MỤC LỤC
Mở đầu
Trang.
Chương I : Phép biện chứng và khái quát lịch sử phép biện chứng
5
1. Khái niệm phép biện chứng và siêu hình
5
2. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
6
3. Khái quát lịch sử hình thành phép biện chứng
6
a. Phép biện chứng cổ đại
6
b. Phép biện chứng duy tâm
7
c. Phép biện chứng duy vật
9
Chương II : Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vât
11
2. Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
a. Cái riêng và cái chung
13
b. Nguyên nhân và kết quả
14
c. Tất nhiên và ngẫu nhiên
16
1. Đặt vấn đề:
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời
gian tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ,
Hy Lạp. Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác
với mọi khoa học cụ thể, nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa
ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Và triết học có hai vấn đề cơ bản.
đó là: + giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, và cái nào quyết
định?
+ Ý thức của chúng ta có phản ánh trung thực thế giới quan hay không?
Và nếu quan hệ giữa vật chất và ý thức, tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản chi
phối đối với bất cứ hệ thống triết học nào thì một vấn đề quan trọng khác mà triết
học quan tâm và muốn làm sáng tỏ là: các sự vật hiện tượng của thế giới xung
quanh tồn tại như thế nào? Chúng hoàn toàn biệt lập với nhau hay phụ thuộc,
ràng buộc lẫn nhau; hoàn toàn ở trong trạng thái tĩnh ngưng đọng, “ nhất thành
bất biến” hay vận động không ngừng? Lịch sử của triết học cho thấy, mặc dù có
nhiều cách trả lời khác nhau về vấn đề này, nhưng suy cho cùng đều quy về hai
quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. Trong đó, qua từng thời
kì phát triển của triết học ta đã thấy được rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng
nghiên cứu những quy luật phổ biên của sự vận động và phát triển của tự nhiên,
của xã hội loài người và của tư duy, nó cung cấp phương pháp luận khoa học cho
con người nhận thức và cải tạo thế giới, vì lợi ích của mình.
Những lý thuyết về phép biện chứng duy vật không chỉ giúp ta nắm vững những
nguyên tắc phương pháp luận của các khoa học triết học, mà còn cung cấp vũ khí
luận sắc bén cho giai cấp vô sản chiến thắng kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. Chính
nhờ vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn trung thành với những nguyên lý, lý luận
của chủ nghĩa Mac-Lenin nói chung và triết học Mac-Lenin nói riêng. để vận
dụng nó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3
+ Phép biện chứng : theo Anghen chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư
duy.
+ Phép siêu hình:theo Arixtôt siêu hình học là học thuyết về những nguyên tắc và
các bản nguyên tối cao , siêu kinh nghiệm của tồn tại , của nhận thức , của văn hóa
và của con người.
2. Sựđối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
a) Phương pháp siêu hình
. Phương pháp siêu hình đãđóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình
nhận thức giới tự nhiên, phương pháp đó thích ứng với trình độ sưu tập, mô tả của
khoa học tự nhiên.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng
ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có ranh giới tuyệt đối.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự biến
đổi thìđó chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm bên
ngoài sự vật.
Phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện
thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.
b) Phương pháp biện chứng
+ Phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau,
ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I
+ Phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm
trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các
sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy làđấu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I
- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trước
công nguyên trên các cơ sở:
Do có nhiều biến chuyển kinh tế và chính trị mà một bộ phận của tầng
lớp chủ nô cóđiều kiện chăm lo xây dựng thế giới quan của mình đểđịnh hướng
cho cuộc đấu tranh.
Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chức lao
động nô lệ.
Do liên hệ mật thiết với các tri thức khoa học, cuộc đấu tranh tôn giáo,
tín ngưỡng.
Do vị trí của Hy Lạp cổđại thuận lợi trong giao lưu kinh tế văn hoá với
các nước phương Đông.
+ Đặc điểm: Ngay từ thời bấy giờ, các nhà duy vật biện chứng cổđại đã thấy
rằng sự vật của thế giới xung quanh ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận
những sợi dây liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau. Nhưng do chưa đạt
đến trình độđi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biện chứng cổ Hy
Lạp chúýđến sự vận động, đến sự quáđộ từ cái này sang cái khác, đến những
mối liên hệ nhiều hơn là chúýđến cái đang vận động, đang quáđộ vàđang liên hệ
với nhau.
