1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu cao nhất của ngành Giáo Dục. Đặc biệt
trong những năm gần đây Nhà Nước đang thực hiện “Đề án đổi mới giáo dục đại học
Việt Nam giai đoạn 2006- 2020”. Trong xu thế toàn cầu hoá thì chất lượng giáo dục
ngày càng trở nên cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của từng trường đại học. Vì vậy,
cải tiến chất lượng đào tạo là một quá trình cần được thực hiện liên tục, những ý kiến
nhìn nhận về chất lượng đào tạo từ phía sinh viên - những người đang trực tiếp hưởng
thụ quá trình đào tạo của trường là một thành phần đóng góp không thể thiếu trong việc
thực hiện cải tiến chất lượng đào tạo của trường.
Hiện nay chất lượng đào tạo của Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp được thể
hiện qua những cố gắng cải thiện không ngừng trong các khía cạnh sau:
- Về chất lượng đào tạo: Ngày càng gắn kết giữa lý thuyết và thực hành, lý
thuyết và thực hành có mối tương quan hợp lý. Sự phù hợp với nhu cầu ngày càng cao
của xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu của chất lượng đào tạo.
- Về chất lượng giảng viên: Bao gồm các giảng viên cơ hữu của trường và các
giảng viên thỉnh giảng với nhiều cải tiến trong quá trình truyền đạt, nâng cao năng lực
học tập theo hướng phát triển tư duy cho sinh viên.
- Về cơ sở vật chất: Đa dạng và có bổ sung đầy đủ với các thiết bị giảng dạy
phù hợp, đảm bảo điều kiện môi trường học tập tốt nhất cho sinh viên.
- Về chất lượng phục vụ: Từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức học tập, thực
tập và nghiên cứu trong sinh viên, hoàn thành tốt việc tổ chức các hoạt động ngoại
khoá, giải trí trong sinh viên.
Tuy có những cố gắng không ngừng, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần
cải thiện và xây dựng thêm. Đây cũng chính là lý do Nhóm 8 thực hiện đề tài nghiên
cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ đào tạo tại trường ĐH KTCN
Thái Nguyên”
4
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung
Xác định tỉ lệ hài lòng của sinh viên Trường ĐH KTCN Thái Nguyên về chất
lượng đào tạo và các yếu tố liên quan năm 2010
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu cao nhất của ngành Giáo Dục. Đặc biệt
trong những năm gần đây Nhà Nước đang thực hiện “Đề án đổi mới giáo dục đại học
Việt Nam giai đoạn 2006- 2020”. Trong xu thế toàn cầu hoá thì chất lượng giáo dục
ngày càng trở nên cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của từng trường đại học. Vì vậy,
cải tiến chất lượng đào tạo là một quá trình cần được thực hiện liên tục, những ý kiến
nhìn nhận về chất lượng đào tạo từ phía sinh viên - những người đang trực tiếp hưởng
thụ quá trình đào tạo của trường là một thành phần đóng góp không thể thiếu trong việc
thực hiện cải tiến chất lượng đào tạo của trường.
Hiện nay chất lượng đào tạo của Trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp được thể
hiện qua những cố gắng cải thiện không ngừng trong các khía cạnh sau:
- Về chất lượng đào tạo: Ngày càng gắn kết giữa lý thuyết và thực hành, lý
thuyết và thực hành có mối tương quan hợp lý. Sự phù hợp với nhu cầu ngày càng cao
của xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu của chất lượng đào tạo.
- Về chất lượng giảng viên: Bao gồm các giảng viên cơ hữu của trường và các
giảng viên thỉnh giảng với nhiều cải tiến trong quá trình truyền đạt, nâng cao năng lực
học tập theo hướng phát triển tư duy cho sinh viên.
- Về cơ sở vật chất: Đa dạng và có bổ sung đầy đủ với các thiết bị giảng dạy
phù hợp, đảm bảo điều kiện môi trường học tập tốt nhất cho sinh viên.
- Về chất lượng phục vụ: Từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức học tập, thực
tập và nghiên cứu trong sinh viên, hoàn thành tốt việc tổ chức các hoạt động ngoại
khoá, giải trí trong sinh viên.
