DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD :
BTNMT :
COD :
DO :
ĐTM :
QCVN :
TCCP :
TNHH :
TSS :
TNHH :
UBND :
VWRAP:
Nhu cầu oxy sinh hóa
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhu cầu oxy hóa học
Oxy hòa tan
Đánh giá tác động môi trường
Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia
Tiêu chuẩn cho phép
Trách nhiệm hữu hạn
Tổng rắn lơ lửng
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
Dự án hỗ trợ Thủy lợi Việt Nam
Hình 14: Kết quả quan trắc TSS của hồ Kẻ Gỗ 45
Hình 15: Kết quả quan trắc BOD của hồ Kẻ Gỗ 45
Hình 16: Kết quả quan trắc COD của hồ Kẻ Gỗ 46
Hình 17: Kết quả quan trắc hàm lượng amoni của hồ Kẻ Gỗ 46
Hình 18: Nhu cầu dùng nước tưới hàng năm 50
Hình 19: Sơ đồ xử lý thông tin tổng thể tình huống khẩn cấp hồ Kẻ Gỗ 52
Hình 20: Bản đồ ngập lụt hạ du hồ Kẻ Gỗ trường hợp ngập lớn nhất 60
Hình 21: Vùng phá hoại ứng với trường hợp vỡ đập hồ Kẻ Gỗ 67
Hình 22: Bản đồ ngập lụt ứng với kịch bản đập chính bị vỡ 68
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tổng giá trị sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế 26
Bảng 2: Thông số thiết kế đập Kẻ Gỗ 39
Bảng 3: Các thông số chung của hồ Kẻ Gỗ 42
Bảng 4: Kết quả quan trắc chất lượng nước hồ Kẻ Gỗ năm 2013 43
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 3
1.1.
TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 3
1.2.
TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ,
PHÒNG NGỪA RỦI RO HỒ CHỨA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 10
1.2.1.
Tổng quan về các biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, phòng ngừa rủi ro
hồ chứa trên thế giới 10
1.2.2.
Tổng quan về các biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, phòng ngừa rủi ro
hồ chứa ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.1.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực hồ chứa 24
2.1.2. Khái quát chung Hồ Kẻ Gỗ 29
3.3.1. Công tác bảo trì, bảo dưỡng 51
3.3.2. Công tác vận hành xả lũ 52
3.4. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG
CỦA HỒ KẺ GỖ 58
3.5. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÙ HỢP CHO SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VÀ
AN TOÀN HỒ KẺ GỖ 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHẦN PHỤ LỤC 781
MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung
bình tương đối cao nhưng phân bố không đồng đều. Tính đến nay nước ta đã xây
dựng được trên 6500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m
3
trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m
3
hoặc đập cao trên
15m, 1752 hồ có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m
/s. Với trữ lượng
này hiện tại Hà Tĩnh đã phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ [22]. Tuy lượng nước sông
khá lớn nhưng việc sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt còn bị
hạn chế do bị khô cạn vùng thượng và nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt
vào mùa mưa. Trong những năm qua, tỉnh đã tích cực đẩy mạnh công tác kiên cố
hóa kênh mương, đến năm 2010 tổng số kênh mương được kiên cố hóa trên 50%,
diện tích chủ động tưới là 100.046 ha, tăng 13,68% so với năm 2005 [16].
2
Kẻ Gỗ là hồ chứa nhân tạo lớn nhất miền Trung, thuộc xã Cẩm Mỹ, huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Công trình được khởi công xây dựng từ năm 1976 đến
năm 1978 bắt đầu tích nước. Năm 1983 công trình hoàn thành và chính thức đưa
vào khai thác. Hồ dài 29 km với dung tích tối đa là 425 triệu m
3
. Hồ có nhiệm vụ
tích nước tưới cho 21.136 ha đất canh tác của hai huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên,
kết hợp nuôi cá và phòng chống lũ cho hạ du [12]. Những năm gần đây do ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu, nắng nóng liên tục gây hạn hán vào mùa khô và lượng
mưa tăng mạnh. Điển hình là trận lũ lớn cuối tháng tháng 10 năm 2010 đã khiến
nhiều khu vực ở Hà Tĩnh chìm sâu trong lũ, gây thiệt hại về người và vật chất hàng
nghìn tỷ đồng. Nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống đê đập, hằng năm cứ đến mùa
mưa Hồ Kẻ Gỗ bắt buộc phải xả lũ gây ngập úng trên diện rộng, thiệt hại không nhỏ
đến đời sống dân cư vùng hạ du.
