Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học huyện Tây Giang - Pdf 28


ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY GIANG
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: Giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục cho học sinh Tiểu học huyện Tây Giang
Người thực hiện : Nguyễn Quốc Kỳ
Chức vụ : Phó trưởng phòng
Năm học : 2014-2015

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 1
Tây Giang, tháng 4 năm 2015 Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 2
I. Tên đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG
II. Đặt vấn đề:
Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với
mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế.
Sinh thời Hồ Chủ tịch đã nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Như vậy giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách của

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 3
nhân dịp khai giảng năm học 1995 - 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất,
đồng thời là mục tiêu cao cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con
người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố
quyết định tương lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối
với mỗi quốc gia.
Với tâm niệm giúp trẻ em Cơ tu được sống và trưởng thành như những con
người tinh tế biết cách sống có trách nhiệm với đời, chúng tôi những người làm
công tác lãnh đạo luôn đặt ra nhiều câu hỏi. Giáo dục tiểu học có ổn định và đảm
bảo chất lượng thì toàn bộ nền giáo dục mới được ổn định, từng gia đình ổn định,
xã hội cùng ổn định.
IV. Cơ sở thực tiễn:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được xem là nền tảng.
Cũng như xây một ngôi nhà, cái nền có chắc ngôi nhà mới vững, cái nền không
cứng, chắp vá ngôi nhà ắt xộc xệch. Trẻ em như Bác Hồ đã từng ví như búp trên
cành cần được nâng niu, săn sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt. Như vậy cấp Tiểu
học là bậc học nền tảng làm cơ sở để học sinh bước vào những bậc học cao hơn mà
không phải bỡ ngỡ. Kiến thức ở cấp Tiểu học là những kiến thức đơn giản nhưng
cơ bản tạo đà chuyển động để học sinh bước tiếp vào bậc học cao hơn. Vì vậy ở bậc
học này nếu học sinh không được trang bị vững vàng thì không thể đi vào bậc học
tiếp theo một cách tốt nhất. Với tình hình học sinh tiểu học ở huyện Tây Giang
hiện nay, chất lượng tối thiểu cần phải chiếm lĩnh được sau khi hết cấp Tiểu học
hầu như học sinh chưa có được. Sau khi hết cấp Tiểu học vẫn còn nhiều em chưa
đọc, chưa viết thông thạo, các kĩ năng cơ bản: nghe - hiểu - đọc - viết học sinh
không vận dụng được trong các hoạt động dạy học.
Trong khi đó yêu cầu cần phải có để bước vào bậc trung học cơ sở là những
kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Hiện nay trên địa bàn

tạo chung của toàn huyện. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển
biến nhất định.
Cả huyện đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; năm 2014 đạt phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho
người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân
tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo
dục và đào tạo.
Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống
hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà.
2. Khó khăn:
Tây Giang là huyện miềm núi cao của tỉnh Quảng Nam được tách ra từ
huyện Hiên theo Nghị đinh 72/2003/NĐ-CP ngày 20/6/2003 của Chính Phủ. Dân
số chủ yếu là đồng bào dân tộc Cơ tư chiếm 91%, đời sống nhân dân còn khó
khăn…nên ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu
liên thông giữa các trình độ, giữa các vùng miền và giữa các phương thức giáo dục;
còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Giáo dục thiếu gắn kết những kỹ năng thực hành
và nhu cầu của con người hiện nay; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục lối
sống và kỹ năng học tập. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết
quả còn áp đặt, hình thức, thiếu thực chất.
Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều bất cập. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo
kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí có trường hợp