Tuy có những cố gắng không ngừng, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần
cải thiện và xây dựng thêm. Đây cũng chính là lý do Nhóm 8 thực hiện đề tài nghiên
cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ đào tạo tại trường ĐH KTCN
Thái Nguyên”
7
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung
Xác định tỉ lệ hài lòng của sinh viên Trường ĐH KTCN Thái Nguyên về chất
riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân
cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn.
Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo.
Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi
khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.
Đối với SV nước ta có một số đặc điểm tương đồng dưới đây.
Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa
chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm
làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công
việc đem lại thu nhập cao, v. v Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy
nghĩ rất rõ.
Tính năng động: Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm, hình thành tư duy kinh tế
trong thế hệ mới , nhiều SV cùng một lúc học hai trường….
Tính cụ thể của lý tưởng: Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những
mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối
quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm.
Tính cá nhân: Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân.
Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác
nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau.
9
Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế.
Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có
những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.
1.2 Lý thuyết về nhu cầu, sự mong đợi của khách hàng
1.2.1 Lý thuyết về nhu cầu
Thuyết nhu cầu của A. Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng
các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung. Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay
thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều “ứng cử viên" có ý định thay thế.
Theo thuyết A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các
cho tôi là gì?)
• Mong đợi (thực hiện công việc) = niềm tin của nhân viên rằng nếu nỗ lực làm
việc thì nhiệm vụ sẽ được hoàn thành (Tôi phải làm việc khó khăn, vất vả như thế nào
để đạt mục tiêu?)
• Phương tiện (niềm tin) = niềm tin của nhân viên rằng họ sẽ nhận được đền đáp khi
hoàn thành nhiệm vụ (Liệu người ta có biết đến và đánh giá những nỗ lực của tôi?)
Thành quả của ba yếu tố này là sự động viên. Đây chính là nguồn sức mạnh mà
nhà lãnh đạo có thể sử dụng để chèo lái tập thể hoàn thành mục tiêu đã đề ra. Khi một
nhân viên muốn thăng tiến trong công việc thì việc thăng chức có hấp lực cao đối với
nhân viên đó. Nếu một nhân viên tin rằng khi mình làm việc tốt, đúng tiến độ sẽ được
mọi người đánh giá cao, nghĩa là nhân viên này có mức mong đợi cao.
1.3 Đặc điểm chất lượng dịch vụ đào tạo
1.3.1 Khái niệm về sản phầm của dịch vụ đào tạo
Dịch vụ đào tạo là một dạng của dịch vụ, đó là kết qủa của quá trình đào tạo
nhằm đáp ứng nhu cầu của người học và mang lại lợi ích cho xã hội.
Đối với người học thì dịch vụ đào tạo chính là những kinh nghiệm, kỹ năng, kiến
thức, phương pháp, mà các cơ sở đào tạo cung cấp cho người học hay đó là những nhận
thức, những kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức, phương pháp mà người học tiếp thu được
trong quá trình đào tạo. Người học lại sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp
đã học và tích lũy được để phục vụ cho mục đích của chính mình.
1.3.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ đào tạo
11
Chất lượng luôn là một vấn đề quan trọng nhất của tất cả các trường đại học, và
việc phần đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan
trọng nhất của bất kỳ cơ sở đại học nào. Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng
chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách
hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia.
Chất lượng có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận
xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó
là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề.
d) Chất lượng được đánh giá bằng “ Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu
dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật và đội ngũ cán bộ giảng
dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhân chất lượng đào tạo đại
học. Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ, có uy tín
khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao.
Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được
đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh
của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong một trường
không thuần học thuật. Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội
ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu,
phương pháp luận ngày càng đa dạng.
e) Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được “Văn
hóa tổ chức riêng” hỗ trợ quá trình liên tục cải tiến chát lượng. Vì vậy một trường
được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hóa tổ chức riêng” với nét đặc
trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Quan điểm này bao
hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức. Quan điểm
này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong
lĩnh vực giáo dục đại học.
f) Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
13
Quan điểm này về chất lượng giáo dục đại học xem trọng quá trình bên trong
trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định. Nếu kiểm toán tài
chình xem xét các tổ chức có lượng quan tâm xem các trường đại học có thu nhập đủ
thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không,
quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không. Quan
điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các
quyết định chính xác, và chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua quá trình
thực hiện, còn “đầu vào” và “đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ.
trường là hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để cho cán bộ giáo chức, sinh viên chứ không
phải chi là lãnh đạo kiểm tra họ. Trong quản lí chất lượng tổng thể mô hình cấp bậc
trong hệ thống tổ chức quả lý chất lượng phải là mô hình đảo ngược.