+ Đại biểu:
- Hêraclit(520-460 TCN): nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổđại. Khác với
các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải nước, apeirôn, không
khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật. “Mọi cái biến đổi
thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng
hóa thành vàng”. Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên
sinh ra chúng . Luận điểm bất hủ của Hêraclit : “Chúng ta không thể tắm hai
lần trên cùng một dòng sông” . Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng
của cách mạng Pháp. Chúng ta những người Đức cùng thời đại về mặt tư
tưởng nhưng không cùng thời đại về mặt lịch sử.”
-
Triết học cổđiển Đức là thế giới quan vàý thức hệ của giai cấp tư sản Đức
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Triết học cổđiển Đức đặc biệt đề cao vai
trò tích cực của hoạt động con người. Triết học cổđiển Đức có tính lý luận rất
cao. Triết học cổđiển Đức đã cung cấp cho chúng ta phương pháp tư duy biện
chứng,
-
Nhưng bên cạnh đó triết học cổđiển Đức còn duy tâm, do quáđề cao sức mạnh
của trí tuệ, hoạt động của con người.
-
+ Đại biểu:
Cantơ:
+ Nét nổi bật trong triết học của Cantơ làđã trình bày những quan niệm biện
chứng của mình về giới tự nhiên. Triết học Cantơ là triết học nhị nguyên. Một
mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các “ vật tự nó” ở bên ngoài con
người. Nhưng mặt khác thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại chỉ là
“ các hiện tượng”… phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do lý tính tạo ra.
8
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
tưởng của mình trong đó có triết học.
Thay đổi quan niệm về lịch sử, chỉ ra được động lực bên trong của sự phát
triển lịch sử
Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện kinh tế xã hội, nó
còn kế thừa được những yếu tố tích cực của các giai đoạn trước Đặc biệt trong
9
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I
triết học cổđiển Đức những nội dung cách mạng toàn bộ trong phép biện chứng
của Hêghen cùng những tư tưởng duy vật của Pháp đã làm một trong những cơ
sở lý luận cho sự hình thành tư tưởng duy vật biện chứng trong triết học Mác.
Tiền đề khoa học tự nhiên: Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX nhiều phát
-
minh khoa học lớn xuất hiện. Đáng chúý có 3 phát minh
1842 – 1845: ra đời định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng
1859: ra đời thuyết tiến hoá của Đácuyn
Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 19 ra đời học thuyết tế bào.
Kết luận: những điều kiện và tiền đề trên cho thấy sự ra đời của triết học Mác là
-
một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội và phù hợp với
quy luật phát triển của nhận thức nhân loại.
+ Đặc điểm: Sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra sự biến đổi cóý nghĩa cách mạng
trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại và nóđược thể hiện qua các nội dung:
Mác vàĂnghen sáng lập là thành tựu vĩđại nhất của tư tưởng khoa học.
+Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học để tiếp tục phát triển
khoa học và cải tạo thực tiễn . C.Mác đã phê phán phép biện chứng duy tâm của
Heghen một cách sâu sắc. Mác cho rằng sai lầm chủ yếu của Hêghen làở chỗông
quan niệm mâu thuẫn của hiện tượng như sự thống nhất trong bản chất, trong tư
10
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương I
tưởng, trong khi bản chất của mâu thuẫn này tất nhiên là một cái gìđó sâu sắc
hơn , cụ thể là mâu thuẫn bản chất. Mác vàĂnghen đã cải tạo một cách duy vật
phép biện chứng duy tâm của Hêghen .Hai ông không chỉ thoả mãn với việc cải
tạo duy vật phép biện chứng duy tâm màđồng thời cũng tiến hành cải tạo một
cách biện chứng chủ nghiã duy vật siêu hình trước đó . Mác vàĂnghen đã liên
kết đã gắn bó, không tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.
11
Phép duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với đời sống con người
Chương II
Phép biện chứng duy vật đãđược xây dựng và phát triển với tính cách một lí
luận phê phán cách mạng. Với tính cách một lí luận khoa học triệt để, phép biện
chứng duy vật gạt bỏ sự thoả hiệp với hệ tư tưởng của các giai cấp bóc lột.
