Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
LỜI MỞ ĐẦU
Trong 200 năm trở lại đây, lần đầu tiên trong lịch sử của mình, lồi người
chúng ta đã chứng kiến hai cuộc cách mạng cơng nghiệp vĩ đại dẫn tới sự tăng
trưởng kinh tế thần kỳ.
Bắt đầu là cuộc cách mạng cơng nghiệp lần thứ nhất xuất phát từ Anh từ những
năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 với các phát minh về kỹ thuật chế tạo máy
móc, chủ yếu là trong ngành dệt. Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy
mơ nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng cơng nghiệp và chế tạo
máy móc quy mơ lớn. Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng
hóa của ngành cơng nghiệp dệt. Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và
năng lượng cho cơng nghiệp dệt, các kỹ thuật gia cơng sắt thép được cải thiện
và than đá sử dụng với khối lượng lớn. Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho
sự ra đời của kênh đào giao thơng và đường sắt. Bên cạnh đó, đường giao
thơng được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp. Động cơ hơi
nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia
tăng năng suất lao động đột biến. Sự phát triển các máy cơng cụ trong hai thập
kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những
ngành sản xuất khác.
Cuộc cách mạng cơng nghiệp lần thứ hai bắt đầu từ nữa cuối thế kỷ 19 và đầu
thế kỷ 20 được đánh dấu bởi sự phát triển của các ngành cơng nghiệp hóa chất,
dầu mỏ, thép và điện lực. Sản xuất hàng loạt hàng tiêu dùng được phát triển,
các lĩnh vực như đồ uống và thực phẩm, quần áo, vận tải và giải trí gồm rạp
chiếu phim, phát thanh, máy ghi âm được thương mại hóa đáp ứng nhu cầu dân
chúng và tạo nhiều cơng ăn việc làm.
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 1
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
Thành tựu của hai cuộc cách mạng cơng nghiệp trong thời kỳ này là mức sống
của người dân được cải thiện rất nhiều và nhanh chóng. Nếu trước năm 1800,
sự thay đổi kinh tế hầu như khơng thể cảm nhận được khi mà hầu hết mọi
người đều dự đốn lúc họ qua đời thì điều kiện kinh tế cũng giống như lúc họ
Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố
cấu thành sự vật, … đó là những cái vốn có cuả sự vật từ khi sự vật được sinh
ra hoặc hình thành trong sự vận động và phát triển cuả nó. Tuy nhiên thuộc
tính chỉ được bộc lộ ra thơng qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng
khác. Chất bộc lộ thơng qua thuộc tính, nhưng chất và thuộc tính khơng phải
có ý nghiã như nhau. Chất là đặc điểm hồn chỉnh cuả sự vật hay hiện tượng,
còn thuộc tính chỉ đứng về một mặt nào đó mà vạch rõ sự vật hay hiện tượng.
Do vậy, chỉ có những thuộc tính cơ bản tổng hợp lại tạo thành chất cuả sự vật.
Chất phản ánh bản chất cuả sự vật và hiện tượng, nó liên hệ khắng khít với một
hình thức ổn định nào đó cuả vận động hay cuả nhiều sự vận động. Khi thuộc
tính căn bản thay đổi thì chất cuả sự vật thay đổi. Chất là sự tổng hợp cuả
nhiều thuộc tính, đồng thời mỗi thuộc tính lại được coi là một chất khi được
xem xét trong một quan hệ khác. Mỗi sự vật vừa có một chất nhưng cũng có
thể có nhiều chất, chất cuả sự vật hay hiện tượng lộ ra trong sự tác động lẫn
nhau với sự vật hay hiện tượng khác. Chất khơng tồn tại độc lập, tách rời với
bản thân sự vật hay hiện tượng. Ph.Ăngghen nói : “chất khơng tồn tại, mà chỉ
có sự vật có chất mới tồn tại”. Chất vạch rõ giới hạn phân chia sự vật và hiện
tượng này với sự vật và hiện tượng khác. Chất là thuộc tính khách quan cuả sự
vật và hiện tượng. Trái với các hệ thống triết học duy tâm và siêu hình coi chất
là một phạm trù chủ quan, phụ thuộc vào cảm giác con người, chủ nghiã duy
vật biện chứng cho rằng, chất cũng là hiện thực khách quan giống như bản thân
vật chất đang vận động vậy. Chất cuả sự vật và hiện tượng còn được qui định
bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghiã là bởi kết cấu cuả sự
vật.
2. Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định vốn có cuả sự
vật về mặt số lượng, qui mơ, trình độ, nhịp điệu cuả sự vận động và phát triển
cũng như các thuộc tính cuả sự vật.
