ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
KHOA KINH TẾ
LƯU NGUYỄN THỊ HỢP
TÍNH NHÂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
CON NGƯỜI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
KHÓA : 08
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2008
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Lịch sử ra đời Phật giáo
1.2 Lịch sử ra đời Phật giáo Việt Nam
1.3 Những đặc điểm Phật giáo ở Việt Nam
1.3.1 Tính tổng hợp
1.3.2 Tính hài hòa âm dương
1.3.3 Tính linh hoạt
CHƯƠNG II: TÍNH NHÂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO
2.1 Tự do, dân chủ, bình đẳng và công bằng
2.2 Bao dung, độ lượng
2.3 Giải thoát và hoàn thiện
CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH NHÂN BẢN TRONG PHẬT GIÁO ĐỐI
VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM
3.1 Từ bi, nhân ái
3.2 Hướng tới tính Người cao đẹp
số dịp lễ đặc biệt của Phật giáo như Tết thượng nguyên, lễ Phật đản, lễ vu lan. Điều này
cho thấy, Phật giáo và tính nhân bản của nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư, tình cảm người
Việt Nam.
Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực (nếu có)
từ tính nhân bản của đạo Phật đới với người Việt, sử dụng và phát huy những mặt tích
cực đấy để đối phó với những phức tạp từ sự phát triển không ngừng của cuộc sống.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề này là vạch rõ chính xác các nhân tố mà tính nhân bản Phật giáo
ảnh hưởng, tác động đến con người Việt Nam, giúp họ hiểu hơn về chính mình và từ đó
làm chủ được bàn thân mình
Phương pháp luận trên phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tổng hợp các nguồn tài liệu, các tư liệu thống kê
Ý nghĩa đề tài
Thế giới ngày nay đã phân chia con người thành nhiều ý thức hệ khác nhau cùng với
những tôn giáo khác nhau phục vụ cho các ý thức đó. Vì vậy, bài tiểu luận này, ở một
chừng mực nào đó, giúp chỉ ra những gì mà Phật giáo và tính nhân bản của nó có thể giúp
đỡ người Việt Nam trong thời đại phát triển này.
4
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Lịch sử ra đời Phật giáo
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (hai tôn giáo lớn khác là Kitô giáo và
Hồi giáo) do Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhattha Gautama) sáng lập ra vào khoảng thế kỉ 5
TCN - có tài liệu cho đó là vào năm 544 TCN. Từ thế kỉ 3 SCN, đạo Phật được truyền bá
rộng rãi ra ngoài Ấn Độ và mang đậm bản sắc của từng quốc gia.
Sự phát triển của Phật giáo có thể được tóm gọn như sau:
• Từ giữa thế kỉ 6 đến giữa thế kỉ 5 TCN: giai đoạn nguyên thủy do đức Phật và 60
đệ tử (tăng đoàn giáo hội đầu tiên) truyền bá
• Từ thế kỉ 4 TCN: giai đoạn phân hóa thành các trường phái khác nhau qua các lần
tập kết về giáo pháp
5
10 Ấn Độ 7.000.000
Đạo Phật ở các nước Tây phương:
• Hoa Kỳ: Theo World Almanac năm 2004 có khoảng 2-3 triệu người theo đạo
Phật. Đạo này đứng hàng thứ 5 ở đây. Tỉ lệ tăng số người theo đạo từ 1990 đến
2000 là 170%.
• Theo Australian Bureau of Statistics của Úc thì số người theo đạo Phật có tỉ lệ
tăng nhanh nhất nước này từ 1996 đến 2001 (hơn 150%). Năm 2002 có đến hơn
360,000 người theo Phật giáo.
• Theo Pluralism Project thì trong năm 1997 ở Pháp có khoảng 650,000 và ở Anh
có 180,000 tín đồ Phật giáo.