Lênin: Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác vào quá trình giải quyết
những nhiệm vụ của cách mạng vô sản trong thời cổđại đế quốc chủ nghĩa và
bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lênin đã cóđóng góp to lớn và quan trọng
-
Mỗi một sự vật luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến
đổi tác động tới nó.
-
Mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách quan tất yếu tác động
đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…
-
Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì các
mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò
-
+ ý nghĩa:
Từ những nội dung trên có thể thấy: chỉ có thể nhận thức đúng và giải quyết một
cách có hiệu quả các vấn đề thực tiễn một khi thực hiện nguyên tắc toàn diện và
lịch sử cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi
Nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng cần phải trên nhiều
mặt, nhiều mối liên hệ khách quan của nó, tránh phiến diện, tránh siêu hình
trong giải quyết các vấn đề.
Trong các điều kiện xác định cần đánh giáđược vị trí vài trò khác nhau
của các mặt, các mối quan hệ
Trong giải quyết vấn đề thực tiễn cũng đòi hỏi phải xác định được những
vấn đềở tầm chiến lược và sách lược hoặc cần xác định được những nhiệm vụ
trọng tâm và trọng điểm
b ) Nguyên lý về sự phát triển
triển từ vật chất đơn giản đến phức tạp hơn.
Trên con đường phát triển bao hàm nhiều giai đoạn không loại trừ những bước
-
thụt lùi tạm thời.
Luận điểm về mô hình phát triển: không có một mô hình phát triển tuyệt đối cho
-
mọi lĩnh vực. Trái lại tuỳ theo các điều kiện cụ thể mà tồn tại các mô hình phát
triển đa dạng.
Quy luật phát triển: Có 3 quy luật cơ bản của mọi quá trình phát triển:
-
quy luật về phương thức phát triển .
quy luật về thống nhất vàđấu tranh các mặt đối lập
quy luật phủđịnh của phủđịnh
+ ý nghĩa:
Các nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển.
-
Muốn thực hiện sự phát triển cần phải hướng vào việc tạo sự
biến đổi về chất
của sự vật ở trình độ mới.
Trọng tâm và mấu chốt của sự phát triển phải là tạo ra những biến đổi
-
mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi con người không thể tồn tại ngoài mối
liên hệ với xã hội và tự nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các
quy luật sinh học và quy luật xã hội
Cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng được tách ra khỏi cái riêng vì thế cái
-
chung bao giờ cũng lệch lạc, phiến diện còn cái riêng là cái phong phú, đầy đủ,
toàn bộ. Nhờ những yếu tốđơn nhất, cá biệt đó chúng ta mới phân biệt được sự
khác nhau giữa những sự vật hiện tượng. Tuy vậy cái chung sâu sắc hơn cái riêng
vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệổn định, tất nhiên, lặp
lại ở nhiều cái riêng cùng loại.
Cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện nhất
-
định. Sự chuyển hoá này được thực hiện thông qua mối quan hệ cái cá biệt và cái
phổ biến.
+ ý nghĩa:
-
Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hoá lẫn nhau. Chính vì vậy
trong quá trình phát triển, người ta không chỉ cần nhận biết cái mới mà còn phải
duy trì, bảo vệ, tạo điều kiện đáp ứng cho khả năng tồn tại và phát triển của nó.
-
Vì cái riêng gắn bó với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn tới
-
luôn có trước kết quả, còn kết quả chỉ xuất hiện khi có sự tác động của nguyên
nhân. Vì thế nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh.
-
Một nguyên nhân có thể sản sinh ra nhiều kết quả và nhiều nguyên nhân có thể
chỉ sản sinh ra một kết quả. Ví dụ nguyên nhân của mất mùa có thể do hạn hán,
có thể do lũ lụt, có thể do sâu bệnh… Nếu nhiều nguyên nhân tác động theo
cùng một chiều sẽđẩy nhanh quá trình sản sinh ra kết quả. Nếu nhiều nguyên
nhân tác động ngược chiều nhau sẽ hạn chế quá trình sản sinh ra kết quả.
