Phát triển các khu đô thị mới theo hướng bền vững nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội - Pdf 28

Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân



Nguyễn văn cờng

Phát triển các khu đô thị mới THEO HớNG
bền vững: NGHIêN Cứu trên địa bàn Hà Nội Ngời hớng dẫn khoa học
:

Pgs.ts. lê thu hoa

ii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1. TỔNG QUAN, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU ĐÔ THỊ MỚI THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG 6

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 6

1.1.1. Nghiên cứu về phát triển bền vững, phân tích các xu hướng phát triển
thiếu bền vững 6

1.1.2. Các nghiên cứu về phát triển khu ở trong quá trình phát triển đô thị 11

1.1.3. Nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững và phát triển bền vững khu đô
thị mới 13

1.1.4. Nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững 20


1.6.2. Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) 36

1.6.3. Phương pháp dự báo 37

1.6.4. Phương pháp phân tích SWOT 37

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC
KHU ĐÔ THỊ MỚI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 40

2.1. Cơ sở lý luận về phát triển các khu đô thị mới theo hướng bền vững 40

2.1.1. Các khái niệm Đô thị, Đô thị hóa và Phát triển đô thị 40

2.1.2. Quan niệm về khu đô thị mới 41

2.1.3. Các đặc điểm của khu đô thị mới 43

2.1.4. Một số mô hình và học thuyết điển hình về phát triển KĐTM 46

2.1.5. Quan niệm về phát triển KĐTM theo hướng bền vững 49

2.1.6. Các yếu tố tác động đến phát triển KĐTM theo hướng bền vững 53

2.2. Kinh nghiệm thực tiễn phát triển khu đô thị mới theo hướng bền vững
trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 60

2.2.1. Kinh nghiệm của nước Anh 60

3.1. Sơ lược quá trình phát triển KĐTM tại Việt Nam và trên địa bàn
Hà Nội 84

3.1.1. Quá trình phát triển KĐTM tại các thành phố Việt Nam 84

3.1.2. Sơ lược quá trình ĐTH và phát triển không gian Thủ đô Hà Nội 86

3.2. Quá trình hình thành và phát triển các KĐTM ở Hà Nội 90

3.3. Phân tích thực trạng phát triển KĐTM trên địa bàn Hà Nội theo hướng
bền vững 92

3.3.1. Về khía cạnh kinh tế 92

3.3.2. Về khía cạnh xã hội 110

3.3.3. Về khía cạnh môi trường 115

3.3.4. Về khía cạnh thể chế 122

3.4. Đánh giá chung về phát triển các KĐTM của Hà Nội theo hướng
bền vững 128

3.4.1. Những kết quả đạt được 128

3.4.2. Những điểm thiếu bền vững trong phát triển khu đô thị mới Hà Nội và
nguyên nhân 129

Tiểu kết chương 3 134



4.3.1. Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, hiện đại và
hiệu quả 150

4.3.2. Giải pháp về tăng cường tính đồng bộ và linh hoạt trong quy hoạch
phát triển 155

4.3.3. Giải pháp về đảm bảo nguồn vốn và nguồn nhân lực chất lượng cao 160

4.3.4. Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch PTĐT 165

4.3.5. Giải pháp về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 166

4.3.6. Tổng hợp giải pháp theo trách nhiệm từng tổ chức liên quan 170

4.4. Tiểu kết chương 4 173

KẾT LUẬN 174

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC
GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN 176

