đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung tại huyện bình lục – tỉnh hà nam - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

 NGUYỄN THỊ THOA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
CÁC CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TẬP TRUNG
TẠI HUYỆN BÌNH LỤC – TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG


CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HOÀNG THÁI ĐẠI HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,
các số liệu điều tra và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này
trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được
cảm ơn và các số liệu, thông tin được trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn


hiện Luận văn.
Một lần nữa Tác giả xin trân trọng cám ơn tất cả sự giúp đỡ quí báu đó.
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thoa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1.3.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến tới tính bền vững của các công trình
cấp nước 15

1.4. Tình hình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại Hà Nam 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.4.1. Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại Hà Nam 17

1.4.2. Kết quả thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt tại Hà Nam đến
năm 2014 17

1.4.3. Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung trên
địa bàn tỉnh Hà Nam 18

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1. Đối tượng nghiên cứu 19

2.2. Phạm vi nghiên cứu 19

2.3. Nội dung nghiên cứu 19

2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến
công tác quản lý và sử dụng các công trình cấp nước tập trung trên địa
bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 19

2.3.2. Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập
trung huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 19

3.2. Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 29

3.2.1. Các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn huyện Bình Lục,
tỉnh Hà Nam 29

3.2.2. Bộ máy tổ chức quản lý, vận hành, bảo dưỡng công trình 31

3.2.3 Đánh giá chất lượng nguồn nước của các công trình 32

3.2.4. Công nghệ sử dụng tại các công trình cấp nước tập trung 41

3.2.5. Đánh giá chung hiệu quả quản lý, sử dụng của các công trình
CNTTNT theo phương pháp trọng số 46

3.3. Dự báo nhu cầu sử dụng nước của người dân huyện Bình Lục 48

3.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng các công trình cấp nước 48

3.4.1. Công tác quy hoạch 48

3.4.3. Công tác lập dự án và hồ sơ thiết kế 49

3.4.4. Công tác xây dựng công trình 49

3.4.5. Công tác quản lý, vận hành 49

3.4.6. Về tài chính 50

3.5. Đề xuất quy trình quản lý các công trình CNTTNT áp dụng tại huyện

dụng từ Công trình cấp nước số 0, xã Tiêu Động 34
Bảng 3.5 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
dụng từ Công trình cấp nước số 1, xã Tiêu Động 35
Bảng 3.6 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
dụng từ Công trình cấp nước thị trấn Bình Mỹ 36
Bảng 3.7 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
dụng từ công trình cấp nước số 1 khu C huyện Bình Lục 37
Bảng 3.8 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
dụng từ Công trình cấp nước số 2 khu C huyện Bình Lục 38
Bảng 3.9 Chất lượng nước cấp và chất lượng nước tại các hộ gia đình sử
dụng Công trình cấp nước xã Bồ Đề, huyện Bình Lục 39
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ bền vững của các công trình
cấp nước tập trung 47

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

Hình 3.1 Công nghệ sử dụng tại các công trình cấp nước thị trấn Bình Mỹ 41
Hình 3.2 Công nghệ sử dụng tại công trình cấp nước xã Bồ Đề 43
Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ sử dụng tại công trình cấp nước số 0, số 1 xã
Tiêu Động 44
Hình 3.4 Công nghệ sử dụng tại các công trình cấp nước số 1, số 2 huyện
Bình Lục 45