1.3.4 Các quy luật dịch vụ
a) Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn
Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các
thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó.
Trong giáo dục đại học, cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đại học
muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh
vực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường mình và phấn đấu theo
tiêu chuẩn đó.
Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn này được
xây dựng trên cơ sở nào. Hơn nữa, tuận ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm về một hình
mẫu tĩnh tại nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì không phải
xem xét lại chúng nữa. Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục đại học
với nghĩa là những thành tựu của sinh viên khi tốt nghiệp được xem là chất lượng
trong giáo dục đại học, tức là đầu ra của giáo dục đại học với ý nghĩa là trình độ, kiến
thức, kĩ năng đạt đượcc ủa sinh viên sau 4 – 5 năm học tập tại trường.
b) Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Chất lượng không có ý nghĩa gì nếu không gắn với mục đích của sản phẩm hay
dịch vụ đó. Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp dứng
được mục đích đã tuyên bố của nó.
15
Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí mà
một sản phẩm hay dịch vụ cần có. Đó là một khái niệm động, phát triển theo thời
gian, tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế xã hội của đất nước và tùy thuộc vào đặc
thù của từng trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng giáo dục đại học ở các
cấp độ khác nhau.
c) Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt được mục đích của trường đại học
Một trường đại học có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng của
đạt hiệu quả.
1.4.2. Đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn cao, có năng lực và nghiệp vụ sư phạm đại
học giỏi là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng đào tạo.
a) Tỉ lệ sinh viên trên cán bộ giảng dạy
Tỉ lệ sinh viên trên cán bộ giảng dạy là tiêu chí đảm bảo hiệu quả và hiệu suất
đào tạo. Tỉ lệ cao sẽ giảm chất lượng, tỉ lệ thấp quá sẽ giảm hiệu suất.
b) Tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học hàm, học vị
Tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học hàm, học vị là tiêu chí đảm bảo về chuyên môn
và nghiệp vụ trong giáo dục đại học
c) Quy định về chức trách chung của cán bộ giảng dạy
Quy định nhiệm vụ, chức trách rõ ràng, chi tiết cho cán bộ giảng dạy là một
giải pháp quản lý nguồn nhân lực có hiệu quả là một tiêu chí để đảm bảo chất lượng
giảng dạy cho cán bộ.
d) Tỉ lệ cán bộ giảng dạy trên tổng số cán bộ
Tỉ lệ cán bộ giảng dạy trên tổng số cán bộ của trường phản ánh tổ chức của bộ
máy nhà trường. Tỉ số này cao hay thấp tùy thuộc vào việc áp dụng các công nghệ
mới trong đào tạo cũng như quản lý.
e) Quy trình đánh giá cán bộ và cán bộ giảng dạy
Đánh giá cán bộ thường xuyên là một giải pháp quản lý nguồn nhân lực hiệu
quả vì kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh đội ngũ cán bộ đáp ứng sự phát triên
của nhà trường tỏng quá trình thực hiện sứ mạng của mình.
17
f) Nâng cao và cập nhật kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ
Bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn – nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và
năng lực của đội ngũ cán bộ của trường. Đây là tiêu chí để thực hiện nghị quyết Trung
ương II khó VIII về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
1.4.3. Đội ngũ sinh viên
a) Chất lượng sinh viên
Chất lượng sinh viên tuyển vào là một trong các yếu tố quyết định chất lượng
Tiêu chí về các công trình xuất bản là thước đo hoạt động sáng tạo và cũng là
tiêu chí thể hiện chất lượng cảu đội ngũ cán bộ của trường.
c) Hoạt động khoa học phục vụ xã hội
Trong các hoạt động khoa học, hoạt động khoa học phục vụ xã hội là khâu triển
khai các kết quả nghiên cứu, kết quả sáng tạo của đội ngũ giáo viên. Tiêu chí của các
hoạt động này phản ánh chất lượng nghiên cứu và chất lượng giáo viên.