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 5

xuất sức lao động tại chỗ.
e. Bản thân giáo viên chưa nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trong quá
trình giáo dục. Chúng ta luôn đòi hỏi học sinh đọc-viết-làm theo mình, mà quên
rằng chúng ta làm theo học sinh và dần dần uốn nó theo cách của mình, bởi vì giáo
dục là một “quá trình” chứ không phải là một giai đoạn cụ thể, ngắn ngũi. Một số
Cán bộ giáo viên tuy có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn nhưng không có “cái tâm”
nghề nghiệp, năng lực công tác thiếu sáng tạo, thiếu đổi mới nên cũng ảnh hưởng
phần nào đến chất lượng giáo dục của học sinh.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 6
g. Công tác chỉ đạo của các cấp chưa đi sâu vào thực tế, chưa có giải pháp cụ
thể, rõ ràng. Hình như chỉ có ở văn bản, quy chế, thông tư, phương hướng mà
không hề có trong thực tế. Vì thế hiệu quả không cao, chưa phát huy hết được nhiệt
huyết của những người đứng lớp. Việc phổ cập giáo dục và chất lượng giáo dục
đánh giá mức chênh lệch khá xa giữa miền núi, vùng dân tộc và các vùng khác tức
là trong giáo dục chưa có sự bình đẳng thực sự. Giáo dục miền núi đi ra từ xuất
phát điểm quá thấp và vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi.
h. Công tác phổ cập giáo dục của địa phương một phần cũng ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục. Ngoài ra đánh giá học sinh theo Thông tư 30/2014/TT-
BGD&ĐT ngày 28/8/2014 cũng còn nhiều vấn đề cần phải bàn khi đánh giá và xếp
loại học sinh tiểu học.
i. Do dung lượng kiến thức quá nhiều, quá nặng so với học sinh người dân
tộc thiểu số. Trong khi cũng bộ sách phổ thông đó học sinh vùng có điều kiện thì
“ngốn” trong một năm học, còn học sinh vùng núi thì cũng “nhai” trong một năm.
Phải chăng quá nặng nề. Vì vậy mà bản thân giáo viên chỉ chú trọng đến việc
truyền đạt cho hết dung lượng kiến thức của năm học mà không có thời gian để tìm
ra biện pháp giáo dục cho từng đối tượng học sinh trong lớp. Trong những năm học
qua cũng đã có chương trình dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng song nó vẫn

- Chức năng nhiệm vụ: Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ
chức, đều có những chức năng và trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy,
khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì phải phát hiện và nhằm
đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác. Thí dụ: Đối với cấp ủy và chính quyền
địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản chỉ đạo, hoặc đất xây
dựng,
- Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng về
giáo dục và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHHGD để mối quan hệ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực.
- Luật pháp: XHHGD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần dựa
trên cơ sở pháp lý. Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội, cũng cần
có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động nguồn lực cho
giáo dục.
- Phù hợp và thích ứng: Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời gian
thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHHGD. Tuy nhiên, để thực hiện nguyên
tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang tính định
hướng.
- Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học,
tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn của mỗi gia tộc, dòng
họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của từng nhà
trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm lo cho sự nghiệp giáo
dục .
- Kết hợp ngành - lãnh thổ: cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương
và ngành giáo dục, “nhà trường gắn liền với xã hội”.
- Giao tiếp: Có hai con đường giao tiếp đó là con đường chính thức (các văn
bản, công văn, đề nghị ) và con đường không chính thức (thông qua nguyên tắc
truyền thống và tình cảm).
Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều trường hợp đối tượng tham gia XHHGD
tuy ít nhưng lại cho những kết quả bất ngờ nếu như người cán bộ quản lý giáo dục

giáo viên cần kiên trì ươm mầm cho các em nhất là những em cá biệt.
Đối với giáo viên phải có lòng nhiệt huyết, có cam kết nâng cao chất lượng,
lòng nhiệt tình và đạo đức tốt đối với học sinh, tâm huyết đối với nghề, chỉ có cái
“tâm” mới làm nên được sự nghiệp lớn. Luôn luôn đổi mới trước học sinh về mọi
mặt, theo tôi là một người đứng trước một tập thể nếu không có sức thu hút thì sẽ
khó gây sự chú ý ở tập thể. Vì vậy người giáo viên đứng trước lớp là người đạo
diễn, một diễn viên, một người mẹ, một người thầy phải gây sự chú ý của học
sinh bằng việc chú trọng đến hình thức, cách tổ chức lớp học. Không nên gây cảm
giác nhàm chán với một phong cách riêng nào đó. Khai thác triệt để tâm lý học
sinh, tìm hiểu xem các em muốn gì, cần gì ? Nên gần gũi chia xẻ với học sinh nhiều
hơn để các em có cảm giác được che chở, tránh cảm giác sợ hãi, lạnh lùng khi đến
trường. Biết khen chê đúng lúc, tế nhị, khoa học, không nên bực bội, phản ứng
ngay khi học sinh quá yếu hay quá bướn bĩnh, biết kiềm nén an ủi, vỗ về, biết lắng
nghe, hiểu học sinh.
Như vậy, việc ngành giáo dục đào tạo thực thi biện pháp cần thiết để khắc
phục tình trạng "ngồi sai lớp" và giảm thiểu tới mức thấp nhất học sinh yếu kém là
biểu hiện cụ thể của lương tâm và trách nhiệm cao quý của nhà giáo; và còn là việc