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong chính sách phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường trong thời kỳ công
nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay. Trong những năm qua, cung cấp nước sinh hoạt
nông thôn nhận được sự quan tâm lớn của Nhà nước cùng sự giúp đỡ của các tổ
chức quốc tế và sự đóng góp của người dân. Theo báo cáo kết quả thực hiện
Chương trình MTQG Nước sạch & VSMTNT đến cuối năm 2013 cả nước có 83%
dân số được tiếp cận với nước hợp vệ sinh, trong đó tỷ lệ người dân nông thôn được
cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung chỉ khoảng 40%, phần còn lại chủ
yếu từ các công trình nhỏ lẻ, hộ gia đình. Để đạt được mục tiêu Chiến lược Quốc
gia Nước sạch & VSMTNT đến 2020 “ Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch
đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít/người-ngày”, đòi hỏi
Việt Nam phải có nhiều nỗ lực hơn nữa.
Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có địa
hình trũng. Nước sinh hoạt của người dân được lấy từ 3 nguồn nước là nước mưa,
nước ao hồ, sông lạch tự nhiên, nước giếng làng (từ nước ngầm tầng nông). Từ năm
2000 đến nay, nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ, các nhà tài trợ và sự ưu tiên trong chính
sách đầu tư của địa phương mà nhiều công trình cấp nước tập trung đã và đang
được xây dựng nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, hiện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nhu cầu dùng nước ở vùng nông thôn Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Việt
Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng
nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoang, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý.
Tuy nhiên, chỉ có 70% dân cư đô thị Việt Nam được cấp nước sạch còn người dân
nông thôn hay các vùng miền xa xôi vẫn phải đến các vùng sâu vùng xa để tìm
nguồn nước sạch. Theo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam
2010-2011, ở khu nông thôn, tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỷ
lệ 75%, tức là 25% người dân nông thôn vẫn đang phải hàng ngày sống chung với
những nguồn nước không an toàn.
Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên - Môi trường, trung bình mỗi
năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh
kém. Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hàng năm gần 200.000 người mắc bệnh
ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô
nhiễm môi trường nước. Mỗi năm có 4 tỷ ca mắc bệnh tiêu chảy trên toàn thế
giới,1,5 triệu ca tử vong do bệnh tiêu chảy mỗi năm vì nước không an toàn, vệ sinh
môi trường và vệ sinh cá nhân kém.10% dân số ở các nước đang phát triển bị ảnh
hưởng bởi giun sán; 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột, một bệnh phổ biến ở
các cộng đồng nông thôn nghèo thiếu phương tiện vệ sinh cá nhân cơ bản, thiếu
nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường; 200 triệu người trên thế giới bị ảnh
hưởng do bệnh sán máng, một căn bệnh cũng phổ biến do điều kiện vệ sinh thấp
kém gây ra. Gần 1/10 gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới có thể được ngăn ngừa

những vùng có lượng mưa lớn xen kẽ các vùng có lượng mưa nhỏ trong phạm vi
toàn lãnh thổ.
- Theo các tài liệu khí tượng thì nhìn chung, lượng mưa năm trung bình năm
ở Việt Nam biến đổi trong phạm vi khá lớn, từ 600 ÷ 800mm ở vùng ven biển miền
Trung (Bình Thuận, Ninh Thuận) đến trên 4.000 ÷ 5.000mm ở các vùng Bắc
Quang, Nam Châu lãnh, Trà Mi - Ba Tơ Phần lớn lãnh thổ Bắc Bộ, Tây Nguyên
và Nam Bộ có lượng mưa năm trong khoảng 1.600mm ÷ 2.400mm, trong đó:
+ Đồng bằng Bắc Bộ: 1.600 ÷ 1.800mm
+ Đồng bằng Nam Bộ: 1.400 ÷ 2.800mm
- Một đặc điểm của mưa là sự phân bố không đều theo thời gian trong năm,
chia 2 mùa rõ rệt phụ thuộc vào 2 mùa gió chính, đó là mùa mưa và mùa khô (mùa
mưa ít). Hai mùa này khác nhau về lượng mưa, thời gian xuất hiện và kết thúc mưa,
thời gian mưa và độ ổn định tương đối của mưa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

- Mưa trong mùa khô chủ yếu là mưa phùn, lượng mưa không đáng kể vì vậy
không có ý nghĩa với cung cấp nước. Mưa lớn thường xuyên có khả năng xảy ra
trong mùa mưa với cường độ mạnh.
Nhận xét: Mùa mưa kéo dài khoảng 4 ÷ 6 tháng ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và
Nam Bộ. Ở phía đông Trường Sơn, mùa mưa rất ngắn, chỉ kéo dài khoảng 3 tháng.
Vì vậy, việc sử dụng nguồn nước mưa để cấp nước cho ăn uống là có thể được
nhưng để mục đích sinh hoạt khác thì không thể thỏa mãn đặc biệt trong mùa khô.
Do vậy cần có các nguồn nước khác sử dụng kết hợp, bổ sung.
1.2.1.2. Nước mặt
-Theo Cục bảo vệ môi trường (2005) : Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới
có lượng mưa lớn nên nguồn nước mặt rất phong phú. Do cấu trúc địa chất, địa hình
ở 3/4 diện tích toàn lãnh thổ là đồi núi đã tạo nên mạng lưới sông suối dày đặc với
mật độ sông suối tính theo những dòng chảy thường xuyên là 0,60km/km
2

