Đánh giá tác động của việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 28

1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất tới TS. Trần Nam Thắng đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và
đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian
thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế,
Phòng Đào tạo sau Đại học, quý thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu này.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Phòng
nghiên cứu khoa học, các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Nam Đông - Thừa
Thiên Huế, trạm kiểm lâm xã Thượng Nhật, Phòng NN & PTNT, phòng Thống kê
huyện, các đồng chí lãnh đạo UBND xã Thượng Nhật và xã Thượng Long cùng
các cán bộ thôn/bản đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông
tin, dữ liệu liên quan đến luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự san sẻ rất chân tình của các hộ gia đình ở xã
Thượng Nhật và xã Thượng Long.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã
luôn sát cánh và động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và thực
hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, nhưng do kiến thức còn
nhiều hạn chế, thời gian và tư liệu tham khảo cũng có hạn nên luận văn chắc chắn
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu,
bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Huế, tháng 7 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Thủy
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết quả

7
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái: rừng có tác dụng điều hòa khí hậu, làm không khí trong lành; rừng
bảo vệ đất, tăng độ phì nhiêu, bồi dưỡng tiềm năng cho đất; rừng bảo vệ nguồn nước,
hạn chế lũ lụt và hạn hán, giảm ô nhiễm môi trường; đồng thời, rừng còn là nơi trú ngụ
của nhiều loài động vật, thực vật và vi sinh vật, rừng là kho dự trữ nguồn gen vô cùng
phong phú và đa dạng Ngoài những chức năng về sinh thái trên, rừng có vai trò vô
cùng quan trọng đối với sinh kế của người dân, đặc biệt là đời sống của những người
dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng.
Ở Việt Nam, rừng và đất rừng chiếm 3/4 tổng diện tích tự nhiên, là nơi sinh
sống của hơn 2/3 dân số cả nước. 75% dân số cả nước sống phụ thuộc vào nông
nghiệp và rừng như là nguồn sống chủ yếu. Dân số ngày càng tăng tạo ra áp lực lớn
lên tài nguyên rừng, nhu cầu về các sản phẩm rừng ngày càng cao. Mặc dù đã có
những tiến bộ đáng kể trong sản xuất lương thực, sau nhiều năm thiếu hụt lương thực,
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới, nhưng những tiến bộ
này chỉ giới hạn chủ yếu ở vùng đồng bằng có hệ thống thủy lợi tốt. Hàng triệu người
nông dân ở vùng miền núi vẫn còn đối mặt với sự thiếu hụt lương thực. Sản xuất nông
nghiệp ở vùng miền núi vẫn còn nhiều hạn chế lớn. Ðiều này đã làm cho người dân
vùng núi phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng như là nguồn sống của họ. Nghèo đói
và kém phát triển ở Việt Nam đã làm cho người nghèo ở nông thôn và cả Nhà nước
phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên rừng như là một nguồn thu nhập. Thực phẩm từ
rừng như thịt động vật rừng, măng tre, củ quả, mật ong và nấm được sử dụng trong các
bữa ăn hàng ngày. Rất nhiều loài cây lấy củ, cây rau và những sản phẩm rừng khác
được sử dụng làm thức ăn trong thời kỳ giáp hạt hoặc thiếu hụt lương thực trầm trọng.
Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, người dân phụ thuộc hoàn toàn vào rừng như là
nguồn lương thực, thức ăn cho gia súc trong thời gian 4 tháng hoặc hơn trong năm.
Theo tác giả Lương Văn Tiến (1991), ở nước ta ước tính có 23 triệu tấn củi được tiêu
thụ hàng năm. Nhiều vùng miền núi ở nước ta, nguồn thu nhập từ việc bán sản phẩm

và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư vùng đệm nhằm bảo đảm
mục tiêu phát triển bền vững trong khu vực [4].
