Nguồn www.timmachhoc.com
Khuyến cáo lâm sàng năm 2014 về xử trí tăng huyết áp trong
cộng đồng Báo cáo của hội tăng huyết áp mỹ/hội tăng huyết áp
quốc tế (American Society of Hypertension/International Society
of Hypertension - ASH/ISH)
Tác giả: Michael A. Webera, Ernesto L. Schiffrinb, William B. Whitec, Samuel Mann và CS
Lược dịch: BS Nguyễn Thanh Hiền
BS Thượng Thanh Phương
· Hầu hết những bệnh nhân THA có kèm các yếu tố nguy cơ khác như rối loạn lipid máu
(RLLP), bất dung nạp glucose hoặc đái tháo đường (ĐTĐ), tiền sử gia đình bị biến cố tim mạch
sớm, béo phì và hút thuốc lá.
· Sự thành công trong điều trị THA còn hạn chế, mặc dù đã có những tiếp cận tốt về chẩn
đoán và xử trí, nhưng trong vài quốc gia còn khoảng gần ½ bệnh nhân chưa kiểm soát tốt HA.
2. DỊCH TỂ
· Có mối liên quan chặt giữa mức HA và nguy cơ biến cố tim mạch, đột quỵ và bệnh thận.
· Nguy cơ của các kết cục này là thấp nhất tại mức HA khoảng 115/75 mmHg.
· Trên mức 115/75 mmHg, cứ tăng mỗi 20 mmHg HA tâm thu hoặc 10 mmHg HA tâm
trương sẽ tăng gấp đôi biến cố chính về tim mạch và đột quỵ.
· Tần suất cao của THA trong cộng đồng hiện tại là do 2 hiện tượng: tuổi trong cộng đồng
tăng và tần suất béo phì tăng, thường ở các nước đã phát triển. Trong nhiều cộng đồng, tình trạng
ăn nhiều muối vẫn còn là yếu tố chính.
· Nguy cơ chính của các biến cố là do tăng HA tâm thu, thường sau 50-60 tuổi, HA tâm
trương có thể bắt đầu giảm thật sự, nhưng HA tâm thu vẫn tiếp tục tăng. Sự tăng HATT và giảm
HATTr theo tuổi này phản ánh tiến triển về độ cứng của động mạch. Lý do ảnh hưởng theo tuổi
này chưa được hiểu rõ, nhưng HATT cao ở những người lớn tuổi là nguy cơ chính cho các biến
cố về tim mạch, đột quỵ và tiến triển của bệnh thận.
3. TĂNG HUYẾT ÁP ĐƯỢC ĐỊNH NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?
THA nguyên phát:
· Khoảng 95% người trưởng thành có HA cao là THA nguyên phát (thỉnh thoảng còn gọi
là THA vô căn).
· Nguyên nhân THA nguyên phát chưa được biết, mặc dù hiện nay những yếu tố về di
truyền (gen) và môi trường tác động trên điều hòa HA đã được nghiên cứu.
· Yếu tố mội trường bao gồm ăn nhiều muối, béo phì, và lối sống tĩnh tại.
· Vài yếu tố liên quan di truyền có thể bao gồm hoạt tính cao không thích hợp của hệ thống
renin-angiotensin-aldosterone và hệ thống thần kinh giao cảm và tính nhạy cảm với tác động
muối ăn trên HA.
· Những nguyên nhân thường gặp khác của THA là do tăng độ cứng thành ĐM chủ khi
tuổi cao. Nguyên nhân này thường gây THA tâm thu đơn độc, đặc trưng bởi HATT cao
(thường với HATTr bình thường) được thấy chủ yếu ở người già.
THA thứ phát:
· Loại này chỉ chiếm số lượng nhỏ, khoảng 5% trên tổng số THA, trong đó nguyên nhân
của THA có thể được nhận biết và thỉnh thoảng điều trị được.
· Loại chủ yếu của THA thứ phát là bệnh thận mạn, hẹp ĐM thận, tiết aldosterol quá mức,
u tủy thượng thận và hội chứng ngưng thở khi ngủ.
· Một cách tiếp cận tầm soát đơn giản cho THA thứ phát sẽ được đề cập sau.