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 9
làm nhân đạo của ngành giáo dục. Trách nhiệm là ở chỗ, nhà giáo đã thực sự có
trách nhiệm đến cùng với "sản phẩm" do mình đào tạo ra, không như tình trạng
trước đây là hình như "vô can" đối với "sản phẩm" của mình làm ra. Lương tâm là
không vì khó khăn, vất vả mà làm ra những "sản phẩm" thứ cấp, làm thiệt thòi cho
nhân dân, gây khó khăn cho xã hội. Lương tâm và trách nhiệm còn ở chỗ, việc bồi
dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo cho học sinh yếu ở mọi lúc mọi nơi, bằng việc thực
hiện khẩu hiệu của ngành giáo dục là "dạy thực chất, học thực chất". Hoàn thiện cơ
cấu hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của con em. Bên cạnh đó, cần quan
tâm đầu tư kinh phí thông qua các chương trình, dự án giúp đỡ các xã đặc biệt khó


Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 10
hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên, hệ thống trên chủ yếu triển khai trên máy đơn, cơ sở
dữ liệu phân tán, nên khó khăn cho việc tổng hợp dữ liệu ở các cấp quản lý, một số
trường chưa kết nối mạng Internet hoặc có thì tốc độ chậm nên khó khăn cho công
tác cập nhật…Đồng thời, chưa phát huy hết khả năng của Internet dẫn đến hiệu quả
khai thác thông tin thấp. Vì vậy việc ứng dụng CNTT trong quản lý trường học có
nhiều giải pháp khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng CNTT của từng trường,
trình độ tin học của đội ngũ, chính vì vậy mà hiện nay tùy theo điều kiện cụ thể của
từng trường mà áp dụng những giải pháp phù hợp và xu hướng chung hiện nay
trong toàn ngành. Trong tương lai các ứng dụng qua mạng sẽ trở thành phổ biến
cho các đơn vị trường học.
5. Đổi mới nền giáo dục phải triển khai một cách đồng bộ:
Nhìn chung giáo dục của chúng ta hiện nay đã quá chậm so với sự phát triển
chung của toàn tỉnh. Việc chấn hưng nền giáo dục là hết sức cần thiết nhằm đào tạo
những thế hệ người Cơtu mới phù hợp với sự phát triển hiện nay. Để làm được việc
này chúng ta phải triển khai nhiều nội dung công việc một cách đồng bộ, từ quản lý
của các cấp trên toàn huyện, tổ chức giáo dục, đào tạo từ Tỉnh đến địa phương.
Trước tiên, chúng ta cần phải hạn chế chương trình học quá nặng nề về chính
trị và giáo điều, cái gì cũng muốn học sinh phải biết. Học sinh phải học rất nhiều
môn học chính khóa, nhiều môn học cao mà không có ứng dụng về sau, trong khi
vốn kiến thức cơ bản các em không hề có Thiết nghĩ chúng ta nên chú trọng
những gì gần gũi, cơ bản nhất.
Thứ hai: những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục đã có bao giờ tự
đánh giá khả năng của mình liệu còn phù hợp để đảm nhiệm công tác này không ?
Thứ ba: giáo viên trực tiếp giảng dạy (đặc biệt là giáo viên người dân tộc
thiểu số) có thường cập nhật thêm kiến thức để có thể chuyển tải tới học sinh
những điều mới hơn, hay hơn và hiệu quả hơn không?