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 177

PHỤ LỤC

vi

QLĐT : Quản lý đô thị
QLNN : Quản lý nhà nước
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
TDTT : Thể dục thể thao
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TĐC : Tái đinh cư
TKNL : Tiết kiệm năng lượng
UBND : Ủy ban Nhân dân
XD&PTĐT : Xây dựng và phát triển đô thị viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Quan điểm 3 cực trong phát triển bền vững 7
Hình 1.2: “Khoảng trống” trong nghiên cứu về PTBV đô thị 26
Hình 1.3: Quy trình tiếp cận nghiên cứu PT các KĐTM theo hướng BV trên địa
bàn Hà Nội 30
Hình 1.4. Các phương pháp nghiên cứu của luận án 36
Hình 2.1: Mô hình “đơn vị ở xóm giềng” của C.Perry 48
Hình 2.2: Mô hình “tiểu khu nhà ở” áp dụng vào khối XHCN 48
Hình 2.3: Hệ thống giao thông lưới ô vuông của ĐTM Milton Keynes 61
Hình 2.4: Quy hoạch chi tiết khu ĐTM Punggol 66
Hình 2.5: Quy mô diện tích đề xuất của KĐTM 80
Hình 3.1: Ý tưởng phát triển không gian Thủ đô theo mô hình chùm đô thị 89
Hình 3.2: Tỷ lệ số lượng và diện tích các KĐTM phân theo quận/ huyện trên địa
bàn Hà Nội 94

Bảng 3.5: Nguyện vọng về phí dịch vụ trong KĐTM của người dân 107

Bảng 3.6: Nhu cầu thay đổi nhà ở của người dân trong 3 KĐTM 111

Bảng 3.7: Đánh giá của người dân về 9 yếu tố môi trường sống tại các KĐTM 118

Bảng 4.1: Phân tích SWOT về PTBV các KĐTM trên địa bàn Hà Nội 144 1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu luận án
Luận án “Phát triển các khu đô thị mới theo hướng bền vững: nghiên cứu
trên địa bàn Hà Nội” được thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá sự phát triển
của các khu đô thị mới (KĐTM) với tư cách là một không gian địa lý - kinh tế trong
cấu trúc đô thị Hà Nội theo một số tiêu chí bền vững về kinh tế - xã hội - môi
trường và thể chế; đề xuất quan điểm, định hướng, các giải pháp phát triển các
KĐTM đáp ứng yêu cầu các khu ở chất lượng cao, văn minh, hiện đại, vì con người
hiện tại nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận án bao gồm 4 chương, trong đó: Chương 1 (33 trang) rà soát,
phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển các KĐTM theo
hướng bền vững, xác định khoảng trống trong các nghiên cứu này và đề xuất

tiện ích xã hội phục vụ dân cư.
Để đáp ứng tốc độ ĐTH, mở rộng đô thị, đồng thời giải quyết bài toán nơi cư
trú cho dân cư, một trong các giải pháp mà nhiều đô thị trên thế giới trong quá trình
phát triển đã sử dụng và cũng được Thành phố Hà Nội thực hiện từ đầu những năm
1990 là xây dựng các khu đô thị mới (KĐTM). Tính đến giữa năm 2013, trên địa
bàn Thành phố đã có hơn 200 dự án KĐTM, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha
[4], và đang có xu hướng tăng mạnh trong tương lai.
Là một bộ phận cấu thành quan trọng trong cấu trúc không gian đô thị, được
hiểu như một khu dân cư có các chức năng hoàn chỉnh, có quy hoạch ngay từ đầu,
trong một thời gian dài, các KĐTM là tiêu biểu cho một hình ảnh Hà Nội đổi mới,
hiện đại và năng động. Tuy nhiên, qua gần 20 năm phát triển, thực tế đã nảy sinh rất
nhiều vấn đề cần giải quyết trong các KĐTM này: hệ thống hạ tầng thiếu đồng bộ,
mật độ xây dựng quá dày, thiếu các tiện ích xã hội, thiếu tính kết nối; ô nhiễm môi
trường và nhiều vấn đề khác, ảnh hưởng tới không gian đô thị, tới môi trường xã
hội và tự nhiên, tới chất lượng sống không chỉ của những cư dân đô thị hiện nay, mà
cả những thế hệ tiếp nối. Con đường duy nhất và tất yếu để cải thiện tình trạng trên
là các KĐTM phải theo hướng phát triển bền vững (PTBV). 3
Với mục tiêu nổi tiếng đã trở thành phổ biến trên toàn cầu “Phát triển nhằm
thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn
nhu cầu của các thế hệ tương lai” [80], PTBV nhằm mục đích nâng cao tối đa chất
lượng cuộc sống của nhiều thế hệ con người trong giới hạn cho phép của hệ sinh
thái. Tại Việt Nam, gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 432/QĐ-
TTg ngày 12/4/2012 phê duyệt “Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
2011-2020”, trong đó nêu rõ: “PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát
triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát
triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật
tự an toàn xã hội” [37]. Yêu cầu PTBV này cần được cụ thể hóa tới các hoạt động