1.2 Lịch sử ra đời Phật giáo Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam rất sớm ngay từ đầu công nguyên với câu chuyện
cổ tích về chàng Chử Đồng Tử theo một nhà sư Ấn Độ học đạo. Bắc Ninh được coi là
trung tâm Phật giáo lớn nhất của quận Giao Chỉ vào thế kỉ thứ 1 SCN. Ở đây có Chùa
Dâu (được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam hiện nay). Chùa được xây dựng lần vào
đầu thế kỷ thứ 3 TCN. Cuối thế kỷ thứ 4, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã thuyết pháp tại
chùa này, lập nên thiền phái đầu tiên ở Việt Nam
Phật giáo Việt Nam có hai nhánh chính. Phật giáo đại thừa được du nhập từ Trung Quốc
vào đồng bằng sông Hồng từ khoảng năm 200 SCN và trở thành đạo chính trên toàn quốc
của người Kinh và người Hoa. Trong khi đó, Phật giáo tiều thừa được du nhập từ Ấn Độ
vào phía Nam đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng năm 300-600 SCN và trở thành niềm
tin chủ đạo của người Khmer thiểu số ở vùng này.
Lịch sử phát triển Phật giáo ở Việt Nam được phân thành bốn giai đoạn:
• Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc: giai đoạn hình thành và phát triển
rộng khắp
• Thời nhà Lý – Trần: giai đoạn cực thịnh
• Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỉ 19: giai đoạn suy thoái
• Từ đầu thế kỉ 20 đến nay: giai đoạn phục hưng
Phật giáo Việt Nam song song với việc nhận được sự ủng hộ còn chịu sự quản lý của
Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh
Hoà, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh,
thành phố Cần Thơ
2 Công giáo 14024 24.3% 5.5 27.1%
có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong
đó có một số tỉnh tập trung đông
như Nam Định, Ninh Bình, Thái
Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk
Lắk, Khánh Hoà, Bình Thuận,
Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền
Giang, Vĩnh Long, An Giang, thành
phố Cần Thơ
3 Tin lành 492 0.9% 1 4.9%
tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng,
Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến
Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk
Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình
Phước và một số tỉnh phía Bắc.
4 Cao đài 8340 14.5% 2.4
11.8
%
có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
như Tây Ninh, Long An, Bến Tre,
TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền
Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên
Giang, Cà Mau, An Giang .
5 Hòa Hảo 982 1.7% 1.3 6.4%
tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền
Lặc, Phật nghìn tay nghìn mắt, các vị la hán của các tông phái khác nhau. Hai là, nhiều
chùa các sư mặc cả hai loại áo: màu nâu dành cho Phật giáo tiểu thừa và màu vàng đại
diện cho Phật giáo đại thừa.
1.3.2 Tính hài hòa âm dương
Các vị Phật trong Phật giáo nguyên thủy truyền thống ở Ấn Độ là nam giới. Tuy nhiên,
khi du nhập vào Việt Nam, chịu ảnh hưởng từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước cần sự
sinh sôi nảy nở và phồn thịnh, Phật giáo Việt Nam có thờ tự Phật Bà như : Phật Mẫu,
Phật Bà Quan Âm Thị Kính, Phật Bà Chùa Hương.
1.3.3 Tính linh hoạt
Đặc diểm này được thể hiện ở việc tùy thuộc vào tình huống cụ thể mà người ta có thể tu
luyện, giải thích Phật giáo theo nhiều cách khác nhau miễn là không xa rời những giáo lý
cơ bản của đức Phật Thích Ca.