Thượng Nhật và Thượng Long là 2 xã thuộc huyện Nam Đông nằm trong khu
vực mở rộng của VQGBM có diện tích đất rừng lớn. Tổng diện tích đất của xã Thượng
Nhật là 11.378,0 ha, tổng diện tích đất của xã Thượng Long là 5.066,4 ha. Hai xã này
có thành phần dân tộc thiểu số chiếm từ 80% đến 95% dân số, đời sống của người dân
ở 2 xã này lại chủ yếu dựa vào rừng nên khi diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử
dụng, nguồn lương thực, thực phẩm, dược liệu thu được từ rừng cũng bị hạn chế,
nguồn thu nhập của người dân cũng thay đổi theo việc chuyển đổi cơ cấu nghề
nghiệp Mặc dù đã có sự đầu tư phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư.
Xuất phát từ vấn đề trên, để hiểu rõ hơn về cuộc sống, hoạt động sinh kế của
người dân sau khi mở rộng VQGBM, cũng như đề xuất hệ thống các biện pháp hỗ trợ
cho người dân địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá tác động của
việc mở rộng Vườn Quốc Gia Bạch Mã đến sinh kế của người dân địa phương ở
huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.
9
2. Ý nghĩa khoa học
Ðề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động tới sự thay đổi sinh kế củangười dân
thuộc khu vực mở rộng của VQGBM. Xem xét mức độ tác động, khả năng duy trì và
phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã
hội, nguồn lực về vật chất, nguồn lực tài chính của các HGĐ trên địa bàn nghiên cứu.
Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần hình thành sinh kế bền vững cho người dân khu
vực mở rộng của VQGBM, góp phần vào việc bảo tồn lâu dài VQGBM.
3. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các công trình
nghiên cứu về sinh kế người dân khu vực mở rộng của VQGBM. Đây cũng là nguồn
tài liệu quan trọng cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hoạch định chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi nói chung và khu vực mở rộng của
VQGBM nói riêng.

lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên [23].
1.1.2. Các khái niệm về sinh kế bền vững
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà
nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên
thế giới. Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện
được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải đặt nó
trong mối quan hệ với phát triển bền vững.
Theo DFID (2001) sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực
vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người.
Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc
có khả năng phục hồi, duy trì, tăng cường khả năng và nguồn lực ở hiện tại cũng như
trong tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên [22].
11
Theo FAO (2001) sinh kế bền vững có thể được mô tả là: chống đỡ được với
những cú sốc và áp lực bên ngoài; không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc
được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế); được thích nghi hóa
để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên; bền vững mà không
làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của người khác [11].
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc
cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp
giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai [8].
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy
con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên
sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện
ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động [23].
1.1.3. Khung sinh kế bền vững
Khung phân tích sinh kế là một công cụ được sử dụng để áp dụng cách tiếp cận
sinh kế bền vững. Đây là cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, đồng thời cố gắng
tìm hiểu những vấn đề về kinh tế - xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
từ góc nhìn thông qua con người. Nó giúp nhà nghiên cứu xem xét những yếu tố khác

- Chiến lược sinh kế là sự tập hợp các hoạt động nhằm tạo ra các phương tiện, các
nguồn thu nhập cho sự tồn tại và phát triển của các nông hộ. Nói một cách khác, chiến
lược sinh kế là khả năng phối kết hợp các hoạt động, các sự lựa chọn để tối ưu hóa
việc sử dụng các tài sản sinh kế hiện có của nông hộ nhằm đạt được các mục tiêu của
nông hộ như các hoạt động sản xuất, hoạt đông đầu tư và hoạt động tái sản xuất. Chiến
lược sinh kế là một hợp phần quan trọng trong sinh kế của nông hộ, nó có mối quan hệ
phụ thuộc vào các tài sản sinh kế của nông hộ. Chiến lược sinh kế được thực hiện
thông qua các hoạt động sinh kế dựa trên các tài sản sinh kế hiện có nhằm tạo ra các
nguồn thu nhập đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nông hộ tại các thời điểm khác nhau.
Nhìn chung, các hoạt động sinh kế có tính đa dạng và có tính thay đổi qua thời gian
nhằm thích ứng với các cơ hội và thách thức được tạo ra do sự thay đổi của môi trường
sinh kế và sự tương tác của chúng qua thời gian [7].