Lượng cũng như chất, nó tồn tại khách quan và khơng tách rời bản thân,
sự vật, hiện tượng. Lượng cuả sự vật chưa nói lên sự khác nhau giữa nó với sự
vật khác, mà lượng biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, qui
Các nhà triết học siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại thực tế những bước
nhảy, do họ tuyệt đối hóa tính tiệm tiến, tính dần dần của sự thay đổi về lượng.
Ph.hêghen đã phê phán quan điểm đó và cho rằng, tính tiệm tiến chỉ là sự thay
đổi về lượng, tức là cái đối lập với sự thay đổi về chất. Chỉ bằng phạm trù tính
tiệm tiến thì khơng thể giải thích được sự xuất hiện của chất mới. Ơng cho rằng
bất kỳ sự thay đổi nào về chất cũng là sự đứt đọan của tiệm tiến về lượng, đó là
bước nhảy. Cũng về điểm này, V.I.Lênin nhấn mạnh :”Tính tiệm tiến mà
khơng có bước nhảy vọt thì khơng giải thích được gì cả”. Bước nhảy là sự kết
thúc một giai đọan phát triển của sự vật và là khởi đầu của một giai đọan phát
triển mới. Nó là sự gián đọan trong q trình vận động phát triển liên tục của
sự vật.
Như vậy, sự phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng bắt đầu sự tích lũy về
lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất.
Song điểm nút khơng cố định mà có thể thay đổi do tác động của điều kiện
khách quan và chủ quan qui định. Nghĩa là, muốn có chất mới trước hết phải
tích lũy về lượng đến độ cho phép, để chuyển sang chất mới. Ví dụ, muốn trở
thành cử nhân kinh tế , trước hết phải tích lũy kiến thức chun mơn ở trường
Đại học Kinh tế trong 4 năm, thi tốt nghiệp chính là điểm nút chuyển từ chất
“sinh viên” thành chất mới “cử nhân kinh tế”.
Chất mới ra đời có thể làm thay đổi qui mơ, nhịp điệu của sự vận động
và phát triển; nghĩa là tạo điều kiện lượng mới xuất hiện. Ví dụ, khi chất lỏng
chuyển sang chất hơi làm cho tốc độ vận động hơi nứơc nhanh hơn, thể tích
hơi nước lớn hơn, độ hòa tan khác với trước….
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 4
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
Quy luật những thay đổi về lượng thành thay đổi về chất có mặt ở mọi
lĩnh vực, thí dụ :
Trong hóa học
O + O ->O
2
phát xít (1936-1939) đến cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945) và Cách
Mạng tháng 8 năm 1945 là cuộc thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Trong lĩnh vực sản xuất, cơng nhân nghiên cứu làm ra sản phẩm lần I,
rút kinh nghiệm q trình nghiên cứu làm ra sản phẩm lần thứ II chất lượng tốt
hơn. Nếu cơng nhân chịu đầu tư nghiên cứu cứ thế liên tục cho ra đời sản phẩm
lần sau bao giờ cũng chất lượng và đa dạng hơn lần đầu.
4. Các hình thức cơ bản của bước nhảy
– Sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng hết sức đa dạng và phong
phú với nhiều hình thức khác nhau. Có thể qui thành hai hình thức cơ
bản : bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
Bước nhảy đột biến là bước nhảy thực hiện trong thời gian rất ngắn
làm thay đổi chất của tòan bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước
bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần
dần những nhân tố của chất cũ. Bước nhảy dần dần khác với sự thay
đổi dần dần về lượng của sự vật. Bước nhảy dần dần là sự chuyển
hóa dần dần từ chất này sang chất khác, còn sự thay đối dần dần về
lượng là sự tích lũy về lượng để đến một giới hạn nhất định sẽ
chuyển hóa về chất. Bước nhảy đột biến khơng phải là ngẫu nhiên,
mà diễn ra hợp qui luật.
– Căn cứ vào qui mơ thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy
tòan bộ và bước nhảy cục bộ.
Bước nhảy tòan bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của tòan bộ các
mặt. các yếu tố cấu thành sự vật.
Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt,
những yếu tố riêng lẻ của sự vật và hiện tượng.
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 5
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
– Khi xem xét sự thay đổi về chất của xã hội người ta còn phân chia sự
thay đổi đó ra thành thay đổi có tính chất cách mạng và thay đổi có
chất lượng và hiệu quả cao trong họat động của mình.