- Về không gian: luận án nghiên cứu các KĐTM có chức năng là khu ở trên
địa bàn Hà Nội, bao gồm các phần lãnh thổ của thành phố trước và sau khi mở rộng
theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về việc điều
chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: luận án phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KĐTM
điển hình của Hà Nội trong thời kỳ từ năm 1997 đến 2013. Phần đề xuất định hướng
và giải pháp lấy mốc thời gian cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
- Khác với các nghiên cứu đã có chọn phạm vi là toàn thành phố hoặc các
công trình xây dựng cụ thể, luận án chọn và hệ thống hóa, luận giải, làm rõ quan
niệm khu đô thị mới (KĐTM) với tư cách là một không gian địa lý - kinh tế trong
cấu trúc đô thị, được hình thành từ việc đầu tư xây dựng mới đồng bộ theo quy
hoạch và phát triển tuân thủ theo quy hoạch, với chức năng chính là cung cấp một
môi trường sống hài hòa, văn minh, hiện đại và bền vững cho cư dân đô thị;
- Luận án xác định quan điểm phát triển KĐTM theo hướng bền vững là sự
hài hòa trong nội bộ khu, đáp ứng yêu cầu khu ở chất lượng cao, văn minh, hiện đại,
vì con người hiện tại nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai, đồng
thời liên kết chặt chẽ với khu vực xung quanh và đô thị hiện hữu;
- Luận án rà soát và đề xuất bổ sung nhóm tiêu chí thể chế vào hệ thống các
tiêu chí đánh giá phát triển KĐTM theo hướng bền vững, lấy con người làm trung
tâm, trong đó đặc biệt coi trọng các tiêu chí về sự hài lòng của người dân sinh sống 5
trong KĐTM, đáp ứng đầy đủ về tiếp cận dịch vụ, cân bằng giữa cung và cầu, giảm
hoặc loại bỏ tác động xấu lên môi trường và người dân trong KĐTM.
Những phát hiện và đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo
sát của luận án
- Sử dụng hệ thống đánh giá sự bền vững theo hướng tiếp cận lấy con người

Phát triển các KĐTM theo hướng bền vững nằm trong nội hàm lớn của
PTBV - một mục tiêu quan tâm hàng đầu của các quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển các KĐTM theo hướng bền vững cũng được đề cập trong nội hàm
của “phát triển đô thị”. Như là một tất yếu của quá trình CNH - HĐH và ĐTH, PTĐT
cũng là vấn đề cần thiết, nóng bỏng, luôn được nhắc đến trong giai đoạn hiện nay, cả
trong nước cũng như quốc tế, đã được đề cập đến trong khá nhiều nghiên cứu, luận
văn, tài liệu xuất bản trong và ngoài nước.
Bức tranh tổng quan các nghiên cứu liên quan đến PTBV, PTĐT, PTĐT bền
vững và phát triển các KĐTM theo hướng bền vững được thể hiện trên thực tế
thành các nhóm vấn đề chính sau đây:
1.1.1. Nghiên cứu về phát triển bền vững, phân tích các xu hướng phát
triển thiếu bền vững
Phát triển bền vững, theo Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển
(WCED) trong Báo cáo chung “Tương lai của chúng ta” (1987), chính là “Phát
triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng thỏa mãn nhu cầu các thế hệ mai sau” [80, trang 16]. PTBV được thể hiện ở
cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội - môi trường và trọng tâm của nó chính là con người.
Tại Hội nghị về môi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5 năm 1992, quan
niệm về PTBV đã được bổ sung, theo đó, PTBV được hình thành trong sự hòa
nhập, đan xen và thỏa mãn của ba hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và
văn hóa - xã hội. Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 đến nay, đã có
khoảng 120 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 cấp
quốc gia. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore,
Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21. 7Hình 1.1: Quan điểm 3 cực trong phát triển bền vững