6. THỰC HIỆN CHẨN ĐOÁN TĂNG HUYẾT ÁP
· HA có thể được đo hoặc bằng máy đo HA qui ước với sử dụng ống nghe hoặc bằng thiết bị
điện tử tự động. Thiết bị điện tử được ưa chuộng hơn nếu sẵn có, vì nó cung cấp những kết quả
mang tính lặp lại hơn phương pháp cũ và không chịu ảnh hưởng bởi thay đổi về kỹ thuật hoặc
những sai lệch do người thực hiện. Nếu phương pháp nghe được sử dụng, tiếng Korotkoff thứ 1
và thứ 5 (xuất hiện và biến mất của âm thanh) sẽ chỉ ra giá trị HATT và HATTr.
· Băng quấn cánh tay được ưa chuộng hơn. Băng quấn cổ tay và ngón tay thường không chính
xác, nói chung không nên sử dụng.
· Điều quan trọng là đảm bảo rằng kích thước băng quấn cánh tay phải thích hợp cho sử dụng
(đặc biệt băng quấn phải rộng hơn cho những BN có cánh tay lớn (chu vi > 32 cm)).
· Tại thời điểm đánh giá ban đầu, HA nên được đo ở cả 2 tay, nếu có sự khác biệt, tay có giá
· Hỏi cẩn thận về những biến cố tim mạch trước đây vì nó thường làm tăng khả năng cho biến
cố tương lai, điều này có thể ảnh hưởng trên chọn lựa thuốc điều trị THA và sẽ cần phải điều trị
tích cực hơn tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch. Hỏi thêm BN có biết THA trước không, đáp
ứng của họ với bất kỳ thuốc nào được sử dụng cần được ghi nhận. Những biến cố quan trọng
trước đây bao gồm:
· Đột quỵ hoặc cơn thoáng thiếu máu não hoặc sa sút trí tuệ (dementia).Tại sao thông tin này
quan trọng? Những BN bị biến cố này trước đây, cần cho những loại thuốc đặc biệt trong chế độ
điều trị VD như: ức chế men chuyển (UCMC), ức chế thụ thể (UCTT), ức chế Ca và lợi tiểu
cũng như thuốc statin và ức chế kết tập tiểu cầu (UCKTTC).
· Bệnh mạch vành bao gồm nhồi máu cơ tim (NMCT), cơn đau thắt ngực ổn định (CĐTNOĐ),
và tái thông mạch vành. Tại sao điều này quan trọng? Vài thuốc được ưa chuộng trong trường
hợp này như ức chế b, UCMC hoặc UCTT, statin và UCKTTC (aspirin).
· Suy tim hoặc những triệu chứng do rối loạn chức năng thất trái (khó thở, phù). Tại sao điều
này quan trọng? Vài thuốc cần dùng cho bệnh nhân này bao gồm UCMC hoặc UCTT, ức chế b,
lợi tiểu, spironolactone. Một vài thuốc cần tránh như ức chế Ca nondihydropyridine (verapamil,
diltiazem) ở BN suy tim tâm thu.
· Bệnh thận mạn. Tại sao điều này quan trọng? Vài thuốc được ưa chuộng bao gồm UCMC
hoặc UCTT (2 thuốc này không được sử dụng kết hợp), statin và lợi tiểu (lợi tiểu quai được sử
dụng nếu eGFR < 30) và mức đích HA cần đạt có thể thấp hơn (130/80 mmHg) nếu kèm tiểu
albumin. Chú ý: những bệnh nhân có bệnh thận tiến triển hơn, việc sử dụng những thuốc này cần
tham khảo chuyên gia về thận.
· Bệnh ĐM ngoại vi. Tại sao điều này quan trọng? những dấu hiệu này đề nghị bệnh ĐM đã
tiến triển, điều này cũng có thể tồn tại ở giường mạch máu não và mạch vành, ngay cả khi chưa
có biểu hiện lâm sàng. Ngưng thuốc lá mang ý nghĩa sống còn cho BN. Trong hầu hết các trường
hợp UCKTTC nên được sử dụng.