13
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế: Đó là những
điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài.
+ Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao, ổn định hơn, cơ hội làm việc tốt hơn; kết
quả những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền
của HGĐ thu được gia tăng.
+ Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người
ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác. Sự đánh
giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, ví dụ như: căn cứ
vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện
sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, an toàn của đời sống vật chất,
+ Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải sống trong trạng
thái dễ bị tổn thương. Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể tập trung cho việc bảo vệ gia
đình họ khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình.
Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các
thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc,
+ An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự
tổn thương và nghèo đói. Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện

Chính Phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng có ghi rõ: Vườn Quốc Gia là khu
vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được
xác lập để bảo tồn một hay nhiều HST đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay
chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy
cấp. VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và HST rừng,
nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và DLST. VQG được xác lập dựa trên các
tiêu chí và chỉ số về HST đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích
tự nhiên của Vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự
nhiên của Vườn [3].
Khu rừng Bạch Mã được Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam công nhận là VQG theo Quyết định 214/CT ngày 15/71991. Đây là VQG đầu tiên
của miền Trung có tổng diện tích tự nhiên là 22.031 ha. Bạch Mã là một trong 30 VQG
trong cả nước, được thành lập để bảo tồn đa dạng sinh học về động – thực vật của khu
vực chuyển tiếp giao thoa khí hậu miền Bắc, miền Nam. VQGBM nằm trong khu vực
Trung Trường Sơn, là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc và trung tâm của dải rừng
xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam kéo dài từ biển Đông đến biên giới Việt
Lào. VQGBM là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của khu vực Đông
Dương và có một vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo tồn HST rừng nhiệt đới đa
dạng và phong phú. Khu hệ động thực vật hoang dã của VQGBM đa dạng với nhiều
loài đặc hữu, quý hiếm và đặc biệt phần diện tích mở rộng là vùng cư trú của loài Sao
La.
15
Bản đồ 1.1: Bản đồ Vườn Quốc Gia Bạch Mã trước khi mở rộng
- Với tầm quan trọng đó, VQGBM đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt
điều chỉnh mở rộng diện tích Vườn tại Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02/01/2008 về
điều chỉnh, mở rộng diện tích VQGBM. Sau khi mở rộng, diện tích vùng lõi từ 22.031
ha tăng lên 37.487 ha. Trong đó, diện tích trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 34.380 ha,
diện tích trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 3.107 ha. VQGBM thuộc địa giới hành chính
hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, bao gồm 12 xã và thị trấn: xã Lộc Điền, Lộc
Trì, Lộc Hòa, Xuân Lộc và thị trấn Phú Lộc (huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế);

phân công lao động lại từ lâm nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp. Tăng việc
làm phi nông nghiệp đã làm tăng tổng thu nhập của HGĐ. Số ngày làm việc bên ngoài
làng của các HGĐ NFPP tăng thêm 80-130 ngày/năm so với các hộ không tham gia
NFPP. Số liệu nhóm nghiên cứu đã chứng minh được NFPP đã có những tác động đến
sinh kế của người dân địa phương: NFPP đã làm giảm thu nhập gỗ khoảng 300 nhân
dân tệ/HGĐ và tổng thu nhập của HGĐ tăng thêm khoảng 3000 nhân dân tệ/ HGĐ.
Ngoài ra, lợi ích kinh tế chung mà NFPP mang lại là giảm nguy cơ rủi ro về lũ lụt và
17
chi phí cần thiết cho phòng chống lũ lụt. Tác động kết hợp của lệnh cấm khai thác gỗ
và trồng rừng đã làm tăng sản lượng gỗ và việc làm trong nền kinh tế nói chung [29].