Do đó, việc đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng hồ Kẻ Gỗ là rất cần thiết để
đưa ra biện pháp giảm thiểu thiệt hại khi sử dụng nhằm đảm bảo an sinh xã hội mà
vẫn giữ an toàn cho hồ chứa và hệ thống đê đập.
Tên đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng hồ Kẻ Gỗ tỉnh Hà Tĩnh
và đề xuất biện pháp khai thác hiệu quả, giảm thiểu rủi ro”.
Mục tiêu đề tài
các đối tượng dùng nước khác nhau, do mạng lưới sông suối phát triển, tiếp cận
thuận tiện, nước tái tạo liên tục về lượng và về chất, chất lượng nước đa phần phù
hợp với các nhu cầu dùng nước khác nhau. Nhân tố hình thành dòng chảy là tổ hợp
tác động khí hậu, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, thực vật và nhân sinh. Dòng chảy
phân bố không đều theo không gian và thời gian. Chế độ nước trong đa phần các
sông suối phân hóa thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt. Dòng chảy mùa lũ
lớn, hình thành chủ yếu bởi dòng cấp trên bề mặt sườn dốc, chảy nhanh và mạnh,
tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai biến, gọi là tài nguyên nước không ổn định, hay tài
nguyên nước tiềm năng. Con người chỉ khai thác được nó nếu có những giải pháp
giữ nó lại lâu hơn trong lưu vực, ví dụ như dùng hồ chứa nhân tạo, trồng rừng đầu
nguồn. Mức độ dùng nước của con người phụ thuộc vào nhu cầu, mức sống, văn
hóa, khả năng khai thác của công nghệ, tài chính và khả năng đáp ứng của tự nhiên.
Tổng mức tiêu thụ nước của nhân loại hiện đạt khoảng 35.000 km
3
/năm, trong đó
8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho nông nghiệp[3]. Nhu cầu dùng
nước của con người tăng theo thời gian do tăng dân số và tăng mức sống. Về mặt
sinh lý, mỗi người chỉ cần 1-2 lít nước mỗi ngày, nhưng để đáp ứng cho các nhu cầu
khác trung bình mỗi người cần 250 lít/ ngày cho sinh hoạt, 1.500 lít cho hoạt động
4
sản xuất công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Cùng với sự nâng cao
mặt bằng mức sống, những cảnh quan liên quan với nước như mặt hồ, thác nước,
sông ngòi tự nhiên cũng ngày càng nâng cao giá trị, làm tăng giá thành nước cấp
tiêu thụ.
Hồ là những phần trũng của địa hình có nước tĩnh thường xuyên. Trên thế
giới có khoảng 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó có 145 hồ có diện tích mặt nước trên
100km
2
có hơn 1.000 đập. Năm 1992, Trung Quốc đã tiến hành công trình trên sông Dương
Tử trị giá 30 tỷ USD với đập nước cao 185m có chức năng cấp nước, điều tiết lũ,
cung cấp điện (12% nhu cầu toàn quốc). Công trình làm 1,3 triệu người phải di dời
và ngập 41.000 ha đất nông nghiệp[13]. Trên thế giới đã xây dựng hơn 10.000 hồ
chứa, phục vụ nhiều mục đích kinh tế xã hội như: sản xuất điện tiêu thụ, trữ và cấp
nước tưới cho các vùng đất nông nghiệp, điều tiết chế độ dòng chảy, cắt lũ và tăng
cường dòng chảy kiệt, cải thiện hệ sinh thái, Các lợi ích trên đã góp phần quan
trọng cho sự phát triển ở nhiều nước, tuy nhiên, cũng có những đập không đáp ứng
được sự mong đợi về mặt tài chính, kỹ thuật và kinh tế như dự kiến, đặc biệt là khi
so sánh với các giải pháp thay thế khác có thể thực hiện được. Đồng thời những tác
động bất lợi của việc xây dựng đập về mặt môi trường, sinh thái và xã hội vượt xa
dự kiến ban đầu, dẫn đến gia tăng mức phản đối của cộng đồng đối với việc xây
đập. Do đó xu thế phát triển nhanh các hồ đập đã chững lại tại các quốc gia phát
triển. Thậm chí một số đập đã xây dựng cũng bị hủy bỏ, ví dụ như Mỹ đã loại bỏ
hơn 500 đập nhỏ trong những năm gần đây. Hơn một nửa số đập thủy điện trên toàn
thế giới đã được quy hoạch và xây dựng bỏ qua việc đánh giá tác động môi trường
một cách đầy đủ [13]. Do đó, nhiều vấn đề môi trường đã xảy ra trong vùng thượng
và hạ lưu đập, cả trên khu vực và trong thủy vực, tác động xấu đến hệ sinh thái,
điều kiện tự nhiên và con người.