hoạch chậm được đổi mới. Tóm lại, ở đây dạy và học chỉ để đi thi, cả tâm lý xã hội
lẫn quản lý nhà nước về giáo dục chưa thoát khỏi triết lý giáo dục “hư văn, khoa
cử, quan trường”.
6. Đổi mới trong kiểm tra đánh giá:
Thực chất Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo của
đánh giá học sinh tiểu học, xuất phát từ quan niệm và mong muốn một nền giáo
dục lý tưởng, hướng tới những chuẩn mực, phương pháp giáo dục và đánh giá tiên
tiến trên thế giới đang áp dụng, đó là đánh giá học sinh tiểu học một cách toàn
diện, theo từng cá thể của từng trẻ để có lộ trình phát triển toàn diện, đánh giá cả
quá trình phát triển của trẻ, cả hành vi, thái độ, kỹ năng và kiến thức, không chỉ
dừng lại ở kết quả học tập và hạnh kiểm như truyền thống từ trước tới nay.
Vẫn có thể thấy rằng cơ sở, căn cứ và điều kiện để thực hiện đại trà chưa có,
chưa đầy đủ hoặc chưa đáp ứng được khiến cho việc triển khai đánh giá theo
phương pháp mới này trở nên bất khả thi và còn hình thức đối với phần lớn các
trường tiểu học hiện nay, điều kiện dạy – học còn nhiều hạn chế. Vì vậy cần phải
chú trọng cho các đơn vị căn cứ, cơ sở để thâm nhập từng cá thể cụ thể:
*Thứ nhất, căn cứ, cơ sở để thực hiện việc đánh giá toàn diện học sinh là
thông qua các môn học, các hoạt động giáo dục, hoạt động chính khoá và ngoại
khoá của học sinh để qua đó, các em được định hướng, được giáo dục việc hình
thành các hành vi, thói quen, kĩ năng, thái độ và kiến thức đúng đắn, hiện đại.
Nhưng thực tế hiện nay, chương trình áp dụng đại trà vẫn chủ yếu chỉ quanh
quẩn mấy môn học kiến thức căn bản, kiến thức tương đối lý thuyết, thiếu cập
nhật các môn học như mỹ thuật, thể thao, âm nhạc, đạo đức, kĩ năng sống (chưa
có chính thức) hầu như chỉ dừng lại ở hình thức vì nội dung đã quá cũ kĩ và giáo
điều; các hoạt động thực hành kĩ năng và thái độ hầu như rất ít; hoạt động ngoại
khoá, vui chơi mang tính giáo dục gần như không có.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 12

viết bằng tiếng Việt chứ không phải tiếng Anh, nghĩa là chỉ dành cho người Việt
Nam. Người mình không thấy đó là một điều sỉ nhục mà chỉ thấy “ngồ ngộ”. Ta
cũng phải thừa nhận nhiều khi ăn theo kiểu tự phục vụ, ta thường lấy nhiều thức ăn
rồi bỏ phí phạm ở đĩa ăn, một thói quen rất xấu mà ta không giáo dục từ khi còn ở
nhà trường. Vì vậy dạy chữ không được quên dạy người. Con người có học phải là
con người tử tế, phải biết xấu hổ với các hành động không tốt, không đẹp, nhà
trường không thể chỉ dạy chữ, dạy kiến thức, mà còn phải dạy người. Thực tế xưa
nay nhà trường nào cũng làm như thế cả, dù gián tiếp hay trực tiếp, dù có ý thức
hay vô ý thức. Cái khác nhau chỉ là ở nội dung và cách dạy người. Dạy cho thanh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 13
thiếu niên thành người như thế nào, đó là chỗ khác cơ bản giữa nhà trường lạc hậu
và nhà trường hiện đại, tiên tiến.
Tóm lại thực tế đạo đức của học sinh chúng ta hiện nay là vấn đề đáng lo
ngại khi các em dần lên các lớp học lớn hơn.
8. Xác định mục tiêu cấp học:
Để chấn chỉnh những lệch lạc của giáo dục phổ thông một cách hiệu quả, cần
xây dựng và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của học sinh ngay từ trường tiểu
học, chú trọng đến đến sức khỏe, năng khiếu, nề nếp, tình cảm và trách nhiệm; đặt
những nền tảng căn bản cho trẻ một cách vững chắc về đọc, viết, tính toán và cung
cấp những kiến thức về môi trường xung quanh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên theo
sở thích của trẻ. Ở bậc trung học cơ sở cần giúp học sinh phát triển những phẩm
chất có được từ tiểu học, làm việc và học tập có phương pháp, có suy luận. Đây là
giai đoạn phải tập luyện cho học sinh hoàn thiện các yếu tố căn bản về tính cách,
phương pháp học tập và tư duy độc lập để chuẩn bị tiếp nhận một khối lượng nội
dung kiến thức cao hơn, nặng hơn ở cuối chương trình giáo dục phổ thông. Ở bậc
trung học phổ thông, không còn thời gian để chú trọng nhiều vào tính cách, kỹ năng
phương pháp, năng khiếu và kiến thức cơ bản như các bậc học, cấp học trước đó