chất thủy văn theo (Bảng 1.2 dưới đây).
Bảng 1.1. Trữ lượng động thiên nhiên nước ngầm
Miền địa chất, thủy văn
Trữ lượng động
thiên nhiên (m
3
/s)
Tỷ lệ so với trữ lượng thiên
nhiên toàn lãnh thổ (%)
Đông Bắc Bộ (I)
Tây Bắc Bộ (II)
Đồng bằng Bắc Bộ (III)
Bắc Trung Bộ (IV)
Nam Trung Bộ (V)
Đồng bằng Nam Bộ (VI)
238,700
241,827
88,865
466,993
318,850
158,250
16

16

6

31

21

2÷20
175
2 ÷ 3
35
2 ÷ 20
12.942
2,5
4.690
2÷20
3.147
2 ÷20
20.753
2 ÷ 20
6.182
Tây Bắc Bộ
2÷7
506
2 ÷ 7
590
2 ÷ 10
5080
2 ÷ 20
6700
2÷20
13.940
2÷10
12.382
2 ÷ 10
3.300
Đồng bằng Bắc

8.300

2 ÷ 20
22.165
Đồng bằng
Nam Bộ
0,05÷0,005
54.000

(Nguồn: Cục quản lý Tài nguyên Nước, 2000)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

- Về chất lượng nước với những công trình khai thác nước với chiều sâu
tương đối lớn có thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt không cần phải xử lý. Trừ
những vùng nước ngầm bị nhiễm mặn không đáp ứng nhu cầu cho mục đích ăn
uống, còn lại các thành phần hóa học khác phần lớn tương đối phù hợp với cơ thể
con người. Nhiều nơi trong nước ngầm, hàm lượng sắt thường lớn hơn giới hạn cho
phép (Fe > 0,5 mg/1) nên cần xử lý nước trước khi sử dụng.
1.2.1.4. Đánh giá về ảnh hưởng của nguồn nước đến việc cấp nước sạch
- Theo Cục bảo vệ môi trường (2005) : Lượng mưa hàng năm của Việt Nam
thuộc loại tương đối lớn (1.800mm - 2.000mm) với chất lượng nước tốt để phục vụ
cho cấp nước sinh hoạt. Song do phân bố không đều theo không gian và thời gian.
Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 chiếm từ 70% đến 80%, mùa kiệt từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20% - 30%. Do vậy, cần có các giải
pháp thu hứng nước mưa, xây dựng các công trình thủy lợi (Hồ chứa, đập dâng )
để kết hợp việc thu giữ nước cấp nước sinh hoạt kết hợp tưới tiêu vào mùa khô.
- Lượng mưa cao tạo thuận lợi cho mạng sông suối phát triển với mật độ cao
(thay đổi từ 0,15km/km
2

+ Hàm lượng sắt và mangan cao nên cần phải xử lý trước khi sử dụng. Hiện
tượng này phổ biến ở hầu hết 2 đồng bằng (sông Hồng và sông Cửu Long) tuy
nhiên các công nghệ xử lý tương đối đơn giản, không quá tốn kém.
+ Ảnh hưởng của việc sử dụng ngày càng gia tăng phân bón hóa học và
thuốc trừ sâu.
Kết luận chung: Tài nguyên nước của Việt Nam có khả năng thỏa mãn nhu
cầu ăn uống và sinh hoạt của người dân nông thôn nói riêng và toàn quốc nói chung
nếu được xử lý tốt. Tuy nhiên do sự phân bố không đồng đều theo không gian và
thời gian cũng như những vấn đề về chất lượng nước nên cần phải khai thác sử
dụng một cách hợp lý để đạt hiệu quả về kinh tế - kỹ thuật và không làm suy kiệt và
ô nhiễm nguồn nước.
1.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến việc cấp nước sạch
1.2.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
- Nước sinh hoạt là một trong những nhu cầu cơ bản thiết yếu trong đời sống
hàng ngày của mọi người và được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Nó được xem
là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người. Với ý
nghĩa quan trọng đó, ngay từ những năm 1960, Đảng và Chính phủ đã phát động
phong trào toàn dân tham gia xây dựng 3 công trình “Giếng nước, nhà tiêu, nhà
tắm” do người dân tự bỏ kinh phí để đầu tư với các loại hình công trình đơn giản.
- Theo WB (2012): Bắt đầu từ năm 1982, chương trình do UNICEF tài trợ
triển khai có tính thử nghiệm về mô hình cấp nước đối với hộ dân ở một số vùng
kinh tế mới tại 3 tỉnh Minh Hải (Bạc Liêu và Cà Mau), Kiên Giang và Long An.
Sau đó, dự án phát triển dần và mở rộng trên phạm vi cả nước vào năm 1987. Từ đó
cho đến năm 1994, Chương trình nước sạch nông thôn chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