Các hồ chứa đã làm giảm tốc độ đổi mới nước sông toàn cầu 3-4 lần, 80% hồ
chứa có hiện tượng phì dưỡng trong những năm đầu. Cá trong hồ chứa sẽ khác so
với cá trong sông tự nhiên, nói chung lượng cá lúc đầu tăng rất nhanh, nhưng sau đó
lại giảm, do năng suất tổng thể thấp hơn trong tự nhiên, đập chắn ngang sông ngăn
cản sự di cư của thủy sinh. Giải pháp sử dụng các bậc thang cho cá vượt ngàn được
sử dụng hiện quả đối với cá hồi, nhưng không có hiệu quả đối với các loài cá nhiệt
đới.Biển hồ Aran, lớn thứ 4 trên thế giới, đang bị mặn hóa và thu hẹp, hệ sinh thái
nước và hệ sinh thái trên cạn vùng quanh hồ bị khủng hoảng nghiêm trọng. Nguyên
6
đáng trước. Hệ quả thường thấy là nảy sinh mâu thuẫn giữa người bị di dời với
chính quyền và nhà đầu tư, giữa người bị di dời với dân cư gốc vùng tái định cư.
Tính đến nay nước ta đã xây dựng được trên 6500 hồ chứa thủy lợi với tổng
dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m
3
trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước
lớn hơn 3 triệu m
3
hoặc đập cao trên 15m, 1752 hồ có dung tích từ 0,2 triệu đến 3
triệu m
3
nước, còn lại là những hồ đập nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m
3
nước.
Nhận định chung là hơn một nửa trong tổng số hồ đã được xây dựng và đưa vào sử
dụng trên 25 – 30 năm, nhiều hồ đã bị xuống cấp. Những hồ có dung tích từ 1 triệu
m
3
nước trở lên phần lớn do Bộ Thủy lợi (trước đây) và Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn (hiện nay) quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế và thi công. Các hồ có
dung tích từ 1 – 10 triệu m
3
nước phần lớn là do UBND tỉnh quản lý vốn, kỹ thuật
thiết kế thi công. Các hồ nhỏ phần lớn do huyện, xã, hợp tác xã, nông trường tự bỏ
vốn xây dựng và quản lý kỹ thuật. Những hồ tương đối lớn được đầu tư tiền vốn và
kỹ thuật tương đối đầy đủ thì chất lượng xây dựng đập đạt được yêu cầu. Còn
những hồ nhỏ do thiếu thiết bị thi công, lực lượng kỹ thuật và nhất là kinh phí đầu
tư không đủ nên chất lượng đập chưa tốt, mức độ an toàn rất thấp.
Ngoài vai trò quan trọng nhất của hồ chứa là cấp nước cho các mục đích
các chất hữu cơ đơn giản, dễ bay hơi như etanol, các axit béo như axit axetic, axit
butyric, axit lactic, và các khí gas CO
2
, H
2
, NH
3
; độ pH giảm xuống dưới 5. Giai
đoạn 2 là sự lên men, phân hủy các axit béo hữu cơ và các hợp chất hữu cơ chứa
Nitơ, pH của môi trường tăng dần lên. Ở giai đoạn 3, các sản phẩm như axit béo và
các hợp chất chứa Nitơ tiếp tục bị phân hủy bởi các vi khuẩn tạo ra nhiều CO
2
, CH
4
.