1.4.6. Cơ sở vật chất
a) Hệ thống hạ tầng cơ sở
Hạ tầng cơ sở bao gồm giảng đường, lớp học, phòng thí nghiệm, khu vực thực
tập, diện tích sàn và trang thiết bị cho các hoạt động thực hành thực nghiệm, nghiên
cứ và văn hóa thể thao co cán bộ và sinh viên.
b) Hệ thống thư viện
Hệ thống thư viện tốt, đảm bảo cho cán bộ và sinh viên tra cứu nhanh chóng,
cập nhật các tư liệu cho học tập và nghiên cứu là yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo
và nghên cứu khoa học.
1.4.7. Tài chính
Kinh phí hàng năm từ ngân sách và các nguồn thu khác là tiêu chí điều kiện
tiên quyết đảm bảo các hoạt động đào tạo có chất lượng và hoạt động chuyển giao
công nghệ phục vụ xã hội của trường học.
19
1.4.8. Những lĩnh vực khác
Các hoạt động quan hệ quốc tế và hỗ trợ phục vụ giáo viên và sinh viên là
những mảng hoạt động góp phần đảm bảo chất lượng và phát triển đào tạo. Trong bối
cảnh toàn cầu hóa không chỉ các hoạt động kinh tế thuần thúy mà cả các nguồn lực
để phát triển kinh tế đặc biệt là khi bước vào nền kinh tế tri thức thì các hoạt động kể
trên đối với giáo dục đại học là hết sức quan trọng.
20
Chương II
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ ĐÀO
TẠO TẠI TRƯỜNG ĐH KTCN THÁI NGUYÊN
thuật cơ khí, điện tử viễn thông, quản lý công nghiệp, kỹ thuật xây dựng công trình, kỹ
thuật môi trường… Về sau đại học, trường đang đào tạo 5 chuyên ngành thạc sỹ và 3
chuyên ngành tiến sỹ
Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp không chỉ là trung tâm đào tạo cán bộ
khoa học kỹ thuật mà còn là một trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ở
phía Bắc của đất nước. Viện nghiên cứu và phát triển công nghệ cao về kỹ thuật công
nghiệp đã được thành lập vào đầu năm 2009. Kể từ ngày thành lập, Nhà trường đã
thực hiện hơn 400 đề tài cấp bộ, cấp nhà nước, thực hiện hàng ngàn hợp đồng chuyển
giao công nghệ với giá trị hàng trăm tỷ đồng.
Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp có đội ngũ cán bộ viên chức là 534
người trong đó có 363 cán bộ giảng dạy với trên 70% có trình độ sau đại học (Thạc
sỹ, Tiến sỹ) công tác trong 8 phòng chức năng, 6 khoa, 2 trung tâm và một công ty
trách nhiệm hữu hạn. Quy mô đào tạo của Nhà trường hiện tại là hơn 10.000 sinh viên
22
chính quy và hơn 7.000 sinh viên hệ vừa làm vừa học. Trong những năm gần đây,
Nhà trường đã đón hàng trăm lưu học sinh Trung Quốc và hơn 30 du học sinh Lào, 15
du học sinh Campuchia đến trường học tập. Sau gần 45 năm xây dựng và trưởng
thành, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp đã đào tạo cho đất nước, đặc biệt là các
tỉnh miền núi phía Bắc trên 25.000 kỹ sư và cử nhân, hơn 5.000 kỹ thuật viên trung
học và hàng trăm thạc sỹ kỹ thuật.
Năm 2005, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp là 1 trong 12 số trường Đại
học trong cả nước tham gia kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Đến năm 2009,
trường đã được Nhà nước công nhận là trường đạt các tiêu chuẩn kiểm định giáo dục
đại học quốc gia.
Kể từ năm học 2006 – 2007, trường đã triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ
cho 2 khóa đào tạo hệ đại học chính quy đầu tiên (K41, K42). Đến nay, trường đã
hoàn thành triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho tất cả 5 khóa đào tạo chính quy
trong nhà trường và đang triển khai đào tạo theo tín chỉ cho hệ vừa làm vừa học.
Chương trình đạo tạo đại học của trường kể từ K43 là các chương trình đào tạo có
khối lượng 150 tín chỉ mang tính liên thông dọc và ngang rất cao. Đào tạo theo hệ
Kỹ thuật Điện: Tự động hóa Xí nghiệp Công nghiệp; Hệ thống điện; Thiết
bị điện
Kỹ thuật điện tử: Kỹ thuật điện tử; Kỹ thuật điều khiển; Điện tử-Viễn thông;
Kỹ thuật máy tính
Kỹ thuật Xây dựng công trình
Kỹ thuật môi trường
Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp
Quản lý công nghiệp, Quản lý công thương, Kế toán doanh nghiệp công
nghiệp……….