2
Những người có trung can, nghĩa tín mà khi chết đi thì gọi là thần
3
Những người thông minh, hiền trực mà khi chết đi thì gọi là thánh
8
CHƯƠNG II: TÍNH NHÂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO
2.4 Tự do, dân chủ, bình đẳng và công bằng
Phật giáo đánh giá cao sự tự do cá nhân, tự do tư tưởng và tự do bày tỏ ý kiến một cách
dân chủ. Đức Phật đồng ý rằng mỗi người có quyền tự do để lựa chọn phương pháp tu
luyện, giác ngộ và Ngài không hạn chế điều gì về sự tự do lựa chọn đó. Do vậy, các nhà
sư, đệ tử có quyền đề ra phương pháp tu tập riêng, có quyền giải thích các giáo lý nhà
Phật theo cách thức riêng sao cho hợp logic, sau đó họ thuyết giảng với các đệ tử và
người mộ đạo. Nếu mọi người thấy hay, thấy hữu dụng thì tu luyện theo phương pháp ấy,
theo lý giải ấy và dần dần phát triển thành một giáo phái. Điều này giải thích tại sao đạo
Phật có nhiều giáo phái, tuy nhiên các giáo phái này không tách rời khỏi Phật giáo mà lại
tồn tại dựa trên những nguyên lý cơ bản mà đức Phật đã giác ngộ. Thực tế chứng minh, ở
2.5 Bao dung, độ lượng
4
Kinh Đại Bát Niết Bàn- Trường Bộ Kinh 1và Kinh Du Hành- Trường A Hàm 1
9
Lịch sử Việt Nam cho thấy, Phật giáo được du nhập vào nước ta theo con đường tự
nhiên, không theo gót chân của kẻ thù xâm lược. Chính bằng sự bao dung và trí huệ, đạo
Phật được truyền bá và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng người Việt. Đức Phật đã
dạy: “Này các tỳ kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại…”
5
Phật giáo còn khuyên răn con người nên bao dung, độ lượng với kẻ thù. Đức Phật dạy:
"Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương yêu mới dập tắt được hận thù,
đó là định luật của ngàn xưa".
6
2.6 Giải thoát và hoàn thiện
Con đường nhân bản của Phật pháp là giúp con người giải thoát khỏi bể khổ cuộc đời.
Giải thoát là phạm trù triết học tôn giáo Ấn Độ dùng để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý ,
đạo đức của con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc
đời
7
. Giáo lý nhà Phật lấy con người làm tâm điểm để giúp họ giải thoát khổ đau. Để giải
thoát, chúng sanh phải hiểu được nguồn gốc của nỗi khổ. Theo Khổ đế, con người có tám
cái khổ chính “Bát khổ”, trong đó, bốn cái khổ lớn: sinh, lão, bệnh, tử; tiếp theo là “Ai
biệt ly khổ”: người thân yêu bị xa cách, “Oán tắng hội khổ”: kẻ oán thù lại thường hay
gặp; “Cầu bất đắc khổ”: điều mong cầu lại không toại nguyện ; “Ngũ ấm thịnh khổ”:
chấp trước vào 5 yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, bị nó nung nấu làm cho khổ sở.
Để giải thích nguyên nhân nỗi khổ, theo Nhân đế, có 12 nguyên nhân chính “Thập nhị
nhân duyên”. Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên đã gây ra nghiệp luân hồi cụ
thể như sau:
1. Vô minh: mê muội, không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn
1. Chính kiến: Gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã.
2. Chính tư duy: Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của
bốn chân lí một cách không sai lầm.
3. Chính ngữ: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chính nghiệp: Tránh phạm giới luật.
5. Chính mệnh: Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như
đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chính tinh tiến: Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chính niệm: Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý;
8. Chính định: Tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian
9
Phật đã tu tập và giác ngộ ra, dựa vào kinh nghiệm của bản thân Ngài, Ngài khuyên răn
chúng sinh nên thiền định, tu tập đạo đức, trí tuệ, ý thức thế nào là lỗi, là lợi cho người
khác, loại bỏ lòng tham, phiền não để loại trừ khổ đau, đạt tới trạng thái hạnh phúc nhất
là Niết bàn
Theo đạo Phật, giải thoát hay Niết Bàn không phải là món quà do một lực lượng siêu
nhiên hay đấng tối cao nào đó đem lại cho con người. Vì thế, đức Phật không phải là
người cứu rỗi, phán xét tội lỗi hay ban ơn cho một ai đó. Đức Phật chỉ là một người bình
thường như bao người khác, một chúng sanh “ngộ”. Nếu người nào đó chưa ngộ ra mọi
vấn đề làm cho họ khổ sở, phiền muộn thì họ vẫn đang chìm trong cơn “mê”, chưa giải
thoát được.