Độ pH của môi trường tăng lên và chuyển sang môi trường kiềm. Như vậy, sự suy
giảm nồng độ oxi tới mức thiếu hụt cho các chu trình hiếu khí kéo theo hàm lượng
của các ion kim loại trong cột nước tăng, nếu dùng làm nguồn nước cấp cho khu
dân cư sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
Hiện tượng phú dưỡng là một dạng biểu hiện của ao hồ bị ô nhiễm do dư
thừa các chất dinh dưỡng nitơ và phốt pho. Sự dư thừa các chất dinh dưỡng này sẽ
thúc đẩy sự phát triển của các loại tảo, rong rêu, dẫn đến hiện tượng “tảo nở hoa”
làm tăng các chất lơ lửng, chất hữu cơ, làm suy giảm lượng oxy trong nước. Các
loại sinh vật này sau khi chết sẽ phân hủy tạo ra một lượng lớn các hợp chất hữu cơ,
9
khi các thực vật bùn lắng xuống hồ, cộng với sự phát triển mạnh của các loài thực
vật ở ven bờ làm cho ao hồ ngày càng nông và mặt hồ dần bị thu hẹp, cuối cùng sẽ
biến thành đầm lầy. Một số hồ bị phú dưỡng nghiêm trọng như hồ Dầu Tiếng (Tây
đầu tư ít nên chất lượng của các đập loại nhỏ là không đảm bảo. Việc xây dựng qua
nhiều năm cộng với mưa lũ triền miên không có kinh phí duy tu bảo dưỡng. Công
trình tràn không được xây dựng bằng vật liệu kiên cố như bê tống cốt thép nên
nhiều công trình không đủ khả năng xả khi có lũ lớn, nguy cơ nước lũ tràn qua đập
của các hồ này là rất cao. Thực tế những sự cố vỡ đập trong những năm vừa qua ở
nước ta đều là những hồ chứa nhỏ. Tuy nhỏ nhưng nhiều hồ chứa khi xảy ra sự cố
vỡ đập đã gây ra những thiệt hại vô cùng lớn, điển hình như vỡ đập Z20 (Hà Tĩnh)
với sức chứa 250.000 m
3
làm trôi gần 500mđường sắt Bắc Nam gây gián đoạn tàu
hàng tháng trời;vào đầu những năm 80, vỡ đập ở nông trường Đắc Lắc chứa
500.000 m
3
làm chết 27 người. Những ví dụ trên đây cho thấy tầm quan trong cực
kỳ to lớn của công tác an toàn đập ở nước ta.
Đối với những đập lớn được thiết kế và xây dựng bằng những lực lượng kỹ
thuật chuyên nghiệp, được quản lý bởi những tổ chức chính quy của Nhà nước thì
có thể đảm bảo mức an toàn trong giới hạn của tần suất thiết kế kể cả trường hợp có
lũ và động đất. Trong trường hợp lũ vượt tần suất hoặc động đất xảy ra lớn hơn tiêu
chuẩn tính toán thì các đập thủy lợi làm bằng đất mức độ an toàn kém hơn các công
trình làm bằng bê-tông. Đối với những đập nhỏ không đạt được những yêu cầu kỹ
thuật và quản lý theo đúng các tiêu chuẩn và quy chuẩn thì nguy cơ mất an toàn của
đập là rất cao.
1.2. TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG HIỆU
QUẢ, PHÒNG NGỪA RỦI RO HỒ CHỨA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.2.1. Tổng quan về các biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, phòng ngừa rủi
ro hồ chứa trên thế giới
Trên thế giới, phương pháp đánh giá rủi ro môi trường cho hệ thống hồ chứa
đã và đang được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở Mỹ, Ca-na-đa và các nước khối cộng
nghiệm trên 10 con đập với các báo cáo nghiên cứu (KBR 2002) có sẵn trên trang
web của Defra từ năm 2002 đến năm 2007. Tiếp đó, “Hướng dẫn sơ bộ để đánh giá
12
rủi ro và định lượng cho hồ chứa” (Brown và Gosden 2004) được xuất bản như áp
dụng giai đoạn hai, với mục đích để cung cấp một công cụ quản lý quan toàn hồ
chứa bằng việc sử dụng mức sàng lọc và ra quyết định bởi các chuyên gia giàu kinh
nghiệm dựa trên xác suất xảy ra hàng năm, hậu quả và khả năng dung nạp của các
hồ chứa. “Hướng dẫn sơ bộ” được tìm thấy như là một bước khởi đầu tốt trong việc
giới thiệu các khái niệm về sự sàng lọc các mức độ định lượng công cụ đánh giá rủi
ro để hỗ trợ trong việc quản lý an toàn đập tại Anh [25].
Quá trình bồi lắng ở hồ chứa vẫn đang diễn ra tại các đập nước trên trái đất.