· Đái tháo đường. Tại sao điều này quan trọng? Tình trạng này thường đi kèm với THA và
thường đi kèm với tăng nguy cơ biến cố tim mạch. Một vài thuốc như UCMC, UCTT nên được
sử dụng, đặc biệt khi có bằng chứng của tiểu albumin hoặc bệnh thận mạn. Kiểm soát HA tốt,
thường phải phối hợp thêm ức chế Ca và lợi tiểu, là quan trọng ở những BN này.
· Ngưng thở khi ngủ. Tại sao điều này quan trọng? Vài điều trị chuyên biệt thường đòi hỏi
quanh mắt như xanthomas.
· Mạch: rất quan trọng cần kiểm tra mạch ngoại biên, nếu nó giảm hoặc mất, điều này cho
thấy có bệnh ĐM ngoại biên.
9. CẬN LÂM SÀNG
ØXét nghiệm máu
Chú ý là nên lấy máu lúc đói để có thong tin đường huyết lúc đói và dung mạo lipid thu được sẽ
chính xác hơn
· Điện giải. Tại sao điều này quan trọng? Nhấn mạnh đặc biệt trên K
+
: mức độ cao có
thể gợi ý bệnh thận, đặc biệt nếu kèm creatinin tăng. Giá trị thấp gợi ý cường aldosterone.
Thêm vào đó, những BN kèm tiêu chảy nặng là thường gặp trong vài cộng đồng và có thể
gây hạ kali máu và cả những rối loạn điện giải khác.
· Đường huyết đói. Tại sao điều này quan trọng? Nếu tăng, điều này có thể chỉ ra giảm
dung nạp glucose, hoặc nếu cao có thể ĐTĐ. HbA1c nên được đo lường để đánh giá xa
hơn mức tăng glucose và giúp thiết lập chẩn đoán.
· Creatinine huyết thanh và ure máu. Tại sao điều này quan trọng? tăng mức creatinine
thường chỉ ra bệnh thận, creatine còn được sử dụng để tính eGFR.
· Lipid máu. Tại sao điều này quan trọng? tăng LDL-C hoặc HDL-C thấp kèm tăng
nguy cơ tim mạch. LDL-C cao thường có thể điều trị với những thuốc sẵn có, thường là
statin.
· Haemoglobin/haematocrit. Tại sao điều này quan trọng? những đo lường này có thể
thấy những điều vượt qua cả THA và bệnh tim mạch bao gồm thiếu máu hồng cầu hình
liềm trên những quần thể nhạy cảm và tình trạng thiếu máu kèm với bệnh thận mạn.
· Xét nghiệm chức năng gan. Tại sao điều này quan trọng? Vài thuốc THA có ảnh
hưởng chức năng gan, vì thế rất hữu ích cần có giá trị nền trước điều trị. Người béo phì có
thể có những rối loạn gan nhiễm mỡ nên được nhận biết và xem xét trong việc xử trí toàn
bộ BN.
ØXét nghiệm nước tiểu
50 tuổi. HATTr có thể quan trọng ở nhóm tuổi này, vì thế đạt được HATTr < 90 mmHg cần
nên ưu tiên. Thêm vào đó, rất hợp lý để mong chờ cho mức đích HA thấp hơn 140/90 mmHg
(chẳng hạn như < 130/80 mmHg) ở những người trưởng thành trẻ.
IV. Điều quan trọng cần thông tin cho bệnh nhân rằng điều trị THA phải thường lâu dài
và nó có thể gây nguy hiểm cho họ khi ngưng điều trị bằng thuốc hoặc thay đổi lối sống mà
không thảo luận trước với bác sỹ của họ
11. ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC
Vài can thiệp lối sống đã cho thấy làm giảm HA. Bắt nguồn từ những đóng góp trong điều trị THA,
can thiệp lối sống cũng mang lại lợi ích trong xử trí hầu hết những YTNC tim mạch khác. Những
bệnh nhân THA không nặng hơn giai đoạn 1 và không kèm với bằng chứng bất thường về tim mạch
hoặc những YTNC khác, thay đổi lối sống 6-12 tháng có thể thực hiện với hy vọng chúng sẽ có thể
có hiệu quả và không nhất thiết phải dùng thuốc. Tuy nhiên, phải thận trọng để bắt đầu điều trị
thuốc sớm hơn nếu HA rõ ràng không đáp ứng với biện pháp này hoặc có những YTNC khác cùng
hiện diện. Trong thực hành, những BN có khó khăn cho việc theo dõi tái khám đều đặn, có thể khởi
trị bằng thuốc sớm trong hầu hết các trường hợp. Nói chung, thay đổi lối sống nên xem như là 1
biện pháp bổ sung của điều trị thuốc hơn là 1 điều trị thay thế.