Giải thoát cũng có thể được thực hiện chính ngay trên đời này, không cần phải lên núi
hay tịnh xá yên tĩnh để tu mà là chấp nhận và nhìn thẳng vào cuộc đời bằng trí huệ bát
nhã để thông hiểu mọi lẽ và sống an nhiên tự tại. Quá khứ là những việc đã qua, tương lai
thì chưa đến, chỉ có hiện tại là những gì đang hiện hữu cùng với chúng sinh. Họ tu tập,
rèn luyện hướng tới mục đích là Niết Bàn, là biến đổi những gì đang hiện hữu ở hiện tại
trở nên tốt đẹp hơn trong một tương lai rất gần. Bằng sự trui rèn của mình, chúng sanh sẽ
thiết lập được sự cân bằng giữa bên trong và bên ngoài, giữa ý thức tinh thần tâm linh và
thiên nhiên, thế giới xung quanh, chế ngự được lòng tham, tính ích kỉ và tự ngã.
đóng góp cho những người ở vùng thiên tai, nghịch cảnh vượt qua cơn khó khăn đúng
theo tinh thần “Lá lành đùm lá rách”. Có nhiều ngôi chùa đã trở thành nơi quyên góp từ
thiện, gom góp chút công đức từ các chúng sinh cò lòng từ tâm để giúp đỡ những người
có hoàn cảnh khó khăn, cơ nhỡ. Năm 2006, cộng đồng Phật giáo đã đóng góp 200 tỷ
đồng
10
để nhường cơm sẻ áo cho những hoàn cảnh khó khăn, mặc dù ngân sách giáo hội
rất khiêm tốn. Bên cạnh những tín đồ Phật giáo, những người không theo đạo vẫn tự
nguyện chung tay đóng góp vật chất thông qua các chương trình phát động gây quỹ,
chẳng hạn như sau đợt mưa lớn gây lụt ở Hà Nội gần đây, ngày đầu tiên phát động cuộc
vận động ủng hộ quỹ phòng chống thiên tai để chia sẻ khó khăn, UBND TP Hà Nội và ủy
ban Mặt trận Tổ quốc TP Hà Nội đã nhận được gần 10 tỷ đồng từ quần chúng.
3.6 Hướng tới tính Người cao đẹp
Theo quan điểm Phật giáo, có sáu loại chủng: Thiên, Nhân, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ,
Súc sanh, trong đó Nhân (con người) là loài cao quý nhất trong vũ trụ, hơn cả loài Thiên
(Trời). Phật cho rằng ở cõi Thiên sung sướng, chúng sanh khó nhận thức được nỗi khổ,
còn ở các cõi A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh tối tăm, đọa đày, chúng sanh lại quá si
mê, ngu dốt nên không nắm bắt được giáo lý Phật Đà. Chỉ có cõi Nhân, con người cùng
hoàn cảnh sống của mình mới có điều kiện thích ứng để nhận thức được nỗi khổ đau của
cuộc đời và khơi sáng trí huệ. “Không có một hình thức đời sống nào khác ngoài phận
mệnh làm người, không có một thế giới nào khác ngoài trái đất này là tốt hơn cho con
người trong việc thực hiện được định mệnh cao cả của mình, thực hiện trọn vẹn tính
Người (Phật tánh)”
11
10
Nguồn: Lê Thọ, Tính thích nghi của Phật giáo Việt Nam, www.sachhiem.net
11
Nguồn: Nguyễn Thế Đăng, Tính cách nhân bản và thực tiễn của đạo Phật, www.buddhismtoday.com
13
Mỗi con người khi sinh ra luôn tiềm ẩn những điều Chân - Thiện - Mỹ. Khi họ làm những
đời. Dù xuất gia nhưng họ vẫn chăm chỉ học hành, cập nhập kiến thức để theo kịp sự phát
triển tiến bộ khoa học xã hội, gắn việc tu hành với việc đời, và làm thao các chính sách
của Đảng và Nhà nước. Nhiều sư trụ trì kêu gọi lòng hảo tâm dân chúng đóng góp cho
những nạn nhân ở vùng bị thiên tai tàn phá, hay nuôi dưỡng chăm sóc trẻ mồ côi, những
mảnh đời không nơi nương tựa, mở quán cơm chay từ thiện. Các vị sư này đã biết từ bỏ
niềm vui của cá nhân mình để mang lại hạnh phúc cho thế nhân.