Tổng dung lượng lưu trữ trên thế giới hiện nay là 6.000 km
3
với 45.000 đập lớn
(cao hơn 15m), tổng dung lượng mất đi khoảng 570 km
3
(12%) và tốc độ lắng hàng
năm 31 km trong 3 năm (0,52%/năm). Ở nhiều quốc gia, các biện pháp đối phó đã
được triển khai để giảm tích tụ trầm tích và giảm trữ lượng. Ví dụ như giảm dòng
chảy bồi lắng bằng cách kiểm soát xói mòn và chặn trầm tích từ thượng nguồn, loại
bỏ cặn lắng bằng xả thủy lực, nạo vét thủy lực hoặc đào khô. Trầm lắng được vòng
qua và xả nước được coi là những biện pháp khắc phục về lâu dài. Trên thế giới đã
có một số các đường hầm được xây dựng nhưng số lượng khá hạn chế bởi các yếu
tố như địa hình, thủy văn và kinh phí. Tuy nhiên, các kênh đào ngang qua có nhiều
lợi thế ví dụ như có thể xây dựng ngay tại các đập hiện có và ngăn chặn sự mất
nước hồ chứa gây ra bởi sự giảm mực nước hồ. Đây cũng được coi là có tác động
nhỏ đến môi trường ở hạ du do dòng chảy có thể tự do đi qua kênh trong thời gian
ngập lụt. Tại Nhật Bản, các đường hầm của đập Nunobiki (hoàn thành năm 1908)
CaMa-Flood, một mô hình định tuyến sông biểu hiện cho của động lũ lụt. Mô hình
kết hợp H08-CaMa đã được áp dụng để mô phỏng và đánh giá các quy tắc vận hành
hồ chứa trong lịch sử và thay thế ở hai hồ chứa lớn nhất trong lưu vực. Mô hình kếp
hợp H08-CaMa đã mô phỏng tác động của trận lũ năm 2011: dòng chảy được quy
định tại trạm đo hàng ngày có hệ số 92% so với xả quan sát, mức độ mô phỏng
ngập lụt tốt nhưng kết quả quan sát từ vệ tinh. Kết quả mô phỏng cho thấy, thông
qua các hoạt động hồ chứa năm 2011 lượng lũ giảm 8,6 tỷ m
3
, diện tích và chiều
sâu ngập lụt giảm 40% trên mức trung bình. Tuy nhiên, thay đổi đơn giản trong vận
hành hồ chứa đã chứng tỏ là có thể giảm thêm 2,4 triệu m
3
và 20% diện tích và
chiều sâu ngập lụt. Tóm lại, bằng mô hình vận hành hồ chứa kết hợp với mô hình
thủy động lực học, có thể thấy tiềm năng của việc giảm thiểu ngập lụt thông qua cải
thiện chất lượng quản lý hồ chứa [27].
Hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng như việc
duy trì cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, vấn đề an ninh vận hành hồ chứa cần được
14
nghiên cứu để đảm bảo lợi ích toàn diện có thể được tác động một cách thỏa đáng.
Qua tham khảo ý kiến các kết quả nghiên cứu có liên quan, J. Feng và nhóm nghiên
cứu thấy rằng đa số các học giả ở Hong Kong chỉ giới hạn liên quan đến nghiên cứu
về an ninh một số thành phần của hồ chứa hoặc nghiên cứu các câu hỏi còn tồn
đọng để trực tiếp hướng dẫn vận hành hồ chứa. Cụ thể hơn, các học giả đã không
xem xét vấn đề hoạt động và an toàn hồ chứa ở góc độ tình hình chung mà chỉ nhấn
mạnh một số khía cạnh của hoạt động hồ chứa. Có ba khía cạnh của nội dung an
toàn vận hành hồ chứa, đó là vi mô, trung gian và vĩ mô. Khía cạnh vi mô là an ninh
hệ thống hồ chứa bao gồm sự an toàn của công trình và thiết bị phụ trợ, hiệu quả
điều kiện hình thành dòng chảy và điều kiện cần cho quá trình tự làm sạch. Đặc biệt
là hệ quả của suy thoái, khủng hoảng môi trường và biến động khí hậu toàn cầu phá
vỡ các quy luật tự nhiên chi phối các quá trình nước nói chung và dòng chảy sông
ngòi nói riêng; cạn kiệt nguồn nước và khủng hoảng hệ sinh thái.