+ Đào tạo sau đại học
Trường đang đào tạo 5 chuyên ngành thạc sỹ:
- Công nghệ chế tạo máy; tự động hóa;
- Thiết bị, mạng và nhà máy điện;
- Cơ học kỹ thuật;
24
- Kỹ thuật điện tử
3 chuyên ngành tiến sỹ:
- Công nghệ chế tạo máy,
- Tự động hóa,
- Kỹ thuật máy công cụ.
+ Đào tạo
- Hệ vừa học vừa làm
- Hệ liên thông từ Cao đẳng lên Đại học.
+ Đào tạo liên kết quốc tế
- Liên kết đào tạo với Đại học Sơn Đông Trung Quốc
- Nhập khẩu chương trình tiên tiến của Mỹ
- Tham gia chương trình trao đổi sinh viên với các nước Trung Quốc,
Campuchia, Lào.
2.1.1.4. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo tại Trường ĐH KTCN
Với khuôn viên trên 50 hec-ta có đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông
2.2.2.1. Đánh giá chung về mức độ hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ đào
tạo của trường Đại học kỹ thuật công nghiệp
Điểm đánh giá trung bình: 3,17 (theo Bảng 1- Phụ lục 2). Tức là sinh viên khá
hài lòng với các dịch vụ đào tạo mà nhà trường đã cung cấp.
Tần suất cụ thể các đánh giá của sinh viên như sau:
Các đánh giá Tần suất %
Không hài lòng 2 4.0
Bình thường 18 36.0
Hài lòng 23 46.0
Rất hài lòng 7 14.0
Total 50 100.0
Nhìn vào bảng trên ta thấy với 50 mẫu nghiên cứu, có 30/50 mẫu hài lòng với
các dịch vụ đào tạo của trường và 2/50 mẫu là chưa hài lòng với các dịch vụ đào tạo
26
của nhà trường. Như vậy, qua đánh giá chung của các mẫu được điều tra thì các dịch vụ
đào tạo của nhà trường là tương đối tốt và phù hợp với nhu cầu học tập của họ, chỉ có
một số ít mẫu là thực sự không hài lòng có thế là do một số các yếu tố chủ quan hoặc
khách quan mang lại, chúng ta sẽ tiếp tục phân tích ở các phần sau.
2.2.2.2. Phân tích mức độ hài lòng của sinh viên theo các yếu tố ảnh hưởng
* Số năm theo học tại trường
Lúc đầu nhóm nghiên cứu dự đoán Sinh viên ở các năm học khác nhau sẽ có khả
năng đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo ở các khác nhau do càng về những năm học
cuối, sinh viên sẽ càng tiếp xúc nhiều với các môn chuyên ngành, hiểu và quen với
các dịch vụ thông thường của trường. Tuy nhiên do số lượng mẫu nghiên cứu nhỏ và
biến này lại là biến khá nhạy cảm do phụ thuộc nhiều vào tính cách cá nhân của mỗi
sinh viên nên trong kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu chúng tôi chưa đưa ra
được xu hướng rõ ràng cho biến ảnh hưởng này.
27
Bảng 2: Mức độ hài lòng của sinh viên theo biến ảnh hưởng
Sinh viên năm thứ
Khoa QLCN & MT 0 5 3 2 10
Khoa sư phạm kỹ thuật 1 6 3 0 10
Total 2 18 23 7 50
Nhận xét: Theo bảng trên ta thấy rằng ở các khoa có lịch sử lâu đời và uy tín về
đào tạo như: Khoa Cơ khí, khoa Điện thì mức độ hài lòng của sinh viên là khá cao
9/10 sinh viên khoa Cơ khí, 7/10 sinh viên khoa Điện hài lòng với những dịch vụ đào
tạo mà nhà trường đã cung cấp. Còn ở những khoa mới được thành lập những năm
gần đây như khoa Điện tử, khoa QLCN và MT, khoa Sư phạm kỹ thuật, do một số
hạn chế như chương trình đào tạo mới được xây dựng chưa được kiểm định qua các
28