JC Gaillard, Emmanuel A. Maceda, Elodie Stasiak, Iwan Le Berre, Maria
Victoria O.Espaldon (2009) đã nghiên cứu về sinh kế bền vững và tính tổn thương
nông hộ khi đối mặt với nguy hiểm ven biển. Họ tập trung nghiên cứu tại thị trấn
Borogan ở Philippin. Bằng những câu hỏi điều tra và thảo luận nhóm, kết quả nghiên
cứu đã cho thấy: để duy trì nhu cầu hàng ngày của gia đình, ngư dân địa phương đã bất
chất những mối nguy hiểm của bão để ra khơi đánh bắt cá. Bởi đời sống của họ còn
nghèo và mong manh nên năng lực tự bảo vệ mình của ngư dân khỏi nhiều mối đe dọa
từ biển là rất hạn chế. Trong một cuộc khủng hoảng, nghiên cứu cho rằng: bắt nguồn
từ sức mạnh và sự đa dạng của cuộc sống mà con người đã dùng một loạt các điều
chỉnh về cuộc sống hàng ngày để đối mặt. Để giảm tính tổn thương của người dân và
nâng cao năng lực để đối mặt với nguy hiểm ven biển và giảm thiểu rủi ro thiên tai cần
nhấn mạnh đến sinh kế bền vững [27].
Ana Minerva Arce Ibarra (2007) nghiên cứu việc sử dụng tài nguyên thủy sản
và giá trị phi tiền tệ của tài nguyên thiên nhiên đến sinh kế của cộng đồng người Maya
ở Mexico. Nghiên cứu này đã sử dụng tất cả các phương pháp của các ngành khoa học
xã hội và tự nhiên bào gồm: Nghiên cứu phát triển, nhân chủng học, kinh tế, sinh thái
và khoa học thủy sản. Nghiên cứu cho thấy: đời sống của người dân có nhiều thiếu
thốn, cuộc sống của họ không thực sự bền vững. Cá có vài trò khác nhau trong sinh kế
của người dân Maya. Đồng thời, nó là truyền thống, tôn giáo, và giải trí của người
Maya. Người dân bản địa và người địa phương khác khai thác thủy sản chủ yếu vào

nhiều vào yếu tố môi trường tự nhiên. Trong khi đó, Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi khí
hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên phải hứng chịu những biến động thất thường
của thời tiết. Đồng thời, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, nên có nhiều biến
đổi về cơ cấu nghề nghiệp, lao động Do đó, đời sống người dân bị tác động mạnh
mẽ, nhất là đời sống của những người dân nghèo. Chính vì vậy, ở Việt Nam có nhiều
nghiên cứu về sinh kế người dân, với nhiều câu hỏi tại sao được đặt ra, để từ đó đưa ra
những biện pháp khắc phục. Sau đây là một số nghiên cứu về sinh kế người dân:
- Theo một nghiên cứu mới đây của Nguyễn Văn Phát, Trương Tấn Quân và Lê
Văn Bính (2012) về sinh kế của người dân ven biển xã Ngư Nam, huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình: Với việc ứng dụng khung phân tích sinh kế dựa vào thị trường và khung
phân tích chuỗi cung. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự phát triển của cơ sở hạ tầng,
đặc biệt là hệ thống giao thông và hệ thống viễn thông đóng vai trò hết sức quan trọng
đối với sự thay đổi chuỗi cung cũng như sự thay đổi sinh kế của người dân theo định
hướng thương mại. Chuỗi cung phát triển chủ yếu tập trung vào đầu ra hơn là đầu vào.
Nguyên nhân kém phát triển của chuỗi cung đầu vào là do sản xuất mang tính manh
mún và chuỗi cung đầu vào mang tính rủi ro hơn. Sự thay đổi nhu cầu đóng một vai
trò quan trọng trong việc dẫn dắt sự thay đổi chuỗi cung và từ đó làm thay đổi sinh kế.
Sự thay đổi nhu cầu này không chỉ xảy ra ở trong địa phương, tỉnh hay quốc gia mà có
thể cả trên thế giới. Quá trình toàn cầu hóa và thương mại hóa đòi hỏi cần phải khai
thác những yếu tố này một cách hiệu quả trong quá trình sản xuất. Những sản phẩm có
chất lượng cao, có tính an toàn cao, có giá trị cao là những sản phẩm có tính hòa nhập
tốt. Vì vậy, việc lựa chọn sản phẩm của địa phương cần có cách nhìn lâu dài và bền
vững. Tóm lại, sự thay đổi chuỗi cung dẫn đến sự thay đổi hệ thống khai thác thủy sản,
hệ thống canh tác tác động vào quá trình cải thiện sinh kế của người dân [9].