II. VẬN DỤNG QUI LUẬT QUAN HỆ LƯỢNG – CHẤT TRONG THỰC
TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM
– Trong cách mạng chống thực dân đế quốc, Đảng ta đã nắm được qui
luật của sự biến đổi, vận dụng lý luận đó vào thực tiễn. Chúng ta phải xây
dựng lực lượng cách mạng dần dần, từ nhỏ đến lớn, từ những trận đánh nhỏ
đến trận đánh lớn, từ trận đánh được kích đến đánh chính quy. Q trình phát
triển của phong trào cách mạng được biến đổi dần dần. Trong kháng chiến
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 6
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
chống thực dân Pháp (1946-1954) chúng ta đã lớn dần về các mặt qn sự,
chính trị và ngoại giao. Ví dụ, từ chiến thắng Việt Bắc thu Đơng (1947), chiến
thắng biên giới (1950), chiến thắng Hòa Bình –Tây Bắc (1952-1953) cho đến
chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) làm chấn động địa cầu.
– Sự biến đổi dần dần về qn sự đã tạo ra sự biến đổi về chất. Thực
dân Pháp phải đầu hàng. Hòa bình lập lại ở Đơng Dương, miền Bắc hồn tồn
giải phóng. Đất nước ta bước sang giai đọan mới thay đổi hẳn về chất.
– Cũng lý giải như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam cũng
là một q trình biến đổi về lượng. Từ chiến thắng chiến tranh đặc biệt (1961-
1965) đến chiến tranh cục bộ (1965-1968). Từ chiến tranh cục bộ chúng ta đã
chiến thắng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và Đơng Dương hóa (1969-
1973) của Đế quốc Mỹ và cuối cùng chúng ta đã mở chiến dịch tổng tiến cơng
và nổi dậy mùa xn năm 1975 giải phóng Miền Nam, đỉnh cao của nó là
chiến dịch Hồ Chí Minh (30.04.1975)
– Ngày nay trong cơng cuộc đổi mới xây dựng nền kinh tế đất nước,
chúng ta cũng ứng dụng phương pháp luận của qui luật lượng chất.
– Q trình phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đọan hiện nay
khơng thể nóng vội. Phải xây dựng cơ sở vật chất từ đầu, phải tích lũy và vận
dụng sức mạnh của của tòan dân, của các nguồn lực kinh tế đất nứơc, nơng
nghiệp, cơng nghiệp, thủy sản, năng lượng dầu khí, được lịch, dịch vụ,…. tất
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng
tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi cơng dân một
nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm), và (iii) Tổng sản
phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng. Tổng
sản phẩm bình qn đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.
Tổng thu nhập bình qn đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.
Người ta định nghĩa sự tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP
hoặc thu nhập bình qn đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng
kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc
gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình
qn đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo
khổ. Chính điều này khiến cho chỉ số tăng trưởng kinh tế chưa thể dùng để
đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế. Sự phát triển của một nền kinh tế
phải là sư thay đổi tồn diện về mặt xã hội theo chiều hướng tốt hơn mà trong
đó tăng trưởng kinh tế là một nhân tố quan trọng.
Như vậy phát triển kinh tế sẽ mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó
bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế
(như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm
tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một q trình hồn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao
gồm kinh tế, xã hội, mơi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm
đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn.
Để định lượng mức độ của tăng trưởng kinh tế người ta dùng mức tăng trưởng
tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình qn hàng
năm trong một giai đoạn. Trong đó (i) {mức tăng trưởng tuyệt đối} là mức
chênh lệch quy mơ kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh, (ii) {tốc độ tăng trưởng
kinh tế} được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mơ kinh tế kỳ hiện tại so
với quy mơ kinh tế kỳ trước chia cho quy mơ kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị \%. Biểu diễn bằng tốn học, sẽ có
cơng thức:
trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một
trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hồn
tồn dựa vào đó như ả rập Xê út. Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ
là ngoại lệ chứ khơng phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài ngun thiên
nhiên phong phú khơng quyết định một quốc gia có thu nhập cao. Nhật
Bản là một nước gần như khơng có tài ngun thiên nhiên nhưng nhờ
tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, cơng
nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mơ.
• Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản
mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít
(tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có
được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương
lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc
gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao
và bền vững. Tuy nhiên, tư bản khơng chỉ là máy móc, thiết bị do tư
nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội, những thứ tạo
tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội
thường là những dự án quy mơ lớn, gần như khơng thể chia nhỏ được và
nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mơ nên phải do chính phủ thực
hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thơng, mạng lưới điện
quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
• Cơng nghệ: trong suốt lịch sử lồi người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng
khơng phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao
động và tư bản, ngược lại, nó là q trình khơng ngừng thay đổi cơng
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 9
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
nghệ sản xuất. Cơng nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động
và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là q trình sản xuất có
hiệu quả hơn. Cơng nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay
cơng nghệ thơng tin, cơng nghệ sinh học, cơng nghệ vật liệu mới có
chia thành 5 gian đoạn cơ bản như sau:
• Xã hội truyền thống, ở đó ngành nơng nghiệp giữ vai trò thống trị trong
nền kinh tế, sự họat động của nền kinh tế chưa đa dạng, cơ sở vật chất
và trình độ cơng nghệ thấp kém, năng suất lao động thấp.