Theo khảo sát của Viện Khoa học Thủy lợi kết hợp với các chuyên gia Nhật
Bản, hầu hết môi trường nước tại các hồ chứa ở Việt Nam có dấu hiệu bị ô nhiễm
vô cơ, hữu cơ, hiện tượng kỵ khí, đặc biệt là hiện tượng phú dưỡng. Một số biện
pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước hồ chứa đã được áp dụng như sử dụng khả
năng xử lý phú dưỡng của bèo tây, ngổ trâu, rau muống, cải soong. Ngoài ra một số
giải pháp tình thế như giăng lưới gom tảo chết trên mặt hồ, vớt rác, thả cá mè xuống
hồ, trồng hoa sen, hoa súng để hạn chế tình trạng ô nhiễm, tuy nhiên kết quả không
được rõ rệt. Một số biện pháp được đề xuất như sử dụng bè thực vật, xây dựng hệ
thống lọc ngập nước, sử dụng thiết bị sục khí tầng sâu, Từ năm 2012, được sự tài
trợ từ phía Nhật Bản cùng với Viện Khoa học Thủy Lợi đã có các đề án nghiên cứu
các bộ phận cải tạo hồ chứa ở Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát 600 hồ chứa, dự án đã
chọn hồ Trọng Đầm (Việt Trì) để thí điểm áp dụng phương pháp sục khí và ứng
dụng công nghệ của Nhật Bản. Công nghệ này bao gồm các loại thiết bị sục khí
khác nhau như thiết bị sục khí tầng nông là giải pháp tốt trong việc hạn chế sinh
trưởng các loại rong tảo trên mặt hồ, thiết bị sục khí tổng thể làm đồng đều nhiệt độ
nước hồ đồng thời làm tăng nồng độ oxy hòa tan tầng đáy, thiết bị sục khí tầng sâu
cũng có chức năng tương tự nhưng hoạt động hiệu quả hơn ở đáy hồ. Thiết bị sục
16
khí tầng nông hoạt động theo nguyên tắc trong quá trình sục khí phát sinh ra dòng
chảy cưỡng bức khiến cho tảo và hoa nước di chuyển xuống dưới, thiếu ánh sáng
ảnh hưởng đến quá trình quang hợp khiến cho chúng bị chết đi. Do nước nóng có tỷ
trọng lớn hơn nên luôn nằm trên, tạo ra sự phân tầng về nhiệt độ, thiết bị sục khí
toàn thể làm xáo trộn dòng nước, khiến cho nhiệt độ thống nhất ở các tầng sâu khác
nhau, ngoài ra còn làm thay đổi nồng độ oxy hòa tan trong nước. Thiết bị được đặt
công trình thủy điện Đăk Rông 3 (Quảng Trị), vỡ đường ống áp lực công trình thủy
điện Đăm Bol – Đạ Tẻl (Lâm Đồng), đổ tường chắn thủy điện Đăk Mêk 3 (Kom
Tum) và gần đây nhất là sự cố vỡ đập thủy điện Ia Krel 2 (Gia Lai) lần 2. Do mưa
lớn kéo dài kết hợp với lũ từ thượng nguồn đổ về làm mực nước hồ, nước sông
dâng cao trên mức an toàn, gây hiện tượng vỡ đập, vỡ đê, ảnh hưởng đến đời sông
dân sinh.
Hiện nay ở các nước tiên tiến trên thế giới, trước khi quyết định xây dựng
một hồ chứa nước, vấn đề an toàn hồ, đập được quan tâm đặt lên hàng đầu và tất cả
các hồ chứa được xây dựng đều phải nghiên cứu đến trường hợp khi xảy ra sự cố vỡ
đập thì phạm vi ảnh hưởng đến đâu, đâu là khu vực bị thiệt hại nặng nhất để từ đó
có biện pháp phòng tránh giảm thiểu. Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng
có một số nghiên cứu về an toàn đập đã được thực hiện ở Viện Quy hoạch Thủy lợi,
Viện Khoa học Thủy lợi, xem xét đánh giá một phần các tác động do lũ xảy ra đối
với các vùng nghiên cứu như trường hợp lưu vực sông Hồng, sông Hương do Viện
Khoa học Thủy lợi thực hiện; lưu vực sông Srepok do Viện Quy hoạch Thủy lợi
thực hiện; nghiên cứu, đánh giá mô hình vỡ đập Hàm Thuận – Đa Mi đến hạ lưu
sông La Ngà do Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Hiện nay, việc ứng dụng các
mô hình toán để tính bài toán vỡ đập trong hệ thống sông và các công trình trên
sông ngày càng phổ biến như MIKE 11 (Mô-đun vỡ đập), HEC_RAS (Mô hình
thủy lực một chiều), FLDWAV (Mô hình tính toán thủy lực của Hoa Kỳ), Trong
số đó, mô hình MIKE cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về các sự kiện vỡ đập mô
phỏng lũ lụt, kết hợp với đồ họa nâng cao của bản đồ ngập lụt giúp hình dung sự
chuyển động của sóng lũ trong sự biến đổi của thời gian và không gian [12].