19
- Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân và Trần Văn Quảng (2012) nghiên cứu:
Ảnh hưởng của chương trình 135 đến sinh kế của đồng bào dân tộc ít người huyện
Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững, kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù sinh kế của người dân còn ở mức thấp những đã có thay
đổi đáng kể, và nhanh chóng trong thời gian qua tác động của chương trình 135. Sự

thu hồi đất [5].
- Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh (2009) nghiên cứu về: Sinh kế người dân thị
trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát triển khu kinh tế - thương mại đặc
20
biệt Lao Bảo. Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo (SECA) được thành lập năm
1998, góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế về giao lưu phát triển kinh tế - thương
mại của Việt Nam trên hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC). SECA đã có những ảnh
hưởng tích cực đến sinh kế của người dân, góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao
thu nhập; thúc đẩy nhu cầu học tập và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân
cư trong vùng. Tuy nhiên, SECA cũng có những tác động tiêu cực đến hoạt động sinh
kế người dân như: môi trường bị ô nhiễm, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, có sự
phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng đặc biệt là giữa người Kinh và người dân tộc
thiểu số Vân Kiều. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, để cải thiện sinh kế của người dân tốt
hơn, cần thực hiện một số vấn đề cơ bản: Đào tạo nâng cao kĩ năng nghề nghiệp, kĩ
năng tiếp cận thông tin cho người lao động địa phương, đặc biệt là đối với người dân
tộc Vân Kiều để giúp họ có cơ hội tìm được việc làm tại các cơ sở kinh doanh ở khu
kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo; kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp với
các hoạt động phi nông nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn thu và giảm thiểu những rủi
ro cho các hộ dân; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, nâng cao
nhận thức của người dân, đặc biệt là thanh niên nhằm hạn chế các tệ nạn xã hội trên
địa bàn [26].
- Theo báo cáo tham vấn của ban Quản lý dự án Thủy điện Trung Sơn (2009)
về: Chương trình tái định cư, sinh kế và phát triển dân tộc thiểu số. Kế hoạch tái định
cư và cải thiện sinh kế xác định đối tượng dễ bị ảnh hưởng bao gồm: (1) HGĐ mà phụ
nữ làm chủ hộ; (2) những người mù chữ, (3) HGĐ có chủ hộ là người bị tàn tật; (4)
HGĐ dưới mức chuẩn nghèo hiện nay của Bộ lao động, thương binh và xã hội
(MOLISA), (5) HGĐ trẻ em và người già neo đơn không có đất và các phương tiện hỗ
trợ khác; (6) những HGĐ không có đất; và (7) nhóm dân tộc thiểu số tách biệt. Kế
hoạch tái định cư xác định các nhóm HGĐ dễ bị ảnh hưởng và dành thêm quyền lợi
cho họ. Nghiên cứu đánh giá về mặt xã hội, đánh giá về sinh kế và đánh giá tác động

lược để giảm nghèo và cải thiện sinh kế dựa vào rừng. Ba mục tiêu giảm nghèo và cải
thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng là: Tăng thu nhập qua đa dạng hoá các nguồn thu
từ rừng, tạo cơ hội việc làm từ phát triển lâm nghiệp, cải thiện sinh kế dựa vào phát
triển lâm nghiệp được thẩm định là thực tế và có tính khả thi. 6 giải pháp chiến lược để
giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng bao gồm các giải pháp ngắn
hạn là: 1) Thực hiện quản lý rừng đa tác dụng dựa vào cộng đồng; 2) Phát triển khuyến
lâm có sự tham gia; 3) Xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường; 4) Phát triển lâm
nghiệp cộng quản. Các giải pháp dài hạn bao gồm: 1) Phát triển chế biến gỗ và LSNG
tại vùng cao; 2) Phát triển kinh tế rừng trồng vùng cao. Kết quả thẩm định chỉ ra các
giải pháp này là thực tế và có tính khả thi [11].