việc giúp đỡ nâng cao năng lực chuyên môn giáo viên giữa các trường, trong năm,
phải thường xuyên trao đổi tài liệu, thông tin chuyên môn,… những việc làm ấy rất
có ích đối với mỗi giáo viên. Các giáo viên giỏi có điều kiện để trau dồi chuyên
môn và giúp đỡ đồng nghiệp; các giáo viên khác có điều kiện học hỏi thêm, hoặc
được giải đáp bằng ý kiến thống nhất của tập thể về những điều còn băn khoăn,…
VI. Kết quả nghiên cứu:
Đề tài trên tôi đã nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn trong công tác lãnh chỉ
đạo và kết quả trong học kỳ I vừa qua chất lượng giáo dục trên toàn huyện cụ thể
như:
Chất lượng học sinh học kỳ I - Năm học 2014-2015 ( Đánh giá Theo
Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 Ban hành Quy định đánh giá học
sinh tiểu học)
TT Nội dung
Tổng số
học sinh
Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5
I. Kết quả học tập
1
Tiếng Việt 1928 408 339 388 436 357
- Hoàn thành 1701 370 305 332 382 312
- Chưa hoàn thành 227 38 34 56 54 45
2
Toán 1928 408 339 388 436 357
- Hoàn thành 1696 376 314 328 370 308
- Chưa hoàn thành 232 32 25 60 66 49
3
Đạo đức 1928 408 339 388 436 357
- Hoàn thành 1923 405 338 388 436 356
- Chưa hoàn thành 5 3 1 0 0 1
4

- Chưa hoàn thành 4 3 1 0 0 0
11
Ngoại ngữ 918 283 368 267
- Hoàn thành 791 237 321 233
- Chưa hoàn thành 127 46 47 34
12
Tin học 770 234 294 242
- Hoàn thành 719 209 279 231
- Chưa hoàn thành 51 25 15 11
II. Năng lực 1928 408 339 388 436 357
- Đạt 1906 406 333 377 436 354
- Chưa đạt 22 2 6 11 0 3
III. Phẩm chất 1928 408 339 388 436 357
- Đạt 1924 406 338 388 436 356
- Chưa đạt 4 2 1 0 0 1
IV. Khen thưởng 776 197 160 142 140 137
Qua bảng thống kê cho thấy chất lượng giáo dục có sự chuyển biến so với
với năm học trước, số học sinh được xét khen thưởng học kỳ I, năm học 2014-2015
chiếm 40,24%.
7. Kết luận:

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 16
Hiện nay giáo dục tiểu học Việt Nam đang ở giai đoạn bắt đầu đổi mới, trong
đó các hoạt động tích cực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học đang được
từng bước triển khai như sắp xếp lại chương trình học hợp lý, thành lập các chuẩn
giáo viên tiểu học và đánh giá giáo viên theo chuẩn. Việc thành lập một hệ thống
đảm bảo chất lượng giáo dục tiểu học cần phải liên kết chặt chẽ với các hoạt động
nói trên, trong đó có sử dụng kinh nghiệm của các vùng miền về cơ chế đảm bảo

thức về quyền lợi và nghĩa vụ học tập. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội. Duy trì phong trào “Tiếng kẻng học bài”

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 17
8.3. Đối với nhà trường:
- Tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương các cuộc vận động của ngành, tăng
cường công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động dạy học, xây dựng kế hoạch bồi
dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng như các hoạt động ngoài
giờ lên lớp.
- Làm tốt mối quan hệ giữa nhà trường- gia đình và xã hội.
9. Tài liệu tham khảo:
TT Tài liệu tham khảo Ghi chú
1 Giải pháp giáo dục Hồ Ngọc Đại
2 Giáo dục Tiểu học đầu thế kỉ XXI Hồ Ngọc Đại
3 Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI
Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia
4 - Nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo bao gồm: Tham khảo ở Tài liệu
nghiên cứu NQHN lần thứ 6 BCHTW Đảng
Cộng sản Việt Nam, khóa XI.
NXB chính trị Quốc gia
5 Luật giáo dục Quốc Hội
6
Các báo cáo, kế hoạch và các văn bản chỉ đạo
của các cấp, các ngành

XI Phiếu đánh giá sáng kiến kinh nghiệm 18

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học
trên địa bàn huyện Tây Giang
Trang 19
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014-2015
I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT huyện Tây Giang
Tên đề tài: Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh tiểu học
huyện Tây Giang
1. Họ và tên tác giả: Nguyễn Quốc Kỳ
Chức vụ: Phó trưởng phòng
2. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a.Ưu điểm: b.Hạn chế:

3. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT huyện Tây
Giang thống nhất xếp loại:

Những người thẩm định: CHỦ TỊCH HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
Huỳnh Kim Tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status