Cần phân biệt sự khác nhau giữa nguyên nhân với nguyên cớ. Nguyên nhân có
trước kết quả sản sinh ra kết quả. Nguyên cớ có trước kết quả nhưng không sản
sinh ra kết quả
Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn cho nhau. Cùng một sự vật một
hiện tượng khi đặt trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng khi đặt trong quan
hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
Cần phân biệt sự khác nhau của quan hệ nhân quả với vòng tuần hoàn. Liên hệ
nhân quả có quan hệ sản sinh còn vòng tuần hoàn chỉ là sự lặp lại cái cũ sau một
khoảng thời gian vận động biến đổi nào đấy.
+ ý nghĩa
-
Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ cơ bản và quan trọng, thường gắn
liền với
đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng.
vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp
nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định.
Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu
-
vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế
chứ không thể khác được
+ Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người
-
vàđều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới dạng
-
thuần tuý cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý. Cái tất nhiên bao giờ
cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu
nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất
nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau. Tất nhiên và ngẫu nhiên
-
không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cũng với sự thay đổi của sự vật và
trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hoá thành ngẫu nhiên và
ngược lại. Cùng một sự vật hiện tượng khi đặt trong mối quan hệ này là tất nhiên
d ) Nội dung và hình thức
+ Khái niệm nội dung và hình thức
-
Nội dung là phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá
trình tạo nên sự vật và những quá trình biến đổi diễn ra trong sự vật đó.
-
Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ
thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
+ Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
-
Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Nội dung bao giờ cũng có
hình thức thể hiện và hình thức bao giờ cũng chứa đựng một nội dung nhất định.
Không có nội dung và hình thức thuần tuý tách rời nhau. Một nội dung có
thểđược thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và nhiều nội dung có thểđược
thể hiện bằng một hình thức nhất định.
-
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động và
phát triển của sự vật. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nội dung
thường xuyên biến đổi còn hình thức tương đối ổn định. Sự biến đổi của nội dung
đến một trình độ nào đấy sẽ mâu thuẫn với hình thức hiện có. Để giải quyết mâu
thuẫn cần xoá bỏ hình thức cũ, thiết lập hình thức mới để mởđường cho nội dung
tiếp tục phát triển
-
Vì hình thức và nội dung luôn gắn bó chặt chẽ với nhau nên trong nhận thức
cũng như hoạt động thực tiễn cần phải xem xét một cách toàn diện không được
coi thường và tuyệt đối hoá một mặt nào; đồng thời cần vận dụng linh hoạt các
hình thức biểu thị nội dung tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
e ) Bản chất và hiện tượng
+ Khái niệm bản chất và hiện tượng
-
Bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất
nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của
sự vật.
-
Hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
+ Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
-
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Bản chất luôn luôn được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự
biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định. Không có bản chất nào tồn tại thuần
tuý ngoài hiện tượng đồng thời cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn không
biểu hiện bản chất. Sự thống nhất ấy còn được thể hiện ở chỗ: bản chất nào thì
hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộở những hiện tượng khác nhau. Bản
chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến
mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất theo.
-
Hiện thực là phạm trù chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế.
-
Khả năng là phạm trù chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ
xuất hiện, sẽ tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng.
+ Đặc điểm:
-
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách
rời nhau. Hiện thực bao giờ cũng chứa đựng khả năng và khả năng bao giờ cũng
nằm trong hiện thực.
-
Trong những điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới,
đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện.
-
Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả
năng chứ không phải chỉ một khả năng.
-
Khả năng và hiện thực không ngừng chuyển hoá cho nhau. Trong hiện thực có
chứa đựng khả năng. Khả năng đó khi đủđiều kiện sẽ biến thành hiện thực mới.
a ) Quy luật lượng – chất
+ Các khái niệm
Chất: Chất là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời thường cũng như trong triết
học. Chất không chỉ được tạo nên từ các nhân tố cấu thành sự vật mà còn được tạo
nên từ cách sắp xếp nhân tố ấy.
Lượng: mỗi sự vật được tạo nên bởi một số lượng các yếu tố xác định, tồn tại với
một quy mô xác định đồng thời sự vận động và phát triển của nó cũng diễn ra với
những tốc độ, với những chu kỳ nhịp điệu biến đổi nhất định. Tất cả những phương
diện đóđược gọi chung là lượng của sự vật.