Việc lập quy hoạch nguồn nước ở nước ta đã bắt đầu từ những năm 60.
Những quy hoạch lớn nhu quy hoạch khai thác nguồn nước sông Hồng, các quy
hoạch phòng lũ, tiêu úng và cấp nước đã được thực hiện với một số lượng lớn.
Những dự án quy hoạch được thực hiện từ năm 1960 đến nay đã làm thay đổi căn
18
nên chất lượng hồ, đập đang xuống cấp rất nhanh. Nếu không được kiểm soát về
chất lượng, độ an toàn, những công trình này là những "quả bom" đe dọa tính mạng,
tài sản đối với người dân. Nguyên nhân chủ quan vẫn là do các cấp, các ngành chưa
19
chủ động quan tâm duy tu bảo dưỡng, thậm chí có nơi buông lỏng công tác quản lý
nhà nước, đặc biệt là cấp huyện chưa làm hết vai trò, trách nhiệm trong quản lý, sử
dụng và bảo vệ công trình thủy lợi. Việc triển khai thực hiện phân cấp ở các địa
phương rất chậm, chưa thực sự quyết liệt, còn rất lúng túng, chưa cụ thể, thiếu sâu
sát, chưa bám sát các quy định để tập trung chỉ đạo thực hiện.
Nhiều chuyên gia thủy lợi, thủy điện cũng lên tiếng, việc ứng phó, vận hành
hồ chứa trong điều kiện khẩn cấp hiện nay cần phải xem lại. Cụ thể là với quy trình
xả lũ bất thường, không có kịch bản, thời gian thông báo xả lũ quá ngắn so với thời
gian lũ về, không tính toán được lưu lượng, tần suất lũ càng làm tăng thêm thiệt hại,
ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội của người dân trong khu vực. Hầu hết hệ
thống các hồ chứa nước có dung tích dưới 1 triệu m
3
đến nay chưa có chủ quản lý
cụ thể, công tác quản lý và sử dụng nguồn thủy lợi phí cấp bù cho các địa phương
chưa chặt chẽ, các địa phương chưa chủ động kiểm tra, phát hiện, xử lý và huy động
nguồn lực để sửa chữa kịp thời các hư hỏng công trình thủy lợi, nhất là các hồ, đập
nhỏ. Mối quan hệ giữa các ngành, các cấp còn thiếu đồng bộ, trách nhiệm của các
chủ quản lý hồ chứa chưa cao, tình trạng vi phạm hành lang quản lý các hồ chứa
còn phổ biến. Liên quan đến quy định hiện hành về quản lý chất lượng công trình
xây dựng, theo Nghị định 209/2004 của Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước chỉ
cho ý kiến về thiết kế cơ sở, do vậy thiếu kiểm tra, kiểm soát các giai đoạn tiếp theo
như thiết kế kỹ thuật, thi công xây dựng và nghiệm thu công trình.
Đến nay Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ
Công thương đã ban hành các pháp lệnh, nghị định, thông tư có liên quan đến công
không tuân thủ chặt chẽ theo quy định. Theo Nghị định 209/2004 của Chính phủ về
quản lý chất lượng công trình xây dựng, cơ quan quản lý nhà nước chỉ cho ý kiến về
thiết kế cơ sở, các giai đoạn tiếp theo đều do chủ đầu tư quyết định nên thiếu kiểm
tra, kiểm soát đặc biệt ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật, thi công xây dựng và nghiệm
thu. Thực tế này đã phần nào lý giải nguyên nhân tại sao các công trình thủy điện,
thủy lợi nhỏ tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng.
Vì vậy, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành quy
định xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong quản lý vận hành hồ đập thủy điện,
thủy lợi. Ngoài ra, cần có các chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học nhằm