I. Giảm cân: ở những BN quá cân hay béo phì, việc giảm cân rất hữu ích cho điều trị
THA, ĐTĐ, và RLLP. Thay thế rau và trái cây tươi cho những thức ăn truyền thống có thể có
lợi vượt ra ngoài chuyện giảm cân. Không may là những thức ăn này tương đối mắc, lại không
thuận tiện cho BN, và chỉ có thể thực hiện được nếu BN được hỗ trợ mạnh. Ngay cả việc giảm
cân vừa phải cũng mang lại lợi ích.
II. Giảm muối: chế độ ăn có hàm lượng muối cao thường gặp trong nhiều cộng đồng.
Giảm muối đưa vào được khuyến cáo vì nó giảm HA và giảm nhu cầu dùng thuốc ở BN nhạy
cảm với muối, thường thấy ở cộng đồng người da đen. Bệnh nhân thường không nhận thức
được rằng đã có một lượng lớn muối trong các thức ăn như bánh mì, đồ hộp, thức ăn nhanh,
dưa chua, súp, và những loại thịt đã qua xử lý. Điều này rất khó khăn để thay đổi, bởi vì thức
ăn nhiều muối thường là 1 phần của bữa ăn truyền thống trong nhiều nền văn hóa. Một vấn đề
có liên quan là nhiều người ăn những thức ăn có hàm lượng kali thấp, và họ cần được hướng
dẫn những nguồn thức ăn giàu kali sẵn có.
chọn thuốc thứ nhất
thay thế thêm vào)
Kết hợp
UC Ca + UCMC hay
UCTT + lợi tiểu
thiazide
BN da trắng hay không
phải da đen khác: tuổi <
60
UCTT hay UCMC
Ức chế Ca hay LT
thiazide
Kết hợp
UC Ca + UCMC hay
UCTT + lợi tiểu
thiazide
BN da trắng hay không
phải da đen khác: tuổi >
60
Ức chế Ca hay LT
thiazide (mặc dù UCMC
hay UCTT cũng thường
hiệu quả)
UCTT hay UCMC (hay
UC Ca hay thiazide, nếu
UCMC hay UCTT đã sử
dụng đầu tiên)
Kết hợp
UC Ca + UCMC hay
UCTT + lợi tiểu
thiazide
Thuốc thứ 2 thay thế
(thiazide hay UC Ca)
THA và bệnh ĐMV lâm
sàng
UC β với UCTT hay
UCMC
UC Ca hay lợi tiểu
thiazide
Thuốc thứ 2 thay thế
(thiazide hay UC Ca)
THA và tiền sử đột quỵ
UCMC hay UCTT
Lợi tiểu thiazide hay
UC Ca
Thuốc thứ 2 thay thế
(UC Ca hay lợi tiểu
thiazide)
THA và suy tim
BN với triệu chứng suy tim nên thường nhận UCTT hay UCMC + UC β+ lợi
tiểu + spironolactone bất chấp HA. UC Ca nhóm Dihydropyridine có thể
thêm vào nếu cần kiểm soát HA
Nguồn www.timmachhoc.com
Điều trị bằng thuốc nên được bắt đầu ở BN có HA > 140/90 mmHg mà điều trị thay đổi lối sống
không hiệu quả. (lưu ý như thảo luận ở trên, trong phần 11 về điều trị không dùng thuốc, chế độ
điều trị dùng thuốc có thể trì hoãn vài tháng ở BN bị THA giai đoạn 1, những người không có bằng
chứng về bất thường tim mạch hoặc những YTNC khác. Trong trường hợp nguồn lực hạn chế, nhà
lâm sàng có thể dãn rộng giai đoạn không dùng thuốc ở những BN bị THA giai đoạn 1 không biến
chứng và không có bằng chứng của 1 HA diễn tiến tăng hoặc xuất hiện những dấu hiệu về bệnh
thận hoặc tim mạch).
o Việc chọn lựa thuốc xa hơn còn tùy thuộc bởi tính sẵn có và điều kiện kinh tế. Trong
nhiều trường hợp, có thể sử dụng bất kỳ những thuốc nào đã được cung cấp bởi chính phủ hoặc
những cơ quan khác. Vì lý do này, chúng tôi chỉ khuyến cáo những nhóm thuốc, chứ không
riêng cho từng thuốc, vì điều này có thể làm hạn hẹp chọn lựa thuốc cho các nhà lâm sàng.
Ngay cả những thuốc generic cũng có sự khác biệt khá lớn về giá cả.
o Những khuyến cáo chọn lựa thuốc được trình bày trong bảng 1 (phần 1) cho những BN
mà vấn đề chủ yếu của họ là THA, và trong bảng 1 (phần 2) là cho những BN có bệnh đi kèm
cùng với THA. Hình 1 trình bày lưu đồ tóm tắt điều trị cho hầu hết BN bị THA. Khuyến cáo
cho những nhóm thuốc chuyên biệt được hình thành với sự nhận biết rằng thỉnh thoảng chỉ sẵn
có những nhóm thuốc thay thế. Tuy nhiên, hầu hết thời gian điều trị, nên sử dụng bất kỳ những
thuốc giúp bảo vệ BN từ đột quỵ và những biến cố nghiêm trọng khác hơn là không cho BN
những thuốc này.
13. BÌNH LUẬN NGẮN VỀ CÁC NHÓM THUỐC
Chú ý: có 1 giả định là tất cả những thuốc trong cùng 1 nhóm tương tự nhau, ngoại trừ những đặc
điểm khác biệt đã được biết. Chúng tôi chỉ đề cập đến những thuốc riêng lẻ nếu chúng có những đặc
tính quan trọng mà không thể chia sẻ với những thuốc khác trong cùng nhóm. Bảng 2 cung cấp
danh sách những thuốc chống THA thường dùng và liều dùng của chúng.
Nguồn www.timmachhoc.com
Bảng 2: Liều các thuốc THA thường dùng
CÁC NHÓM
THUỐC
Liều hằng ngày (mg)
CÁC NHÓM
THUỐC
Liều hằng ngày (mg)
Liều thấp
Liều
thường sử
240-360
240-480
5-10
5-10
5-10(2 lần/
ngày)
30-90
20
Lợi tiểu
Thiazide và LT
giốngthiazide.
Bendroflumethiazide
Chlorthalidone
Hydrochlorothiazide
Indapamide
Lợi tiểu quai
Bumetanide
Furosemide
Torsemide
Lợi tiểi tiết kiệm kali
Amiloride
Eplerenone
Spironolactone
Triamterene
5
12,5
Benazepril
Captopril
Enaplapril
Fosinopril
Lisinopril
PerindoprilQuinapril
Ramipril
Trandolapril
UCTT
Azilsartan
Candesartan
Eprosatan
Irbesartan
Losartan
Olmesartan
Telmisartan
Valsartan
Ức chế renin trực
tiếp
Aliskiren
5
12,5X2 lần
5
10
5
4
5
2,5
1-2
80-320 150-300
Ức chế β
Acebutalol
Atenolol
Bisoprolol
Carvedilol
Labetalol
Metoprolol succinate
Metoprolol tartrate
Nadolol
Nebivolol
Propranolol
200
25
5
3,125X2
lần
25
25X220
2,5
40X2
200-400
100
5-10
Đối kháng α trung
ương
Clonidine
Clonidine patch Methyldopa
Giảm adrenergic
Reserpine
10X2 2,5 0,1X2
TTS-1
125X2
lần 0,1
25-100X2
5-10
· Thuốc này lợi ích về kết cục lâm sàng đã được thiết lập ở BN suy tim, sau NMCT, RL
chức năng thất trái, BN bệnh thận mạn do ĐTĐ hay không ĐTĐ.
· Nói chung, UCMC đơn trị THA hiệu quả ở BN da trắng hơn BN da đen có lẽ vì hệ thống
renin-angiotensin thường ít hoạt động ở bệnh nhân da đen. Tuy nhiên, những thuốc này có
hiệu quả tương tự trong giảm HA ở tất cả các sắc tộc khi kết hợp hoặc với ức chế Ca hoặc với
lợi tiểu.