Độ: là khoảng giới hạn mà trong đó những biến đổi về lượng chưa dẫn tới những
biến đổi căn bản về chất.
Điểm nút: là giới hạn mà tại đó những biến đổi về lượng trực tiếp dẫn đến những
biến đổi về chất.
Bước nhảy: là quá trình biến đổi về chất tại điểm nút. Trong thực tế có nhiều hình
thức bước nhảy khác nhau.
Bước nhảy cục bộ và bước nhảy toàn bộ:
21
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II
Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt những
yếu tố riêng lẻ của sự vật, là tiền đề cho bước nhảy toàn bộ.
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt các
yếu tố cấu thành sự vật, nó hoàn thiện cho bước nhảy cục bộ.
Bước nhảy lớn và bước nhảy nhỏ:
Bước nhảy lớn là bước nhảy làm thay đổi thuộc tính căn bản của sự vật
Bước nhảy nhỏ là bước nhảy làm thay đổi thuộc tính không cơ bản của sự
vật.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và vai trò đối với con người
Chương II
Trong hoạt động con người còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức bước
nhảy
b ) Quy luật mâu thuẫn
+ Khái niệm:
Mâu thuẫn: được dùng với nhiều nghĩa
Trong logic học, toán học thì mâu thuẫn dùng để chỉ những gì loại trừ
nhau, không hợp lôgíc, không tương đồng trái với tiên đề.
Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ sự thống nhất
của những mặt đối lập ( mối liên hệ của những mặt đối lập )
Mặt đối lập: dùng để chỉ tất cả những gì có tính chất có hướng vận động trái ngược
nhau, khuynh hướng phủđịnh nhau, bài trừ nhau
-
Thống nhất là khái niệm dùng để chỉ sự quy định lẫn nhau, là tiền đề tồn tại của
nhau giữa các mặt đối lập.
-
Đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối
lập. Ví dụđấu tranh giai cấp
+ Nội dung quy luật
-
Mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình trong tự nhiên xã hội cũng như nhận thức,
-
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của sự phát triển do vậy trong công tác thực
tiễn cũng như trong nhận thức khoa học, để thực hiện sự phát triển cần tạo ra được điều
kiện để thực hiện các mâu thuẫn biện chứng.
c ) Quy luật phủđịnh của phủđịnh
+ Khái niệm:
Phủđịnh: Mỗi sự vật trong quá trình vận động và phát triển của nóđều trải qua các
hình thái tồn tại khác nhau và hình thái mới ra đời thì hình thái cũ phải mất đi.
Phủđịnh biện chứng và phủđịnh siêu hình: Trong thực tế khách quan có những
phủđịnh tạo ra tiền đề, điều kiện của sự phát triển. Gọi là phủđịnh biện chứng. Mặt
khác có những phủđịnh dẫn đến chấm dứt sự phát triển của sự vật gọi là phủđịnh
siêu hình.
+Đặc trưng của phủđịnh biện chứng:
Tính khách quan, tính tất yếu, tính tự thân của sự phủđịnh nghĩa là quá
trình phủđịnh biện chứng xuất phát từ nhu cầu khách quan, tất yếu của sự phát
triển.
Tính kế thừa, tính vượt qua, tính lọc bỏ: về cơ bản đó là sự kế thừa nội
dung cũ nhưng vượt qua hình thái tồn tại cũ và do đó tái cấu trúc nội dung cũ
trong một phương thức mới.
Kế thừa là bản chất và nguyên tắc của mọi sự phát triển.
+ Nội dung quy luât:
- Mọi quá trình phát triển chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở trải qua nhiều lần
phủđịnh biện chứng. Đó chính là quá trình phủđịnh của phủđịnh.
- Quá trình phát triển với nhiều lần phủđịnh tạo ra tính chu kỳ lặp lại hình thái cũ
trên cơ sở cao hơn về trình độ. Chính vì vậy có thể nói đó là hình thức xoáy trôn ốc
Quy luật phủđịnh của phủđịnh nêu lên mối liên hệ, sự kế thừa cái khẳng định
và cái phủđịnh, nhờđó phủđịnh biện chứng làđiều kiện cho sự phát triển.
+ ý nghĩa: