Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ hội giao thương để trao đổi công nghệ và hàng hoá giữa các quốc gia trên thế
giới ngày càng phát triển .Hiện nay Việt nam cũng là một trong các nước thực hiện
việc giao thương đó. Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO , nền kinh
tế Việt nam đã có nhiều chuyển biến và là nơi có môi trường kinh doanh hấp dẫn
trong khu vực cũng như trên thế giới. Trên cơ sở đó hệ thống pháp luật Việt nam
cũng phải điều chỉnh lại để phù hợp với luật pháp quốc tế, từ đó giúp các doanh
nghiệp hoà nhập nền kinh tế toàn cầu một cách tốt nhất. Tuy nhiên ở Việt nam hiện
nay chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn thiếu sự liên kết trong sản
xuất, kinh doanh và hạn chế về hiểu biết pháp luật do đó đã đem lại không ít rủi ro
cho cho các doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp cần chuẩn bị chu đáo để hạn
chế rủi ro một cách tốt nhất. Có thể nói chế độ về hợp đồng là một vấn đề rất quan
trọng trong kinh doanh, chuẩn bị một hợp đồng tốt là điều kiện quan trọng để doanh
nghiệp tiến tới thành công. Hiện nay khi mà công nghệ thông tin phát triển như vũ
bão mang lại nhiều lợi ích và có những tính năng to lớn trong việc trợ giúp con
người , đồng thời nó cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá một đất nước là
phát triển hay không. Công nghệ thông tin đã xâm nhập vào tất cả các mặt của đời
sống xã hội và tạo ra nhiều thay đổi rõ rệt ,các doanh nghiệp coi việc áp dụng hệ
thống công nghệ thông tin hiện đại trong sản xuất kinh doanh mang ý nghĩa sống
còn và như vậy nhu cầu áp dụng phần mềm trong quản lý kinh tế rất to lớn. Đây là
điều rất tốt cho các doanh nghiệp cung cấp phần mềm, và như vậy chế độ hợp đồng
dịch vụ cung cấp phần mềm trong lĩnh vực này là điều rất quan trọng để các doanh
nghiệp chiếm được thị trường và hạn chế rủi ro. Tuy nhiên việc hiểu biết pháp luật
của các doanh nghiệp Việt nam về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế.
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trước thực trạng này cùng với sự giúp đỡ của cơ sở thực tập,tôi đã chọn đề tài: “
Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm và Thực tiễn tại công ty
TNHH tư vấn CN&TM HÀ BẢO”
nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Dù các quốc gia có định
hướng thế nào chăng nữa thì trong nền kinh tế thị trường các quy luật kinh tế của
sản xuất và lưu thông hàng hoá đều được phản ánh và tác động một cách khách quan
thông qua cơ chế thị trường. Đây là một đặc trưng rất lớn so với nền kinh tế quan
liêu bao cấp. Cơ chế thị trường chính là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó
ngưòi sản xuất và ngưòi tiêu dùng chịu sự tác động chi phối lẫn nhau thông qua thị
trường .Thị trường là nơi gặp gỡ của người mua và người bán, của người sản xuất và
người tiêu dùng . Trong nền kinh tế thị trường , người sản xuất không chỉ sản xuất
cái gì mình có thể mà phải sản xuất cái mà thị trường cần.Cơ chế thị trường hoạt
động theo các quy luật của nền kinh tế hàng hoá . Đó là các quy luật giá trị, quy luật
cung cầu , quy luật cạnh tranh …
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường đã thấy được tác dụng to lớn của
nó trong phát triển kinh tế đất nước.Trước đây nền kinh tế nước ta còn mang nặng
tính tự cung tự cấp ,vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự
nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá , thúc đẩy xã hội hoá sản xuất ,từ đó tạo
ra động lực cho lực lượng sản xuất phát triển,nâng cao năng suất lao động.
Trong nền kinh tế hàng hoá người sản xuất phải căn cứ vào người tiêu dùng ,của
thị trường để quyết định sản xuất sản phẩm gì, khối lượng là bao nhiêu, chất lượng
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như thế nào. Do đó kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động và sáng tạo của chủ
thể kinh tế , kích thích việc nâng cao chất lượng ,cải tiến mẫu mã ,cũng như tăng
khối lượng hàng hoá và dịch vụ…Trong nền kinh tế thị trường thì hàng hoá được
trao đổi tự do giữa người mua và người bán.Người bán bao giờ cũng muốn bán với
giá cao, còn người mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp, do đó cần có sự thống
nhất ý chí ,có sự thoả thuận giữa hai bên thông qua hợp đồng.và như vậy hợp đồng
là sự thoả thuận giữa hai bên, là sự thống nhất ý chí để từ đó xác lập quyền và nghĩa
vụ thực hiện.
Như vậy phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế của đất nước ta.
các quy luật kinh tế thì phải sản xuất cái mà xã hội cần chứ không phải sản xuất cái
mà chúng ta có.Và như vậy hợp đồng là cầu lối để sản phẩm của doanh nghiệp đến
được tay người tiêu dùng , nó là chúng cứ để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên
khi tham gia vào quan hệ hợp đồng .Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ
thống các quan hệ hợp động nên thiếu hợp đồng thì nền kinh tế không thể vận hành
được.
Khi nhà nước coi hợp đồng là căn cứ để đảm bảo lợi ích chính đáng của hai bên
thì hợp đồng phải phải được ký kết hợp đúng pháp luật của Nhà nước. Khi các bên
cam kết với nhau thì họ bị ràng buộc lẫn nhau. Khi có tranh chấp xảy ra thì hợp
đồng là căn cứ để giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả. Và như vậy các doanh
nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật trước khi ký kết hợp đồng để tránh
được rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
2. Hợp đồng nhìn từ góc độ doanh nghiệp
Hiện nay khi sản xuất hàng hoá phát triển, các doanh nghiệp hoạt động ngày
càng mạnh mẽ và tất nhiên tranh chấp trong hoạt động kinh doanh cũng thường
xuyên xảy ra. Các sản phẩm và dịch vụ của các công ty được trao đổi với nhau để
cung cấp đến tận tay người tiêu dùng và như vậy sẽ phát sinh hợp đồng trong hoạt
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động kinh doanh. Các doanh nghiệp đã hiểu rõ hợp đồng là căn cứ để xác định
quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình cung cấp sản phẩm cũng nhu dịch vụ
cho nhau.là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của chính các chủ thể kinh
doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình phù hợp với nhu cầu thị
trường. Kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thể thực hiện được nếu người sản xuất
mua được nguyên vật liệu và ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ
của mình. Như vậy hợp đồng liệt kê tất cả các nhu cầu của hai bên để đáp ứng cho
nhau trong quá trình kinh doanh , từ đó nhà kinh doanh thấy được các yêu cầu một
cách cụ thể nhất về tất cả các mặt của sản phẩm và dịch vụ của khách hàng như số
lượng, chất lượng, chủng loại…Do đó xét trên góc độ doanh nghiệp là những người
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các nội dung khác
Theo pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì nội dung thực hiện các công việc sản
xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và
các thoả thuận khác do các chủ thể tiến hành trong một , hoặc một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời.
Chủ thể :
Theo Luật thương mại 2005 chủ thể trong hợp đồng kinh doanh thương mại là
thương nhân hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật (điều 2 khoản 1)
Tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại (điều 2 khoản 2)
Các chủ thể này giao kết theo các nguyên tắc :tự do giao kết hợp đồng nhưng không
được trái pháp luật và đạo đức xã hội, tự nguyện, bình đẳng thiện chí hợp tác trung
thực và ngay thẳng. ngoài ra còn phù hợp với các thông lệ quốc tế khi có hoạt động
xuất nhập khẩu…
Hình thức:
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sự thoả thuận giao kết hợp đồng giữa các bên phải được thực hiện dưói hình
thức bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký xác nhận của
các bên xác nhận nội dung trao đổi nhu: công văn, đơn đặt hàng, fax..Ký kết hợp
đồng bằng văn bản là một quy định bắt buộc các chủ thể trong hợp đồng kinh tế
phải tuân theo. Hợp đồng là cơ sở pháp lý trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của
các bên, đồng thời là căn cứ pháp lý giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra.
1.3 Phân loại hợp đồng kinh doanh thương mại
- Hợp đồng mua bán hàng hoá
- hợp đồng dịch vụ
- hợp đồng giao nhận thầu xây dựng
- hợp đồng vận chuyển hàng hoá
một tất yếu và trong quá trình hội nhập hiện nay thì đổi mới tư duy và quản lý trong
hoạt động quản lý nhà nước là một thành công và là điều kiện thu hút nguồn vốn
đầu tư trong nước cũng như trên thế giới.
3. Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm
3.1 Quy định về ký kết hợp đồng
Các văn bản liên quan đến hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm:
Bộ luật dân sự 2005
Luật thương mại 2005
Luật công nghệ thông tin ngày 29-6 -2006
Luật chuyển giao công nghệ ngày 29-11-2006
Luật sở hữu trí tuệ ngày 29-11-2005
Và các văn bản khác có liên quan…
3.1.1 Nguyên tắc ký kết
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo điều 389 của Bộ luật dân sự 2005 Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân
theo nguyên tắc sau: Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo
đức xã hội, tự nguyện, bình đằng thiện chí , hợp tác , trung thực và ngay thẳng.
Theo Mục 2 chương 1 Luật thương mại 2005 , quy định những nguyên tắc cơ
bản trong hoạt động kinh doanh mà ở đây là hoạt động dịch vụ cung cấp phần mềm.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động
thương mại nói chung và trong hoạt động dịch vụ cung cấp phần mềm nói riêng.
:Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt
động thương mại . Hoạt động dịch vụ cung cấp phần mềm là hoạt động kinh doanh
thương mại nhằm mục địch sinh lời và như vậy nguyên tắc bình đẳng giữa các
doanh nghiệp cung cấp phần mềm là một nguyên tắc cơ bản đầu tiêẳôtng ký kết hợp
đồng dịch vụ cung cấp phần mềm.
Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại:
các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần
động thương mại :Trong hoạt động thương mại các thông điệp dữ liệu đáp ứng các
điều kiện , tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá
trị pháp lý tương đương văn bản.
3.1.2 Chủ thể và đại diện ký kết hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm
Theo Bộ luật dân sự 2005 thì một pháp nhân phải đủ các tiêu chuẩn sau:
- Được thành lập một cách hợp pháp
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng các tài sản đó
- Có quyền quyết định một cách độc lập các hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình
- Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật .
Theo điều 6 luật thương mại 2005 thì thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp , cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuyên và có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên năng lực hành vi và năng lực pháp luật
của cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh được bộ luật dân sự 2005 quy định.
Tổ chức cá nhân nước ngoài tại Việt nam ở đây được hiểu là những tổ chức , cá
nhân nước ngoài đang thường trú tại Việt nam .Ngoài ra còn có các tổ chức cá nhân
nước ngoài vào và ở Việt nam nhưng do nhu cầu công việc và đời sống của họ cần
có quan hệ kinh tế với các đơn vị kinh tế Việt nam .Trong trường hợp này nếu quan
hệ hợp đồng đó với mục đích sản xuất kinh doanh thì cũng coi là hợp đồng kinh tế
và đó là những người đó là chủ thể của hợp đồng.
Theo Luật công nghệ thông tin 2005 :chủ thể là cá nhân, tổ chức Việt nam, tổ
chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin tại Việt nam( Điều 2).
Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan
đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số;
phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ
thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin.( khoản 6 điều 4 Luật công nghệ
nếu có thiệt hại phát sinh.
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng: Được xác định như sau: Do bên
đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có
hiệu lực từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.Các trường hợp sau có thể
coi là nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
- Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú , nếu bên nhận đề nghị là cá nhân , được
chuyển đến trụ sở nếu bên được đề nghị là pháp nhân
- Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên đề nghị;
- Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các
phương thức khác.
Thay đổi rút lại đề nghị giao kết hợp đồng. : nếu bên được đề nghị nhận
được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhận được đề nghị, điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường
hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện
đó phát sinh,hoặc bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi
là đề nghị mới.
Huỷ bỏ giao kết hợp đồng :khi huỷ bỏ giao kết hợp đồng thì bên đề nghị
giao kết hợp đồng phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có
hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên nhận được đề nghị
trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng: Việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp
đồng khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhân, hết hạn trả lời chấp nhận,
khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực,khi thông báo về việc
huỷ đề nghị có hiệu lực,hoặc theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề
nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
Sửa đổi đề đề nghị do bên được đè nghị đề xuất: từ khi bên được đè nghị
chấp nhận giao kết hợp đồng , nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị.
- ….
Theo bộ luật dân sự 2005 ,cụ thể là tại điều 402:nội dung của hợp đồng gồm các
nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng phần mềm , số lượng phần mềm cần cung
cấp, chất lượng của từng sản phẩm, Giá , phương thức thanh toán ( thông thường
nếu giá trị phần mềm lớn thì thường thanh toán bằng chuyển khoản, nếu giá trị thấp
thì có thể thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt).Các nội dung về thời hạn, địa điểm ,
phương thức thực hiện hợp đồng,Quyền và nghĩa vụ của các bên ;Trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng và các nội dung khác.Ngoài ra trong hợp
đồng cung cấp dịch cụ cung cấp phần mềm còn kể đến các nội dung khác đặc thù
hơn : tính đồng bộ của sản phẩm, bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, chứng
nhận chuyển giao công nghệ, điều kiện bảo hành, bảo trì hệ thống , điều kiện về
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệm thu, giao nhận. Đây có thể nói là những nội dung đặc thù nhất trong hoạt
động dịch vụ này.
Những điều khoản trên có thể phân thành ba loại khác nhau để thoả thuận trong
một văn bản hợp đồng cung cấp dịch vụ phần mềm như sau:
Những điều khoản chủ yếu : Đây là nhứng điều khoản bắt buộc phair có để
hình thành lên một chủng loại hợp đồng cụ thể được các bên quan tâm thoả thuận
trước tiên , nếu thiếu một trong các điều khoản căn bản của hợp đồng dịch vụ cung
cấp phần mềm thì văn bản đó chưa hình thành. Như vậy điều khoản chủ yếu này giữ
vai trò quyết định đối với sự hình thành và tồn tại của hợp đồng.
Điều khoản thường lệ: Là những điều khoản mà nội dung của nó đã được
quy định trong văn bản quy phạm pháp luật. Các bên có thể ghi hoặc không ghi
trong hợp đồng.Nếu không ghi vào điều khoản của hợp đồng thì coi như các điều
khoản ấy được mặc nhiên công nhậnvà tất nhiên phải có nghĩa vụ thực hiện. Nếu
các bên có thoả thuận ghi vào hợp đồng thì không đựơc trái pháp luật
Điều khoản tuỳ nghi : là các điều khoản do các bên với nhau khi chưa có quy
định của nhà nước nhưng các bên được phép sử dụng linh hoạt vaò hoàn cảnh thực
do hệ thống ; do đó phụ lục và biên bản bổ sung thường rất hay gặp trong hoạt động
cung cấp phần mềm,do đó nó rất quan trọng góp phần hoàn thiện văn cấp phần mềm
được tốt hơn.
3.2 Quy định về Thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm
3.2.1 Các nguyên tắc Thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm
Theo điều 412 của Bộ luật dân sự 2005 :Việc thực hiện hợp đồng nói chung
cũng như hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm nói riêng phải tuân theo những
nguyên tăc sau:
• Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại,
thời hạn, phương thúc và các thoả thuận khác :Như vậy các bên phải thực hiện đúng
hợp đồng về mặt đối tượng, không được thay đổi đối tượng các bên đã thoả thuận
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong hợp đồng bằng một đối tượng khác.Có thực hiện đúng khoản này thì các bên
mới đạt được mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng kinh tế. Ngoài ra việc chấp
hành đúng phai là chấp hành toàn bộ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng một cách
đầy đủ .và trong hoàn cảnh nền kinh tế hội nhập hiện nay việc thực hiện những điều
đã cam kết trong hợp đồng ngày càng đặt lên hàng đầu ,nó đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được liên tục và thông suốt.
• Thực hiện một cách trung thực, theo tình thần hợp tác và có lợi nhất cho các
bên , đảm bảo tin cậy lần nhau: Nguyên tắc này xuất phát từ quan hệ sản xuất
XHCN, nó xuyên suốt quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng cũng như giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế. Theo nguyên tắc này các bên có nghĩa
vụ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên theo dõi và giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện đầy đủ
và nghiêm chỉnh các điều khoản đã cam kết, phải cùng nhau khắc phục khó khăn,
tháo gỡ vướng mẳctong quá trình htực hiện hợp đồng.
• Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi
ích hợp pháp của người khác.
3.2.2 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp phần
phù hợp với thoả thuận và theo quy định của pháp luật: Đó là thực hiện đúng điều
khoản về đối tượng của hợp đồng, về chất lượng hàng hoặc công việc, Thời gian
cung ứng dịch vụ hoặc công việc triển khai phần mềm(điều 82 luật thương mại
2005) , Các điều khoản về địa điểm, phương thức giao nhận dịch vụ, các điều khoản
về giá cả, thanh toán
- Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực
hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc
-Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tầi liệu không đầy
đủ, phương tiện không đảm bảo để hoàn thành công việc cung ứng dịch vụ;
- Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong qúa trình cung ứng dịch vụ nếu
có thoả thuận hoặc pháp luật quy định:
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo điều 79 của Luật thương mại 2005 thì trong truờng hợp cung ứng dịch vụ
theo kết quả công việc bên cung ứng có nghĩa vụ cung ứng dịch vụ với kết quả phù
hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng.Trong trường hợp hợp đồng
không có quy định cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được bên cung ứng dịch vụ
phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông
thường của loại dịch vụ đó.