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 10
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
• Chuẩn bị cất cánh, giai đoạn này là sự kết hợp phát triển song song cả
khu vực kinh tế truyền thống nơng nghiệp và khu vực kinh tế hiện đại
gồm cơng nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ. Bên cạnh đó sẽ có sự
xuất hiện giới chủ doanh nghiệp, những có khả năng lĩnh hội cơng nghệ
và điều hành. Cơ cấu ngành của giai đoạn này sẽ là nơng-cơng nghiệp.
• Cất cánh, đây là thời kỳ của các ngành kinh tế mủi nhọn có tác động
thúc đẩy nhanh tăng trưởng nền kinh tế, thơng qua tác động dây chuyền
đến các ngành khác phát triển. Bên cạnh đó giới chủ doanh nghiệp có
khả năng thay đổi phương pháp sản xuất và ứng dụng cơng nghệ mới
vào sản xuất. Tỷ lệ đầu tư trong giai đọan nầy ít nhất 10\%. Cơ sở hạ
tầng phát triển nhanh, thể chế chính trị-xã hội đảm bảo thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển kinh tế. Cơ cấu ngành của giai đoạn này là cơng
nghiệp-nơng nghiệp-dịch vụ.
• Trưởng thành kỹ thuật, ở giai đoạn này các ngành cơng nghiệp nặng
hiện đại chủ yếu như luyện kim, hóa chất, điện phát huy tác dụng. Tỷ lệ
đầu tư trong giai đọan nầy ở mức 20\%. Các chủ doanh nghiệp tham gia
vào quản lý nhà nước. Cơ cấu ngành bây giờ sẽ là cơng nghiệp-dịch vụ-
nơng nghiệp. Cơ cấu kinh tế-xã hội có sự thay đổi theo hướng cả đời
sống vật chất và tinh thần người dân được nâng cao.
• Tiêu dùng ở mức cao, ở giai đoạn này thu nhập bình qn đầu người
tăng nhanh, dân cư giàu có, tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ
cao cấp. Nhu cầu cơ bản của đại bộ phận dân cư dân được đáp ứng. Cơ
cấu dân cư, lao động thay đổi theo hướng: tăng tỷ lệ dân cư thành thị,
tăng tỷ lệ lao động có trình độ chun mơn cao. Cơ cấu ngành là cơ cấu
hình thành với sự thay đổi tồn diện về mặt bản chất đối với trạng thái xã
hội của nền kinh tế cũ. Sự phát triển kinh tế từ hai cuộc cách mạng cơng
nghiệp vừa qua đã làm một một buớc nhảy mang tính cách mạng trong sự
thay đổi về cơ cấu của xã hội, trong đó một nền kinh tế giản đơn, quy mơ
nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng một nền kinh tế hiện
đại với quy mơ cơng nghiệp dựa trên sức mạnh của máy móc và trình độ
quản lý, điều hành sản suất ở mức cao, được hệ thống hóa và ln được
cải tiến theo chiều hướng tối ưu từ kinh nghiệm thực tế. Một nền kinh tế
mới ra đời với mức độ phát triển cao hơn cho phép các tăng trưởng kinh
tế cũng diễn ra ở một cấp độ cao hơn và bắt đầu cho một sự tích lũy các
yếu tố xã hội mới. Và như vậy ta có thể nói q trình chuyển đổi từ một
nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế phát triển hơn phản ánh
chính xác quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay
đổi về chất và ngược lại.
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 12
Khoa Đào Tạo sau Đại Học - Lớp cao học đêm 6 – K16
KẾT LUẬN
Như vậy, từ những hiểu biết tổng quan về quy luật chuyển hóa về những thay
đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại diễn dịch thành các kinh
nghiệm ứng xử trong thực tế đã được nêu ra trong phần cuối của nội dung 1
của khóa luận. Trong nội dung 3, khái niệm của tăng trưởng và phát triển trinh
tế cũng như các thuộc tính của nó đã được trình bày tương đối chi tiết, từ đó
cho phép thấy ta có thể rõ bản chất của q trình phát triển của một nền kinh
tế. Trong mối quan hệ "lượng-chất" theo tinh thần của quy luật chuyển đổi
"lượng-chất" của triết học Mark-Angels, ta có thể thấy rằng tăng trưởng và
phát triển kinh tế là hai thực tại khách quan của quy luật trong đó tăng trưởng
giữ vai trò định lượng của q trình chuyển đổi và là nhân tố chính dẫn đến sự
thay đổi hồn tồn về chất của một nền kinh tế, một sự phát triển của nền kinh
tế đó.
Võ Thò Thuỳ Linh Trang 13