Ở một khía cạnh nào đó, tính nhân bản của Phật giáo cũng ảnh hưởng rất sâu rộng đến
cách hành xử của các doanh nghiệp Việt Nam ngày nay. Muốn tồn tại trong môi trường
kinh doanh năng động, các công ty phải cạnh tranh khốc liệt giành lợi thế về phần mình,
và vì vậy sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp khác cùng với nhiều nhân viên làm
việc ở đó. Các công ty Việt nam cũng cạnh tranh, nhưng đó là cạnh tranh lành mạnh,
14
không có tính chất một mất một còn như trong môi trường tư bản chủ nghĩa. Các nhà
kinh doanh bằng cái tâm của mình đã tham gia hoạt động từ thiện, chung tay đóng góp
xây dựng vì một cộng đồng tốt đẹp hơn. Qua đó, tên tuổi của họ cũng được chú ý nhiều
hơn “Ta mang đi cho ta sẽ lại được”
Tính nhân bản của đạo Phật cũng ảnh hưởng sâu sắc đối với người dân bình thường.
Người Việt khi làm việc gì, họ cũng nghĩ trước nghĩ sau, sống có tình có nghĩa để không
làm đau khổ cho người khác và “để phúc cho con cháu”. Nhiều người dù chịu đau khổ do
kẻ phạm tội gây ra vẫn thông cảm ra tòa làm đơn ân xá cho kẻ ấy “Đánh kẻ chạy đi chứ
ai đánh người chạy lại”. Pháp luật vẫn có những điều khoản khoan hồng, bao dung cho
những kẻ lầm đường lạc lối, thành tâm hối cải. Qua lăng kính Phật giáo, nhiều người Việt
cho rằng ý nghĩa của cuộc sống này không phải là mưu cầu lợi danh phú quý mà chính là
trách nhiệm làm người, sống không chỉ cho mình mà còn cho người khác, cho đất nước
như lời ca “Sống trên đời này cần có một tấm lòng” (Trịnh Công Sơn)
3.8 Các ảnh hưởng khác
Nhà bác học Einstein từng tuyên bố: "Nếu trên thế giới này có một tôn giáo để tin tưởng
thì tôn giáo đó chính là Phật giáo”. Vì thế, Phật giáo đã gầy dựng trong tâm hồn của
người Việt một niềm tin rất lớn. Đó là họ tin vào thuyết nhân quả, gây dựng điều nhân
nghĩa để hưởng phúc, còn nếu làm điều xấu xa thì dễ bị báo ứng.
người.
Với tư tưởng nhân bản giải thoát con người khỏi định luật nhân quả và vòng luân hồi,
đức Phật nói riêng và Phật giáo nói chung đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi, bác ái,
đức độ trong tâm thức mọi ngưới. Thông điệp mà khi tại thế đức Phật đã nhắn nhủ với
chúng sinh vẫn còn hiệu nghiệm cho con người hiện đại ngày nay: Giải thoát là công việc
của mỗi cá nhân và chúng sinh chỉ có thể đạt được từ việc tu dưỡng tâm hồn và trau dồi
đức hạnh. Nỗi đau khổ triền miên của chúng sanh không thể được giảm bớt, loại trừ
thông qua việc cầu nguyện, cúng bái, tế lễ và tội lỗi là bản chất vốn có của con người nên
việc rèn luyện, tu tập sẽ giúp con người có cảm giác thanh thản, bình yên trong tâm hồn.
Đó chính là niềm hạnh phúc đích thực của con người .
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lệ Tâm Dịch từ nguyên tác tiếng Anh "Buddhism and Problems of the Modern
Age", của giáo sự tiến sĩ G.P.Malalasekera đăng trong tuyển tập Gems of
Buddhist Wisdom (Những Viên Ngọc Trí Tuệ của Phật Giáo), do CBBEF xuất
bản tại Đài Loan, năm 1997, trang 69-88, Phật giáo và các vấn đề thời đại,
www.buddhismtoday.com
2. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, vi.wikipedia.org
3. Phật giáo, vi.wikipedia.org
4. Về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, viet.vietnamembassy.us
17