nhận viện trợ của UNICEF để xây dựng các công trình cấp nước với mục tiêu là
giúp đỡ người nghèo, phụ nữ và trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa và vùng miền núi
khó khăn. Các loại hình công trình cấp nước giai đoạn này nhìn chung có qui mô


dân cư nông thôn. Năm 2014, tốc độ tăng tổng giá trị sản lượng toàn ngành đạt
3,6% , tốc độ tăng GDP toàn ngành ước đạt 3,3% Lương thực có hạt bình quân đầu
người từ 513 kg năm 2010 lên 546 kg năm 2012 . Kinh tế nông thôn phát triển đa
dạng hơn, nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn gắn với công nghiệp
chế biến; các làng nghề dần được khôi phục và phát triển; sản xuất trang trại phát
triển nhanh. Đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện do kết quả của
một số Chương trình dự án lớn được triển khai. Trong đó có Chương trình MTQG
cấp Nước sạch và VSMTNT.
- Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa vững chắc. Năm 2001,
tăng 6,8% chưa đạt được mức tăng trưởng của những năm giữa thập kỷ 90 vì những
yếu tố không thuận lợi do thiên tai gây ra. Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu
kinh tế còn chậm, lao động thiếu việc làm và không có tay nghề cao, năng suất lao
động thấp, một số sản phẩm tiêu thụ còn khó khăn. Môi trường bị xuống cấp, tài
nguyên bị khai thác quá mức và cạn kiệt; điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn,
vùng miền núi còn thấp kém. Phần lớn thu nhập của người dân vùng nông thôn thấp
do điều kiện nguồn lực hạn chế (đất đai, lao động, vốn ) nhất là vùng thường
xuyên bị thiên tai, vùng miền núi vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói
nghèo còn cao (năm 2012 là 9,6% số hộ trên toàn quốc).
- Thiếu các cơ chế chính sách nhằm thu hút được sự đầu tư từ các thành phần
kinh tế đặc biệt là khu vực tư nhân.
1.2.2.3. Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội vùng nông thôn ảnh hưởng đến nhiệm vụ
giải quyết nước sạch
Theo Báo cáo đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác, vận hành và bảo dưỡng
các công trình CNTTNT của Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT:
- Giải quyết nước sạch và ở vùng nông thôn Việt Nam có vị trí đặc biệt quan
trọng vì đây là nhu cầu cơ bản thiết yếu của mọi người của tất cả các quốc gia trên
thế giới. Đặc biệt đối với Việt Nam nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện
Chiến lược về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đồng thời góp phần quan trọng
vào công cuộc CNH- HĐH nông thôn Việt Nam. Điều này đã được thể hiện tại các

nghiệp 6%.
1.3.1.1. Cá nhân quản lý, vận hành
Mô hình cá nhân quản lý là mô hình công trình cấp nước tập trung được cá
nhân đầu tư và quản lý vận hành hoặc do nhà nước đầu tư sau đó giao cá nhân
quản lý vận hành theo phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao trực tiếp nhưng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