cho quản lý hệ sinh thái) cho rằng, phải chuyển đổi mô hình kinh tế dựa vào tài
nguyên sang mô hình kinh tế sinh thái, sử dụng nhiều hơn năng lượng tái tạo [54].
Như vậy, những nguyên nhân gây ra tính thiếu bền vững đã cho chúng ta thấy
rằng quá trình PTBV là quá trình tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa phát triển kinh tế
không làm tổn hại đến tài nguyên và môi trường, phải chú ý đến phát triển xã hội.
Khung thể chế của mỗi quốc gia sẽ lựa chọn con đường phát triển đảm bảo hài hòa
giữa các yếu tố trên với mục đích phục vụ sự phát triển con người trên các vùng đặc
trưng sinh thái khác nhau.
Tại Việt Nam, chậm hơn so với thế giới, khái niệm PTBV mới được biết đến
ở nước ta vào những khoảng cuối thập niên 1980 đầu 1990. Nhưng PTBV đã nhanh
chóng trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. PTBV cũng đã được đề cập tới như một yêu cầu cấp thiết trong hoạch định và
tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KT - XH ở tất cả
các cấp, các ngành và các lĩnh vực.
Quyết định số 187-CT ngày 12/06/1991 về "Kế hoạch quốc gia về Môi
trường và PTBV giai đoạn 1991-2000" đã tạo tiền đề cho quá trình PTBV ở Việt
Nam. Tiếp đó, Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về việc ban hành “Định hướng
Chiến lược PTBV ở Việt Nam” - Chương trình Nghị sự 21 của Chính phủ đã trở
thành cái mốc PTBV của đất nước trong thế kỷ 21. Có thể nói, đây là bản định 9
hướng chiến lược PTBV đầu tiên, dài hơi nhất, là một Chiến lược khung, bao gồm
những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức
và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt
Nam với quốc tế. Trong đó, vấn đề PTBV được đề cập dưới 3 lĩnh vực bao gồm:
bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về tài nguyên và môi trường, với
19 nội dung cụ thể [35].
Gần đây, Chiến lược phát triển KT-XH thời kỳ 2011 - 2020 đã xác định quan
điểm: “Phát triển nhanh gắn liền với PTBV, PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong

Bên cạnh hệ thống các văn bản pháp lý, vấn đề PTBV cũng đã được thể hiện
ở nhiều cấp độ trong các nghiên cứu. Có thể kể ra một số nghiên cứu điển hình như:
Luận án Tiến sỹ "Phát triển các khu công nghiệp vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
theo hướng bền vững" của Vũ Thành Hưởng (2010) [18]. Luận án này đưa ra 4
nhóm tiêu chí PTBV với quan niệm: PTBV các KCN phải được nhìn nhận theo 2
góc độ: (1) tính bền vững trong sản xuất kinh doanh của bản thân KCN; và (2) tác
động lan tỏa tích cực của KCN đến các hoạt động KTXH của các địa phương có
KCN. Các tiêu chí mà tác giả luận văn đề xuất cũng chia làm 2 nhóm chính: nhóm
tiêu chí đánh giá BV nội tại KCN và đánh giá BV cho cả vùng có KCN. Còn nghiên
cứu của Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi (2007) trong "Phát triển bền vững ở
Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng” [40] lại chú ý phân tích về
những khía cạnh chưa BV tại Việt Nam từ các kết quả điều tra cụ thể, nhằm cung
cấp các tổng kết thực tiễn làm cơ sở hoạch định chính sách PTBV theo vùng miền ở
nước ta dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập.
Nhiều nghiên cứu trong nước đã đưa ra khái niệm và mô hình PTBV trong
các lĩnh vực hoạt động sản xuất của xã hội, các ngành kinh tế hay các địa phương
với những đặc điểm đặc thù vùng miền Có thể kể tới các công trình tiêu biểu như:
"Cơ chế, chính sách PTBV các vùng Kinh tế trọng điểm ở Việt Nam đến 2015" [25]
của Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi (2010); "Phát triển giao thông đô thị bền
vững”[42], Nguyễn Hồng Tiến (2012), NXB Xây dựng; "Quản lý tổng hợp lưu vực
sông theo hướng bền vững ở Việt Nam" [46] của Trung tâm Phát triển Tài nguyên
và Môi trường và Viện Môi trường và PTBV năm 2006; "Chính sách công nghiệp
theo hướng bền vững" [45] của Phan Đăng Tuất và Lê Minh Đức (2005); "PTBV
làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ" [1] của Bạch Thị Lan Anh
(2011); "Nghiên cứu vấn đề PTBV công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" [3]
của Nguyễn Hải Bắc (2011), cùng một số tác phẩm khác [4], [23] 11



12

trong các khu phố được quy hoạch. Mô hình này được các kiến trúc sư Liên Xô cải biến
dưới thập niên 1950-1960 rồi phổ cập nhanh chóng ra toàn Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa thời ấy, trong đó có Việt Nam dưới cái tên lý thuyết “tiểu khu nhà ở”.
Những năm 1980-1990, ở Mỹ, các KTS Andrés Duany, Peter Calthorpe và
cộng sự đã khởi xướng Chủ nghĩa Đô thị Mới (New Urbanism) để giải quyết các vấn
đề của cả vùng nội thị và ngoại ô. Phong trào này đặc biệt nhấn mạnh việc gia tăng
mật độ dân cư, sử dụng đất hỗn hợp, khả năng đáp ứng nhà ở cho nhiều tầng lớp dân
cư khác nhau và PTĐT hỗ trợ GTCC. Duany cũng đã trình bày hệ thống lại lý thuyết
Đô thị Mới này của mình trong tác phẩm “Garden Cities: Theory & Practice of
Agrarian Urbanism” (Các thành phố vườn: Lý thuyết và thực hành của sự đô thị hóa
nông nghiệp), 2011 [57]. Có thể nói, chủ nghĩa Đô thị Mới có những quan điểm tiên
tiến mà hiện nay vẫn được ứng dụng rộng rãi như việc linh hoạt trong sử dụng và
chuyển đổi chức năng đất hỗn hợp, khả năng đáp ứng nhà ở cho nhiều tầng lớp dân cư.
Về các nghiên cứu về PTĐT và tiểu khu nhà ở tại Việt Nam, thực chất
nghiên cứu QHĐT là một ngành khoa học còn rất mới mẻ ở nước ta, có thể coi như
chỉ mới manh nha bắt đầu từ cuối những năm 1960 thế kỷ trước. Nhà quy hoạch đô
thị Đàm Trung Phường đã từng đánh giá rằng “Cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa
có ai viết sách và tiếp cận có hệ thống, toàn diện về vấn đề quy hoạch phát triển đô
thị của Việt Nam” [30]. Trước đó, trong tác phẩm "Mối quan hệ giữa quy hoạch
vùng lãnh thổ và quy hoạch xây dựng đô thị" [44] - KTS Hoàng Như Tiếp (1979) -
một trong những cán bộ quy hoạch chủ chốt đầu tiên của Việt Nam sau năm 1945 -
cũng đã bước đầu chỉ ra sự liên quan giữa các chiến lược chung kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến các quy hoạch vùng và QHC XDĐT. Tác phẩm cũng có đề cập đến mô
hình “tiểu khu nhà ở” lúc đó đang được các chuyên gia Liên Xô và Triều Tiên giúp
đỡ xây dựng tại Hà Nội, phân tích đây là một mô hình tiên tiến, cung cấp cho cán
bộ và người dân một môi trường ở ưu việt, hiện đại và văn minh.
Tiếp theo, trong tác phẩm “Quy hoạch đô thị” (2 tập, 1995) [30], tác giả Đàm

1.1.3. Nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững và phát triển bền vững khu
đô thị mới
1.1.3.1. Phát triển đô thị bền vững
PTĐTBV nằm trong bối cảnh PTBV nói chung, đi cùng với khái niệm PTBV.
Trên thế giới, hiện nay có rất nhiều quan điểm về PTĐTBV tùy theo từng góc độ 14

tiếp cận. Hội nghị URBAN21 tổ chức tại Berlin tháng 7/2000 đã đưa ra định nghĩa
về PTĐTBV: "Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả
các thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không
để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai, một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm
nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn. Mục tiêu là nguyên tắc dòng chảy,
dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ ra về tài chính,
phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các
khu vực đô thị” [81]. PTĐTBV trên thực tế được định nghĩa chi tiết hơn tùy theo
từng khu vực địa lý, trình độ phát triển và góc nhìn.
PTĐTBV cũng được xem xét dưới một thuật ngữ khác, đó là “phát triển
cộng đồng bền vững” (Swisher, Rezola, & Sterns; 2009) [76], theo đó: "Phát triển
cộng đồng bền vững là năng lực đưa ra quyết định phát triển tôn trọng mối tương
quan giữa ba khía cạnh - kinh tế, sinh thái, và bình đẳng”.

Kinh tế - Hành vi kinh tế cần đem lại những điều tốt đẹp chung cho cả
cộng đồng, có thể tự làm mới, tạo ra tài sản và có khả năng tự túc;

Sinh thái - Con người là một phần của tự nhiên, tự nhiên có những giới
hạn, và cộng đồng phải có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng các tài sản thiên nhiên;

Bình đẳng - Cơ hội tham dự hoàn toàn trong các hoạt động, lợi ích, và quá

countries” (Thành phố nén: một cách thức PTĐTBV cho các nước đang phát triển)
(2000, Taylor & Francis) và sau đó là “Future form and design sustainable city”
(Các hình thức và thiết kế tương lai cho thành phố bền vững), các tác giả Mikes
Jenks và Nicolas Demsey (2004) chỉ ra rằng các vấn đề quan trọng cho một “thành
phố bền vững” là “tổng hòa của các yếu tố CSHT bền vững, nhà ở đa dạng đáp ứng
mọi nhu cầu người dân, giao thông bền vững, và phát triển theo xu thế “nén”
(compact) chống phát triển tràn lan (urban sprawl)” [69] đồng thời phải có một thể
chế quản lý linh động phù hợp [70].
Một vài năm sau, trong nghiên cứu của tác phẩm “Sustainable urban
development” (Phát triển đô thị bền vững), M Deakin, G Mitchell, P Nijkamp, R
Vreeker (Europe, 2007) [71] đề cập kỹ và sâu hơn về các tính chất cần phải có của
một đô thị bền vững, theo các tiêu chí chung của PTBV trên 4 lĩnh vực: kinh tế, xã
hội, môi trường và thể chế. Vấn đề “thể chế” cho một đô thị vận hành và phát triển
đã được nhấn mạnh như một trong những điều kiện tiên quyết cho tính bền vững
của đô thị đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status