hoá nhng không theo kịp tốc độ phát triển nhanh đến mức không thể kiểm
soát đợc của các phơng tiện giao thông. Chính vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn
nhanh chóng bị quá tải và xuống cấp nghiêm trọng. Hiện trạng hệ thống đờng
giao thông ở Hà Nội có mật độ khoảng 5,41km/km
2
, cờng độ dòng xe lớn, trên
1800 đến 3600 xe 1h. Đờng hẹp, nhiều ngã ba ngã t, chất lợng đờng kém, phân
luồng hạn chế, xe đi lẫn lộn nên luôn phải thay đổi tốc độ. Hơn thế nữa, tắc đờng
liên tục xảy ra trong và ngoài giờ cao điểm ( điển hình là ở ngã T sở, ngã ba Tr-
ờng Chinh Tôn Thất Tùng, Ngã T Vọng, Chùa Bộc) làm xe phải dừng lại lâu
trong khi vẫn ở trạng thái nổ máy nên lợng khí độc hại CO
2
, SO
2
, NO
2
, C
x
H
xung quanh ( trong một căn hộ, một nhà hay một số nhà) nhất là khi các hộ
nhóm hoặc ủ bếp.
Nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần ngày càng phát triển, có nhiều hộ
sản xuất hàng thủ công và cá thể nh sơn xì, hàn hơi, sửa chữa các thiết bị đông
lạnh nằm rải rác khắp các ngõ xóm, khu dân c. Họ hoạt động không kể ngày
đêm gây ảnh hởng không nhỏ đến môi trờng không khí ở khu vực. Các hoạt
động này rất khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc tuân thủ các quy định về an
toàn và vệ sinh môi trờng không khí chung của thành phố.
III/ á p dụng ph ơng pháp chi phí thay thế để b ớc đầu ớc tính thiệt hại kinh
tế do ô nhiễm không khí
Nguyên tắc của phơng pháp chi phí thay thế là thay vì tính trực tiếp giá trị
của môi trờng tự nhiên ta tìm giá trị cuả những vật thay thế gần gũi và thay vì
tính trực tiếp giá trị chất lợng môi trờng bị giảm sút (mà thực tế là không thể tính
đợc) ta tìm các chi phí liên quan do chất lợng môi trờng không khí bị giảm sút
gây ra. Nh trong phần I.2 đã phân tích ta thấy rằng ô nhiễm không khí gây tác
hại đối với sức khoẻ con ngời, sự phát triển của động thực vật và đối với độ bền
của kết câu vật liệu. Do đó có thể tính :
Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trờng không khí hay giá trị chất lợng
môi trờng không khí bị giảm sút = C
h
+C
p
+C
m
5
trong đó C
h
=chi phí về mặt sức khoẻ
C
p
các công trình phải duy tu bảo dỡng do suy yếu kết cấu với tổng lợng thép cần
mua là hơn 100 tấn. Hiện nay, giá thép trên thị trờng là 5.100000 đồng/tấn do đó
tổng chi phí đối với vật liệu là
C
m
=100*5100000=510000000 đồng
Vậy tổng chi phi ô nhiễm không khí là:
C = 19.376.173.000 + 510.000.000 = 19.886.173.000 đồng
III/ Đề xuất các biện pháp cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa ô nhiễm
1. Các giải pháp kinh tế
1.1. á p dụng nguyên tắc ng ời gây ô nhiễm phải trả tiền:
Theo đó ngời gây ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các
biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính mình gây ra nhằm đảm bảo cho môi trờng
ở trong trạng thái có thể chấp nhận đợc. Trong thời gian tới các Bộ, ngành có liên
quan tới việc bảo vệ môi trờng đặc biệt là Bộ khoa học công nghệ và môi trờng
6
và Sở khoa học công nghệ và môi trờng thành phố Hà Nội nên tiến hành xay
dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh quy định cụ thể về các đối tợng, các hành vi
đợc coi là tổn hại tới môi trờng và mức độ phải chịu phạt khi vi phạm các quy
định trên. Triển khai đồng bộ các biện pháp trên và áp dụng đối với toàn bộ các
đối tợng đợc quy định, tránh tình trạng mất công bằng trong việc sử phạt các vi
phạm nh hiện nay.
Các công cụ kinh tế có thể áp dụng trong trờng hợp này là các loại thuế,
phí ô nhiễm; các loại giấy phép xả thải có thể trao đổi mua bán trên thị trờng,
các khoản trợ cấp, các cỡng chế và khuyến khích thực thi.
1.2 . á p dụng nguyên tắc ng ời đ ợc h ởng thụ phải trả tiền
Có thể hiểu nguyên tắc này một cách tổng thể là: tất cả những ai hởng lợi
do có đợc môi trờng trong lành không bị ô nhiễm thì đều phải trả tiền. Khoản
tiền thu đợc sẽ đợc bổ sung cho Quỹ dự phòng môi trờng, đây là một nguồn lực
quan trọng trong việc duy trì hoạt động của quỹ dự phòng môi trờng. Điều này
Mặt khác ô nhiễm môi trờng ở đô thị còn do chiều rộng đờng phố, số làn
xe, số lợng ngời đi bộ sang đờng, số lợng ngã ba ngã t của đờng đó. Chất thải
của các xe có động cơ cũ chất lợng kém hoặc chạy sai chế độ có thể gấp nhiều
lần của xe mới. Vì vậy cần phải thờng xuyên kiểm tra xe.
Đối với các công trình xây dựng phải dựng hàng rào che chắn cao hơn
công trình từ 0,5 - 1m.
- Chuyển chất thải xây dựng trong các đờng ống kín, đặt container thu
gom chất thải xây dựng ngay từ nguồn. Tới nớc chống bụi khi đào nền móng
hoặc phá dỡ công trình.
- Các phơng tiện vận chuyển chất thải, vật liệu xây dựng phải đợc rửa bằng
cầu rửa xe, có đầy đủ bạt che chắn trớc khi ra khỏi công trình.
- Khuyến khích và tiến tới bắt buộc áp dụng các công nghệ mới nh sử
dụng vữa tơi, bê tông tơi.
- Xây dựng mạng lới các trạm rửa xe với cầu rửa xe hiện đại, khoa học.
- Kiểm tra thờng xuyên các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng, cấp phép
khi đủ điều kiện về diện tích, kĩ thuật, phơng tiện.
- Phát triển hệ thống cây xanh, tăng diện tích vờn hoa công viên trên địa
bàn quận.
- Tăng cờng kiểm tra, xử lí triệt để các xe không đảm bảo quy chuẩn khi
tham gia giao thông
3. Giáo dục ý thức bảo vệ môi tr ờng.
Sự nghiệp bảo vệ môi trờng là sự nghiệp của toàn dân. Chỉ có nâng cao ý
thức và trách nhiệm của ngời dân thì mới có thể bảo đảm cho môi trờng trong
sạch lâu dài. Cần phát động, khuyến khích các phong trào quần chúng tham gia
bảo vệ môi trờng. Thay đổi nếp sống không phù hợp với bảo vệ môi trờng.
Điều quan trọng là làm sao cho mỗi hộ sản xuất, chủ xí nghiệp, lãnh đạo
chính quyền từ phờng tới thành phố có đợc nhận thức, hiểu biết và có trách
nhiệm cao đối với bảo vệ môi trờng. Nếu nh ngời ta cứ xả rác ra ngoài đờng, các
8
xe tải cứ mãi vô t thả bụi ra đờng, các nhà máy cứ tiếp tục nhả bụi ra môi trờng