· Không kết hợp UCMC với UCTT, mặc dù mỗi thuốc có lợi trên BN bệnh thận, nhưng sự
kết hợp này thật sự có thể gây tác dụng phụ trên chức năng thận.
· Khi khởi trị với UCMC, có nguy cơ tụt HA ở những người đã sử dụng lợi tiểu trước đó
hoặc đã có chế độ ăn ít muối, hoặc đã bị mất nước (như người làm việc trong môi trường
nóng, BN bị tiêu chảy). Những BN đang dùng lợi tiểu, ngưng 1 liều trước khi khởi trị UCMC
sẽ giúp ngăn ngừa tác dụng đột ngột này trên HA.
· UCMC không được sử dụng trong thai kỳ, đặc biệt ở tam cá nguyệt thứ 2 vả thứ 3 vì
chúng có thể gây hại trên sự phát triển bình thường của thai nhi.
Ức chế thụ thể angiotensin (UCTT)
· Giống như UCMC, những thuốc này cũng đối kháng hệ thống renin-angiotensin. Chúng
giảm HA bằng cách chẹn hoạt động của angiotensin II trên thụ thể AT1, vì thế ngăn tác dụng
dãn mạch của thụ thể này.
Nguồn www.timmachhoc.com
· UCTT dung nạp tốt. Nó không gây ho, hiếm khi gây phù mạch, có hiệu quả và lợi ích
tương tự như UCMC. Nói chung UCTT ưa dùng hơn UCMC nếu thuốc sẵn có và điều kiện
kinh tế cho phép. Giống UCMC, nó có thể gây tăng creatinine huyết thanh, nhưng thường đây
là thay đổi chức năng có hồi phục và không gây hại.
· Những thuốc này không cho thấy có tác dụng bất lợi phụ thuộc liều, vì thế hoàn toàn hợp
lý khi bắt đầu điều trị với liếu trung bình, thậm chí liều tối đa được chấp thuận.
· Những thuốc này có cùng lợi ích trên kết cục về tim mạch và thận như UCMC.
· Giống như UCMC, chúng tác dụng tốt trên những BN Châu Á và da trắng hơn là trên BN
da đen, nhưng khi kết hợp hoặc với ức chế Ca hoặc với lợi tiểu, chúng trở nên đồng hiệu quả
ở tất cả các nhóm BN.
· Có 2 loại ức chế Ca chính: dihydropyridine như amlodipine và nifedipine; và
nondihydropyridine như diltiazem và verapamil, những thuốc này dãn ĐM ít hơn giảm tần số
và co bóp tim.
· Kinh nghiệm nhất với những thuốc này là với dihydropyridine như amlodipine và
nifedipine. Những thuốc này đã cho thấy hiệu quả có lợi trên kết cục tim mạch và đột quỵ
trong những TNLS về THA.
· Tác dụng phụ chính của ức chế Ca là phù ngoại vi, điều này nổi trội khi dùng liều cao và
dấu hiệu này sẽ giảm khi kết hợp cùng với UCMC hoặc UCTT.
· Ức chế Ca nhóm nondihydropyridine không được khuyến cáo ở BN suy tim, nhưng
amlodipine là an toàn khi cho ở BN suy tim đã được nhận điều trị chuẩn cho tình trạng này
(bao gồm UCMC).
· Bởi vì ức chế Ca nhóm nondihydropyridine như verapamil và diltiazem có thể làm chậm
nhịp, nên chúng thỉnh thoảng chỉ được ưa chuộng ở những BN có nhịp tim nhanh và thậm chí
sử dụng cho việc kiểm soát tần số trên BN rung nhĩ không dung nạp với ức chế b. Thuốc
nondihydropyridine còn có thể làm giảm đạm niệu.
Nguồn www.timmachhoc.com
· Ức chế Ca có tác dụng giảm HA mạnh, đặc biệt khi kết hợp với UCMC hoặc UCTT, và
hiệu quả này tương đương trong tất cả các chủng tộc và sắc dân.