không (hoặc chưa) thành lập doanh nghiệp. Mô hình cá nhân quản lý thích hợp
với các hệ thống CNTT có quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản. Công suất khai thác
khá triệt để, tiền nước thu theo quy định cũng ít thất thoát, công tác vận hành bảo
dưỡng được quan tâm, thái độ phục vụ và quan hệ khách hàng tốt. Hiện mô hình
này bị hạn chế do cơ chế tài chính chưa đảm bảo, cụ thể là giá nước chưa được
tính đúng tính đủ các chi phí hợp lý, trong khi chính sách cấp bù theo quy định
lại không được thực hiện.
1.3.1.2. Hợp tác xã quản lý, vận hành
Mô hình Hợp tác xã quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung là mô
hình của những người cùng có nhiệm vụ và lợi ích trong hệ thống cấp nước thành
lập với sự hỗ trợ của chính quyền xã, hoạt động theo Luật Hợp tác xã. Mô hình này
khá phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền Trung, các khu vực khác không
nhiều. Mô hình HTX phù hợp với công trình cấp nước quy mô nhỏ, HTX có thể
thực hiện nhiều hoạt động kinh tế khác nhau như điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, thu
gom rác thải, vệ sinh, kinh doanh vật tư, nông sản, hàng hóa để có thể hỗ trợ nhau
trong các hoạt động.
1.3.1.3. Uỷ ban nhân dân xã quản lý, vận hành
Mô hình này được hình thành trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh giao
công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đã đầu tư cho địa phương quản lý, vận
hành. Theo đó, UBND xã thành lập ban quản lý công trình CNTT giúp UBND xã
quản lý trực tiếp các CTCNTT trong xã. Mô hình UBND xã quản lý đang tồn tại ở
khắp các vùng trên cả nước. Các công trình do mô hình UBND xã quản lý trực tiếp

đó chất lượng dịch vụ như thời gian cấp nước, áp lực nước, chất lượng nước, công
tác duy tu sửa chữa…đều được nâng lên.
1.3.1.6. Doanh nghiệp quản lý, vận hành
Mô hình doanh nghiệp quản lý công trình CNTTNT hiện nay khá phong phú
về chủng loại, quy mô và cơ chế quản lý. Đó là công ty tư nhân (bao gồm công ty tư
nhân bỏ vốn đầu tư và quản lý vận hành, công ty tư nhân nhận quản lý vận hành
công trình có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước), công ty TNHH một thành viên,
công ty nhà nước, công ty cổ phần.
Mô hình doanh nghiệp là mô hình có tính chuyên nghiệp cao, phù hợp với
chủ trương xã hội hoá hoạt động cấp nước, có phương thức hoạt động mang tính
dịch vụ hàng hoá, tạo sự bình đẳng đối với đơn vị dịch vụ và khách hàng.
1.3.2 . Kết quả thực hiện cấp nước sạch nông thôn ở Việt Nam
- Chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn Việt Nam đến năm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

2020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 104/2000/TTg ngày 20/8/2000
với các mục tiêu:
+ Đến năm 2010 đảm bảo 80% dân nông thôn được cấp nước sạch sinh họat
với tiêu chuẩn 60l/người/ngày.
+ Đến năm 2020 đảm bảo hầu hết người dân nông thôn được đảm bảo việc
cung cấp nước sạch đạt Quy chuẩn Quốc gia.
- Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch & vệ sinh môi trường nông
thôn đã đạt được một số kết quả đáng kể, góp phần cải thiện điều kiện sống của
người dân và làm thay đổi bộ mặt của vùng nông thôn Việt Nam.
Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch & vệ
sinh môi trường nông thôn năm 2014 có: 84% dân số nông thôn được sử dung nước sinh
hoạt hợp vệ sinh, trong đó có khoảng 32% từ các công trình cấp nước tập trung, còn lại là
các công trình nhỏ lẻ; 43% dân số nông thôn sử dụng nước đạt QC 02/2009/BYT.
1.3.3. Tình hình quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung


1.716

23,6

3.300

45,2

1.260

17,3

1.009

13,9

2
Đồng bằng
Sông Hồng
715

396

55,4

194

27,1


25,4

439

35,0

349

27,8

149

11,9

5 Tây Nguyên 1.201

364

30,3

337

28,1

155

12,9

345



39,3

183

4,4

65

1,6

Tổng cộng 16.220

5.399

33,3

6,588

40,6

2.497

15,4

1.736

10,7

( Nguồn: Trung tâm Quốc gia Nước sạch & VSMTNT 2014)

- Các công trình cấp nước tập trung bị phân cấp trong quản lý đầu tư nhưng
chưa chú trọng đến năng lực, chuyên môn của chủ đầu tư, cán bộ, đặc biệt là ở cấp
huyện, xã.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status