1.2.3. Những nghiên cứu ở Thừa Thiên Huế
- Lê Hiền (2013) đã nghiên cứu: Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho
người dân vùng cao ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu này đã đưa ra những đặc
trưng các loại nguồn vốn, từ đó xác định được những yếu tố tác động đến sự bền vững
sinh kế của người dân ở các xã dự án của CRD. Đồng thời, đưa ra 7 bước cơ bản trong
phân tích sinh kế hộ nghèo của CRD: bước 1: Đánh giá hiện trạng và chiến lược sinh
kế (5 nguồn vốn của HGĐ); bước 2: Căn cứ vào kết quả của bước 1, CF phân loại
HGĐ theo các nhóm hộ với các đặc trưng nghèo hoặc các đặc trưng sinh kế khác nhau;
bước 3: Cùng với HGĐ phân loại mức độ quan trọng của 5 loại nguồn vốn (có thể sử
dụng công cụ so sách cặp đôi); bước 4: Đánh giá tác động của những rủi ro, sốc, và sự
bấp bênh mà HGĐ thường gặp phải trong quá khứ, đồng thời xác định chiều hướng
22
của những yếu tố này trong tương lai (có thể sử dụng công cụ lược sử HGĐ để tiến
hành hoạt động này); bước 5: Đánh giá sự kế hợp các loại nguồn vốn của HGĐ trong
các hoạt động sống, đặc biệt là trong giải quyết những biến động về kinh tế, xã hội, và
thiên tai; bước 6: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro của HGĐ; bước 7:
Hỗ trợ HGĐ lập kế hoạch phát triển sinh kế. Và tác giả cũng đề xuất được 7 bước hỗ
trợ người dân nâng cao tính bền vững của sinh kế: bước 1: Đánh giá tổng quan tình
hình đói nghèo và sinh kế của HGĐ; bước 2: Xây dựng lòng tin cho hộ nghèo. Tâm lý
của không ít người nghèo là buông xuôi trước hoàn cảnh; bước 3: Cùng với HGĐ xây

23
nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của các HGĐ, trong
khi thu nhập từ nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
đã làm tăng thêm sự khác biệt về mặt xã hội trong quá trình thích ứng và tìm kiếm
chiến lược sinh kế. Một số lao động chủ yếu là người nghèo và những người trên 40
tuổi đang đối mặt với nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm bởi vì thiếu kỹ năng, lý
do sức khỏe, trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn [10].
1.2.4. Những nghiên cứu ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã
- Lê Thị Hằng (2013) nghiên cứu: Đánh giá tình hình khai thác và sử dụng lâm sản
ngoài gỗ theo thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích ở Vườn Quốc gia Bạch Mã tại xã Thượng
Nhật, huyện Nam Đông. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông
thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và phương pháp cho điểm để tìm hiểu tình
hình khai thác và sử dụng các loại sản phẩm rừng bởi cộng đồng địa phương ; điều
tra hiện trường theo các tuyến để đánh giá mức độ đa dạng của các loại LSNG. Kết
quả nghiên cứu tại Thượng Nhật cho thấy: Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
có mối quan hệ gần gũi với cuộc sống của người dân ở xã Thượng Nhật. Các hoạt
động khai thác TNTN quá mức của người dân tộc Ca Tu ở từng thôn từ rừng tự nhiên
của VQGBM và rừng cộng đồng vẫn không hề suy giảm so với trước đây. Loài LSNG
được khai thác từ vùng lõi của rừng đặc dụng là cá, Ếch, Rắn và Ốc và từ rừng cộng
đồng là hoa đót, cây thuốc và các loại cây thực phẩm. Nghiên cứu đã nêu ra 7 loài