· Ức chế Ca dihydropyridine, nhưng không phải nondihydropyridine, có thể kết hợp an toàn
với ức chế b.
Ức chế b
· Ức chế blàm giảm cung lượng tim và giảm phóng thích renin từ thận.
· Nó có lợi ích mạnh về kết cục lâm sàng ở những BN có tiền sử NMCT, suy tim và nó còn
hiệu quả trong xử trí đau thắt ngực ổn định (ĐTNOĐ)
· Ức chế bít hiệu quả làm giảm HA ở BN da đen hơn BN thuộc sắc tộc khác.
· Ức chế bkhông hiệu quả hơn những nhóm thuốc chính khác trong ngăn ngừa đột quỵ và
biến cố tim mạch ở bệnh nhân THA, nhưng nó là thuốc được chọn lựa ở BN có tiền sử bị
NMCT hoặc suy tim.
· Nhiều thuốc trong nhóm này có tác dụng phụ trên chuyển hóa glucose và vì thế nó không
Dãn mạch trực tiếp
· Bởi vì những thuốc này, đặc biệt hydralazine và minoxidil, thường gây ứ dịch và nhịp
nhanh, chúng hạ áp hiệu quả khi kết hợp với lợi tiểu và ức chế b hoặc những thuốc hủy giao
cảm. Vì lý do này, hiện tại chúng thường chỉ sử dụng là thuốc hàng thứ 4 hoặc hàng sau đó
trong thêm vào chế độ điều trị THA.
· Hydralazine là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong nhóm này. Thuốc tác dụng mạnh là
minoxidil, thỉnh thoảng được sử dụng bởi những chuyên gia trong những BN bị THA khó
kiểm soát. Tích tụ dịch và nhịp nhanh là vấn đề thường gặp với minoxidil cũng như vấn đề
rậm lông (đặc biệt ở phụ nữ). Furosemide thường cần thiết để giải quyết tình trạng ứ dịch này.
Kháng thụ thể mineralocorticoid
Nguồn www.timmachhoc.com
· Biết rõ nhất trong nhóm này là spironolactone. Mặc dù nó được phát triển chủ yếu cho
điều trị tình trạng aldosterone cao, nhưng gần dây nó trở thành 1 phần của điều trị chuẩn trong
suy tim. Eplerenone là thuốc mới hơn, dung nạp tốt hơn, mặc dù kinh nghiệm sử dụng nhiều
nhất lại là với spironolactone trong những trường hợp THA khó kiểm soát.
· Thêm vào đó, ở những BN THA kháng trị,thuốc này rất hiệu quả trong giảm HA khi thêm
vào chế độ điều trị 3 thuốc chuẩn (UCMC hoặc UCTT/ức chế Ca/lợi tiểu). Điều này có thể do
tiết aldosterone quá mức có thể đã góp phần thêm vào THA kháng trị.
· Tác dụng phụ có triệu chứng là nữ hóa tuyến vú (phù và đau vú ở cả 2 nam và nữ) và rối
loạn chức năng tình dục cũng thường gặp. Tác dụng này có thể giảm bằng cách dùng
spironolactone tại liều thấp (không hơn 25 mg mỗi ngày) hoặc sử dụng thuốc chọn lọc hơn
(nhưng lại đắc tiền hơn) là eplerenone. Tăng kali còn có thể là vấn đề với những thuốc này,
đặc biệt khi cho cùng với UCMC hoặc UCTT ở BN có suy giảm chức năng thận. Những
thuốc này nên sử dụng thận trọng khi GFR ước đoán < 50. Việc kết hợp thuốc ức chế thụ thể
mineralocorticoid với UCMC hoặc UCTT, nồng độ Kali phải được theo dõi sát trong tháng
đầu và đều đặn mỗi 3-6 tháng sau đó.
14. ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP KHÁNG TRỊ
· THA có thể được kiểm soát (HA < 140/90 mmHg trong hầu hết BN) bởi sử dụng hoặc 1,2
· Các nguyên nhân thứ phát khác của THA như hẹp ĐM thận hoặc hẹp eo ĐM chủ thường
đòi hỏi sự đánh giá bởi 1 chuyên gia.
(Nguồn: Journal of Hypertension 2014, 32:3–15)