Theo điều 80 của Luật thương mại 2005 có quy định về: nghĩa vụ của bên cung
ứng dịch vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện
nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với bỗ lực và khả năng cao nhất
Trong hoạt động cung ứng dịch vụ cũng thường hay xảy ra trường hợp hợp tác
giữa các bên cung ứng dịch vụ : Theo điều 81 LTM 2005 khi đó mỗi bên cung ứng
dịch vụ cần:
- Trao đổi thông tin cho nhau về tiến độ công việc và yêu cầu của mình có
liên quan đến việc cung ứng dịch vụ , đồng thời cũng phải cung ứng dịch vụ vào
thời gian và theo phương thức phù hợp để không gây cản trở đến hoạt động của bên
cung ứng dịch vụ đó.
để sách nhiễu, gây phiền hà, không thực hiện kịp thời yêu cầu của tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật. hoặc Tiết lộ
bí mật công nghệ, cản trở hoạt động chuyển giao công nghệ.(điều 13 Luật chuyển
giao công nghệ 2005)
Trong trường hợp việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ mà công nghệ là đối
tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu
công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Khi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nếu công nghệ là đối tượng được bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ.(điều 17 khoản 3 Luật chuyển giao công nghệ 2005)
Như vậy trong quá trình cung câp phần mềm có liên quan đến chuyển giao công
nghệ, quyền tác giả và công nghệ thông tin doanh nghiệp cung cấp phần mềm cần
thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi tham gia cung cấp cho khách
hàng. Việc tìm hiểu về luật chuyển giao công nghệ và luật sở hữu trí tuệ là điều kiện
cần thiêt để hoạt động cung cấp phần mềm của doanh nghiệp hạn chế rủi ro và tranh
chấp.
3.3.2 Nghĩa vụ của khách hàng
Theo điều 85 của Luật thương mại 2005 đã quy định: thì khách hàng có nghĩa
vụ sau:
- Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng
- Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc cung
ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn.
- Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể
cung ứng dịch vụ một cách thích hợp
- Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc
ký kinh doanh khác, thì phải chuyển giao cả phần tiếp tục thực hiện hợp đồng có
liên quan đến nhiệm vụ cung cấp dịch vụ đó.
3.4.2 Chấm dứt hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mềm
Theo điều 424 của Bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng chấm dứt trong các trường
hợp sau:
- Hợp đồng đã được hoàn thành;
- Theo thoả thuận của các bên;
- Cá nhân giao kết hợp đồng , pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp
đồng phải do chính cá nhân pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện;
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hợp đồng không thể thực hiện đượcdo đối tượng của hợp đồng không còn
và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Việc huỷ bỏ hợp đồng dịch vụ cung cấp phần mề cũng giống như việc huỷ bỏ
hợp đồng dân sự được quy định trong điều 425 của Bộ luật dân sự 2005
3.4.3 Thanh lý hợp đồng dịch vụ
Trong các trường hợp:
- Hợp đồng đã được thực hiện xong;
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng đã hết và không có sự thoả thuận kéo dài
thời hạn đó;
- Trong trường hợp hợp đồng không được tiếp tục thực hiện do bên đựoc
chuyển giao không đủ điều kiện thục hiện hợp đồng đựoc chuyển giao thì yêu cầu
bên chuyển giao phải thanh lý hợp đồng kinh té trước khi nhận chuyển giao.
3.5 Quy định về trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng
Theo điều 292 của Luật thương mại 2005 quy định các chế tài trong thương mại;
Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo điều 297: Buộc thực hiện đúng hợp đồng: là việc bên bị vi phạm yêu cầu
bên vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp
đồng các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
Trường hợp huỷ bỏ hợp đồng khi giao hàng cung ứng dịch vụ từng phần được
quy định tại điều 313 của luật này.
3.6 Những quy định về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ cung
cấp phần mềm
Giải quyết tranh chấp là việc điều chỉnh các bất đồng các xung đột dựa trên
những căn cứ và bằng những phương thức khác nhau do các bên lựa chọn
TRẦN VĂN THANH LUẬT KINH DOANH 45
25