LSNG đã được người dân ở 7 thôn xã Thượng Nhật lựa chọn để đăng ký tham gia chia
sẻ lợi ích là Mây, Hạt Ươi, Nấm Linh chi, Măng, Mật ong, Heo rừng và Ốc. Nghiên
cứu cũng chỉ ra 3 tác động tiêu cực có thể xảy ra khi đồng ý cho người dân vào khai
thác LSNG trong vùng lõi: (1) lợi dụng để khai thác quá mức các loài Mây và các
LSNG khác, (2) người dân địa phương hoặc lâm tặc từ bên ngoài có thể lợi dụng để
khai thác gỗ bất hợp pháp, (3) lợi dụng để săn bắt, đặt bẫy các loài động vật hoang dã
và các động vật quý hiếm. Tuy nhiên, nghiên cứu này nhận thấy rằng mô hình thí điểm
chia sẻ lợi ích với cộng đồng thôn ở VQGBM đã cho kết quả tốt, phát huy được trách
nhiệm tự quản, tự giám sát trong cộng đồng; Góp phần khai thác bền vững LSNG và
nâng cao chất lượng đời sống cho người dân địa phương. Nhận thức của cộng đồng về

vùng đệm Vườn Quốc Gia Bạch Mã. Hoạt động của nghiên cứu này được tiến hành
theo 5 bước chính: bước 1: Lập kế hoạch nghiên cứu; bước 2: Nghiên cứu hiện trường;
bước 3: Phân tích số liệu và viết báo cáo (bản dự thảo); bước 4: Báo cáo kết quả; bước
5: Hoàn chỉnh báo cáo. Kết quả nghiên cứu được có 3 nhóm mô hình sinh kế chính
trên địa bàn 4 xã: Thượng Nhật, Hương Lộc, Hương Phú, A Ting. (1) Mô hình sinh kế
dựa vào rừng như: mô hình trồng keo, cây cao su, trồng Tre lấy măng, trồng Lồ ô,
trồng Mây dưới tán rừng, vườn cây thuốc Nam. (2) Mô hình sinh kế dựa vào vườn
nhà-vườn đồi. (3) Mô hình chăn nuôi như: mô hình chăn nuôi lợn, trồng cỏ nuôi bò,
nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi gà-vịt. Từ đó, xây dựng tuyển chọn được một số mô hình
sinh kế như: mô hình trồng Lồ ô, trồng Tre lấy Măng, vườn rau gia đình, trồng chuối
Mốc, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi heo thịt (Móng Cái) [15].
- Theo báo cáo tư vấn của Dương Viết Tình (2009) về: Đánh giá nguồn tài
nguyên lâm sản ngoài gỗ và xây dựng thỏa thuận chia sẻ lợi ích giữa Vườn Quốc Gia
Bạch Mã và cộng đồng. Nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ
đối với đời sống của người dân khu vực vùng đệm. Nghiên cứu đã đưa ra được những
25
loại LSNG (có nguồn gốc thực vật) thường xuyên được người dân thu hái như: tranh,
đót, lá nón, mây, tre, nứa, lồ ô và các loại dược liệu Đồng thời, nghiên cứu cũng cho
thấy rằng nguồn tài nguyên LSNG này đang bị suy giảm. Từ đó, nghiên cứu đã xây
dựng được thỏa thuận chia sẻ lợi ích giữa VQGBM và cộng đồng bao gồm các điều
khoản: (1) Quy định về một số loài LSNG được phép khai thác tại rừng do VQGBM
quản lý. (2) Quy định về quy trình kỹ thuật khai thác các loại LSNG tại rừng do
VQGBM quản lý. (3) Quy định việc khai thác các loại LSNG chỉ được dành cho cộng
đồng dân cư trong xã và phải được sự đồng ý của Ban quản lý VQGBM và UBND xã
theo trình tự thủ tục quy định. (4) Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan khi
tham gia thực hiện thỏa thuận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) ở
VQGBM. (5) Các quy định về chế độ thưởng, phạt. (6) Các điều khoản thi hành [12].
1.3. Tính mới của đề tài
Từ những nghiên cứu về sinh kế trên Thế giới và Việt Nam đề tài đã tiếp thu
những kinh nghiệm và những phương pháp của những người đi trước. Để đánh giá tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status